Thứ hai 25/05/2026 21:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về vấn đề bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả nghiên cứu thực trạng quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, qua đó nhận diện những rào cản, thách thức; lý giải nguyên nhân, hạn chế và tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam.

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả nghiên cứu thực trạng quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, qua đó nhận diện những rào cản, thách thức; lý giải nguyên nhân, hạn chế và tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam.

Abstract: In this paper, the author studies the real situation of the women's rights to take part in politics in the current period, thereby identifies barriers, challenges; interprets causes, limitations and finds proper solutions to improve effectiveness of ensuring women's right to take part in politics in Vietnam.

1. Quyền tham chính của phụ nữ và bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ

Đối với khái niệm quyền tham chính của phụ nữ, tại Điều 7 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) đã xác định là quyền tham gia vào đời sống chính trị, xã hội của phụ nữ. Nội dung Điều 7 cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm quyền tham chính cho phụ nữ cụ thể là các quyền: Quyền tham gia bầu cử, trưng cầu dân ý và tham gia ứng cử vào các cơ quan dân cử; quyền tham gia xây dựng, thực hiện các chính sách, pháp luật và giữ chức vụ trong các cơ quan nhà nước ở mọi cấp; quyền tham gia các tổ chức xã hội.

Trên cơ sở đó, xuất phát từ góc độ bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ, có thể rút ra định nghĩa quyền tham chính của phụ nữ như sau: Quyền tham chính của phụ nữ là một trong những quyền con người quan trọng nhất của phụ nữ được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ; nó xác lập năng lực pháp lý bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong việc tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội...

Đối với vấn đề bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ, nếu xét về góc độ ngôn ngữ, theo Đại từ điển tiếng Việt thì thuật ngữ “bảo đảm” được hiểu là “tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được, hoặc thực hiện được hoặc có được những gì cần thiết”[1]. Xét ở góc độ pháp lý, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Hiến pháp năm 2013 thì “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”.

Như vậy, nếu xuất phát từ cách định nghĩa về khái niệm “bảo đảm” nêu trên có thể hiểu: “Bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện, các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý và tổ chức thực hiện để người phụ nữ được thụ hưởng và tiếp cận các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong lĩnh vực chính trị”.

2. Thực trạng bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

2.1. Về phương diện chính trị

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo công tác cán bộ nữ, chăm lo đến vấn đề phát triển lực lượng cán bộ nữ thông qua việc ban hành những nghị quyết, chỉ thị làm cơ sở cho việc ban hành pháp luật, chính sách liên quan đến công tác cán bộ nữ. Đây là nền tảng quan trọng để phụ nữ ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận quyền tham chính. Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW về công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước với quan điểm: “Xây dựng và phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng”. Từ đó, Nghị quyết đưa ra chủ trương: “Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy Đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”[2]. Nhìn chung, tỷ lệ đảng viên nữ tham gia cấp ủy Đảng trong những năm qua đã có nhiều thay đổi tích cực nhưng trong tương quan với nam giới thì thực tế vẫn còn thấp. Với mức tham gia cấp ủy Đảng còn hạn chế, thực sự nữ đảng viên chưa đại diện được lượng nữ đông đảo trong xã hội. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt cán bộ nữ trong một số lĩnh vực quan trọng sẽ cản trở đến việc hoạch định và thực thi chính sách liên quan đến bình đẳng giới.

2.2. Về phương diện kinh tế

Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã xác định phải “nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp và chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện và cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội”. Trên cơ sở chủ trương của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm (2016 - 2020), trong đó có mục riêng “thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ”. Đồng thời, tổ chức triển khai các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (đặc biệt là các chính sách đối với vùng nông thôn, dân tộc, miền núi...) tạo điều kiện kinh tế quan trọng để bảo đảm quyền cho phụ nữ trên phương diện chính trị.

2.3. Về phương diện văn hóa

Để nâng cao ý thức cộng đồng xã hội về tầm quan trọng của quyền tham chính của phụ nữ đối với xã hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước ở địa phương phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp thường xuyên tổ chức tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và vai trò của phụ nữ trong đời sống chính trị tại địa phương với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Bên cạnh đó, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ còn ban hành nhiều quy định hướng dẫn, giao chỉ tiêu nữ cho từng địa phương tuyên truyền, vận động để quần chúng hiểu và bầu đại biểu nữ vào các cơ quan Đảng, Quốc hội và chính quyền các cấp... Điều này đã mang lại một số kết quả đáng ghi nhận, ngoài việc tham gia vào việc bầu cử, ứng cử vào các cơ quan nhà nước thì trong giai đoạn đoạn 2010 - 2015, có hàng triệu phụ nữ tham gia đóng góp ý kiến cho các dự thảo văn bản luật.

2.4. Về phương diện pháp lý

Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý khá hoàn thiện về vấn đề bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ. Các bản Hiến pháp của Vệt Nam đều ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị. Thể chế hóa quy định trong Hiến pháp, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2006 xác định: “Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức”. Đồng thời, khoản 5 Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2006 đã quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: “Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới”; và “Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới”. Những nội dung này đều đã được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật - là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ vào chính quyền các cấp, đồng thời thể hiện quyết tâm nội luật hóa nhiều công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia; thể hiện cam kết ủng hộ phụ nữ tham chính và nỗ lực giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị của Đảng và Nhà nước ta.

