Thứ hai 25/05/2026 09:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm chủ quyền nhân dân thông qua cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam

Bài viết này phân tích và đưa ra một số giải pháp về đảm bảo chủ quyền nhân dân thông qua hoạt động bảo vệ Hiến pháp.


1. Bảo đảm chủ quyền nhân dân - mục tiêu cơ bản của hoạt động bảo vệ Hiến pháp

Xét về bản chất, quyền lực nhà nước là quyền lực do nhân dân ủy thác cho Nhà nước. Bởi vậy, trong hầu hết các thể chế dân chủ trên thế giới hiện nay, Hiến pháp đều khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đồng thời, quan niệm về Hiến pháp theo lý thuyết Luật Hiến pháp hiện đại đều cho rằng, Hiến pháp không chỉ là đạo luật tối cao của Nhà nước mà là văn bản của nhân dân, thể hiện chủ quyền tối cao của nhân dân. Thông qua việc lập ra Hiến pháp, nhân dân xác định phạm vi quyền lực trao cho Nhà nước. C.Mác đã khẳng định: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền nhân dân”[1]. Trong cuốn Luật Hiến pháp và chính trị học, GS. Nguyễn Văn Bông cho rằng, quyền lập hiến là quyền nguyên thủy vì thể hiện một cách toàn diện nhất chủ quyền quốc gia, vì quyền lập hiến chung quy là quốc gia tự ấn định cho mình quy tắc tổ chức và điều hành[2].

Như vậy, có thể khẳng định, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước, đồng thời, đó là một văn bản của nhân dân, thể hiện rõ nhất chủ quyền tối cao của nhân dân; ý chí, lợi ích chung của nhân dân được thể hiện trong toàn bộ nội dung của Hiến pháp.

Hoạt động bảo vệ Hiến pháp có ý nghĩa chính trị pháp lý đặc biệt, bởi lẽ, Hiến pháp là bản văn xác định chế độ chính trị của quốc gia, chứa đựng quy phạm điều chỉnh những quan hệ xã hội chủ đạo và quan trọng nhất của quốc gia, đồng thời, Hiến pháp ghi nhận và thể hiện những giá trị xã hội tốt đẹp nhất được toàn xã hội hướng tới. Như vậy, bảo vệ Hiến pháp chính là bảo vệ chủ quyền của nhân dân, bảo vệ nền tảng pháp lý của Nhà nước và những giá trị trường tồn, cao quý nhất trong xã hội, thông qua đó bảo đảm sự phát triển và thịnh vượng của đất nước. Bảo vệ Hiến pháp được hiểu là tổng hợp các hoạt động được tiến hành bởi các cơ quan mà Hiến pháp quy định nhiệm vụ, quyền hạn nhằm bảo đảm sự tôn trọng và thi hành Hiến pháp, ngăn ngừa và xử lý mọi hành vi vi phạm Hiến pháp. Thông thường, nội dung bảo vệ Hiến pháp bao gồm: Giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc gia nhập; giải thích Hiến pháp; giải quyết khiếu kiện vi hiến (trong đó có cả khiếu kiện liên quan đến hành vi vi phạm quyền và tự do hiến định của công dân); xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân… Các nội dung nêu trên, ở những mức độ khác nhau, một cách trực tiếp hay gián tiếp, nội dung nào cũng nhằm hướng tới bảo đảm chủ quyền nhân dân đã được quy định trong Hiến pháp. Nói cách khác, bảo đảm chủ quyền nhân dân vừa là nội dung cơ bản, thiết yếu nhất, vừa là mục tiêu bao trùm của hoạt động bảo vệ Hiến pháp.

Cho đến nay, việc thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp, mô hình, phương thức bảo vệ Hiến pháp ở các quốc gia trên thế giới rất đa dạng và phong phú. Có quốc gia thiết lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp chuyên trách (Tòa án Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp…); có quốc gia theo mô hình bảo hiến phi tập trung (nhiều Tòa án có chức năng bảo vệ Hiến pháp); có quốc gia bảo vệ Hiến pháp thông qua con đường tư pháp; có quốc gia bảo vệ Hiến pháp chủ yếu bằng các thiết chế chính trị... Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia, nhiệm vụ bảo hiến luôn luôn chứa đựng nội dung xem xét và xử lý những văn bản và hành vi vi phạm Hiến pháp, vi phạm chủ quyền nhân dân.

2. Quy định về chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp và việc bảo đảm chủ quyền nhân dân thông qua cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam

2.1. Quy định về chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp hiện hành ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Hiến pháp hiện hành đã khẳng định chủ quyền nhân dân và một số phương thức để nhân dân thực hiện quyền lực của mình. Lời nói đầu Hiến pháp năm 2013 viết: “Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Điều 2 và Điều 3 Hiến pháp quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...” và “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân...”. Về phương thức thực hiện quyền lực của nhân dân, Điều 6 Hiến pháp quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 cũng quy định một số quyền cụ thể của công dân Việt Nam. Ví dụ: Quyền bầu cử, ứng cử (Điều 27); Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); Quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29); Quyền khiến nại, tố cáo (Điều 30); Quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 7); Quyền giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước (khoản 2 Điều 8)... Đây là các quyền dân chủ về chính trị được thực hiện trực tiếp bởi công dân Việt Nam.

Ở mức độ nhất định, Hiến pháp năm 2013 đã đề cập đến việc bảo vệ chủ quyền nhân dân thông qua hoạt động bảo vệ Hiến pháp. Khoản 2 Điều 119 Hiến pháp quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”. Hiến pháp cũng quy định thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc giám sát việc thi hành Hiến pháp và giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật (khoản 10 Điều 70; khoản 4 Điều 74; khoản 7 Điều 74); quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc đình chỉ, bãi bỏ các văn bản trái Hiến pháp (khoản 4 Điều 98)...

Về quyền lập hiến và sửa đổi Hiến pháp, Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội thực hiện quyền lập hiến (Điều 69); Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp (khoản 1 Điều 70); trường hợp làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp... phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (khoản 1 Điều 85). Điều 120 Hiến pháp quy định trình tự sửa đổi Hiến pháp, thẩm quyền quyết định về Hiến pháp, trong đó có quy định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.

Từ những quy định nêu trên, có thể thấy, việc thể hiện về chủ quyền nhân dân, quyền lập hiến, quy trình sửa đổi Hiến pháp trong Hiến pháp năm 2013 đã có bước tiến bộ vượt bậc so với Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành ở Việt Nam còn tồn tại một số bất cập sau đây:

Một là, có nhiều thiết chế (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ...) có thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp thông qua hoạt động xem xét việc thi hành Hiến pháp, xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, giải thích Hiến pháp. Như vậy, thiết chế mang tính phi tập trung và không chuyên trách, thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều cơ quan khác nhau thực hiện nhưng chưa được phân định rõ ràng.

Hai là, một số nội dung bảo vệ Hiến pháp đã được Hiến pháp quy