Chính nhờ những nỗ lực trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như những thiết chế bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ mà trong những năm qua, quyền bầu cử của phụ nữ Việt Nam đã được thực hiện tương đối đầy đủ. Với số lượng nữ đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ năm 2016 - 2021 chiếm 26,72% (133 người), tăng so với hai khóa trước đó, cao hơn mức trung bình của thế giới (23,6%) nhưng nhìn chung tỷ lệ này vẫn chưa đạt được mức 35% như mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra.

Xét ở góc độ thực thi pháp luật, việc tổ chức thực hiện các quy phạm pháp luật, các chương trình hành động ở địa phương còn mang tính hình thức; chưa có những chế tài cụ thể gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với kết quả thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Sự phối hợp giữa các ngành với Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ trong việc triển khai thực hiện bình đẳng giới chưa chặt chẽ và còn thiếu đồng bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ còn nhiều hạn chế. Điều này phần nào ảnh hưởng đến mức độ tham gia của phụ nữ vào các cơ quan chính quyền địa phương.

3. Những rào cản và thách thức đối với việc bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ Việt Nam

3.1. Rào cản từ khung chính sách, pháp luật

Mặc dù, Việt Nam đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật về vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị nhưng vẫn tồn tại nhiều quy định còn chưa phù hợp dẫn tới những hạn chế về điều kiện và cơ hội tham chính của phụ nữ như: Vấn đề chính sách nghỉ sinh, các dịch vụ công hỗ trợ cho phụ nữ làm việc.

Chính sách nghỉ sinh của Việt Nam hiện nay là 06 tháng với người mẹ. Điều này đặt ra những nhu cầu xã hội lớn từ hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em ban ngày khi người phụ nữ quay trở lại làm việc. Tuy nhiên, hầu hết các cơ quan nhà nước hiện nay không có nhà trẻ hay lớp mẫu giáo cho con cán bộ ngay tại trụ sở của mình khiến cho nhiều phụ nữ bắt buộc phải chọn lựa ưu tiên là gia đình và con cái trước khi chọn lựa các cơ hội đào tạo hay thăng tiến. Điều này đặt ra những thách thức rất lớn cho phụ nữ có con nhỏ muốn có thăng tiến trong công việc.

3.2. Rào cản về chất lượng nguồn nhân lực

Trong thời gian qua, mặc dù Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc nâng cao giáo dục cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái các vùng sâu, vùng xa nhưng thực tế việc tiếp cận các cơ hội, các chương trình giáo dục của trẻ em gái còn nhiều hạn chế: Tỷ lệ trẻ em gái đến trường rất thấp; tỷ lệ biết đọc, biết viết không cao; càng học cao trẻ em gái càng bỏ học nhiều hơn so với trẻ em trai... Điều này là rào cản rất lớn cho những người phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa thực hiện quyền tham chính, bởi họ không đáp ứng được các tiêu chuẩn cứng về trình độ chuyên môn với các vị trí quản lý và lãnh đạo. Nguyên nhân một phần là do sự tác động của các tập quán hôn nhân lạc hậu, tư tưởng định kiến giới ăn sâu trong tiềm thức người dân.

Đối với các bậc học cao hơn thì theo yêu cầu của hầu hết các chương trình và học bổng đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ tại các cơ sở nước ngoài có quy định: Đối với ứng viên học trình độ thạc sỹ là dưới 35 tuổi và các ứng viên có trình độ tiến sỹ là dưới 40 tuổi; đồng thời phải có ít nhất 02 năm kinh nghiệm mới được dự tuyển. Quy định về độ tuổi như vậy có thể không ảnh hưởng đến nam giới, nhưng với cán bộ nữ lại là một bất lợi vì đa số cán bộ nữ ở độ tuổi này phải chịu áp lực kết hôn và sinh con nên sẽ rất khó có cơ hội tham gia. Không chỉ ở công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, ngay cả ở khâu quy hoạch, cán bộ nữ cũng gặp phải những bất lợi tương tự do thời điểm được quy hoạch rơi vào giai đoạn lập gia đình và sinh con.

3.3. Rào cản từ những định kiến về văn hóa - xã hội

Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên định kiến giới vẫn ăn sâu vào nếp nghĩ, hành vi của mỗi con người trong xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa - nơi mà nền kinh tế phát triển chậm, tư tưởng tiến bộ cũng như khoa học công nghệ khó tiếp cận. Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tham chính và năng lực lãnh đạo của phụ nữ. Các quan niệm “trọng nam khinh nữ”, “nam trưởng, nữ phó” và quan điểm cho rằng, phụ nữ yếu đuối nên thiếu kiên quyết trong việc ra quyết định đã khiến phụ nữ ít được ủng hộ vào các vị trí lãnh đạo. Bên cạnh đó, quan niệm truyền thống về vai trò của giới cho rằng, đàn ông lo việc đại sự, phụ nữ lo việc tiểu sự, đã ủng hộ nam giới trong lĩnh vực nghề nghiệp và hướng đến làm lãnh đạo; còn đối với nữ giới lại gắn họ với “hạnh phúc gia đình”, phẩm chất của người nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình... Chính những định kiến về năng lực của phụ nữ và các quan niệm rập khuôn về hình ảnh lãnh đạo quản lý đang cản trở nỗ lực phấn đấu của người phụ nữ.

3.4. Rào cản từ gia đình

Trong gia đình, việc phân công lao động trên cơ sở giới vẫn còn duy trì, mặc dù đã có sự chia sẻ cân bằng hơn giữa hai giới. Tuy nhiên, trên thực tế, công việc gia đình vẫn là gánh nặng đặt trên vai người phụ nữ. Hiện nay, để bảo đảm điều kiện kinh tế đầy đủ cho gia đình, hầu như người phụ nữ không chỉ gánh vác hầu hết mọi công việc gia đình, chăm sóc con cái, mà đồng thời còn là lực lượng lao động tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình. Điều này dẫn đến quỹ thời gian của người phụ nữ bị phân tán nhiều vào những công việc như: Chăm sóc con cái, cha mẹ già, nội trợ, cúng giỗ, việc tộc họ… Họ không còn thời gian đầu tư cho việc tham gia vào công tác quản lý.

3.5. Rào cản về đặc điểm cá nhân

Đặc điểm cá nhân của phụ nữ cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia chính trị. Trong phong cách lãnh đạo, một vài điểm khác biệt về giới giữa nam và nữ đã được chỉ ra như: Nam thường độc lập, mạnh mẽ, quyết đoán, khả năng thu thập thông tin, phân tích xử lý, chịu áp lực tốt hơn nữ giới; ngược lại, nữ thực hiện công việc rất cụ thể và biết lắng nghe. Tính cách này vừa mang tính thúc đẩy vừa mang tính rào cản đối với cơ hội tham gia công tác lãnh đạo của phụ nữ. Một mặt, tính cách mềm dẻo, nhẹ nhàng, chăm chỉ, kiên trì, chịu khó, phụ nữ thường đưa ra các quyết định chắc chắn, thận trọng nên ít gây ra hậu quả thiệt hại. Mặt khác, phụ nữ với tính cách hay tự ti, an phận, lại hay thận trọng, khả năng chịu áp lực kém hơn sẽ dẫn đến sự thiếu quyết đoán, thiếu bứt phá, chưa chủ động vượt khó vươn lên nên được cho là hạn chế khi làm lãnh đạo, quản lý.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, cần hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến việc bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ một cách thực chất và hiệu quả. Cụ thể:

(i) Cần đưa ra chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách của từng cơ quan nhà nước và coi đó là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

(ii) Rà soát và điều chỉnh quy định tuổi quy hoạch, bổ nhiệm vào quản lý nhà nước, tuổi nghỉ hưu một cách linh hoạt phù hợp với từng nhóm ngành nghề, lĩnh vực hoạt động phù hợp với tinh thần của Công ước CEDAW.

(iii) Cần bổ sung các chế tài cụ thể để xử lý nghiêm minh và kịp thời đối với các chủ thể không thực thi hoặc thực thi việc bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ không hiệu quả, nhất là đối với công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và bổ nhiệm cán bộ nữ trong hệ thống chính trị.

(iv) Thường xuyên tổ chức tổng kết, đánh giá quá trình triển khai và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng giới.

Thứ hai, tăng cường cam kết và phát huy trách nhiệm của Đảng, các cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành trong việc bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ. Cụ thể:

(i) Đảng và Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ nữ cả về vật chất cũng như tinh thần để họ có đủ điều kiện vượt lên chính mình, vươn đến vị trí cao trong lĩnh vực tham chính.

(ii) Tăng cường vai trò tham mưu, thực thi và giám sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng như các tổ chức xã hội khác trong việc bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ.

Thứ ba, chú trọng công tác truyền thông, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền vận động về bình đẳng giới hướng đến xóa bỏ định kiến giới, tập quán xã hội lạc hậu ăn sâu trong tâm trí người Việt gây bất lợi cho phụ nữ tham chính. Qua đó góp phần làm thay đổi tư tưởng của người đàn ông trong gia đình theo hướng tích cực cũng như phát huy vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc chia sẻ và hỗ trợ phụ nữ vượt qua áp lực trong gia đình và tại nơi công sở.

Thứ tư, bản thân người phụ nữ cũng cần tiếp tục không ngừng nỗ lực vươn lên, tránh tâm lý an phận, ngại phấn đấu, mặc cảm, tự ti; cố gắng vượt qua mọi thành kiến và thử thách, đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi và khẳng định vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực quản lý.

Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế (đa phương, song phương, phi Chính phủ) để có cơ hội học tập kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia có chỉ số bình đẳng giới trong tham chính cao (Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan…), từ đó có thể vận dụng sáng tạo và phù hợp vào bối cảnh kinh tế - xã hội của nước ta.

ThS. Mai Thị Diệu Thúy

Trường Đại học Luật, Đại học Huế





[1]. Nguyễn Như Ý (2012), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 463.

[2]. Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: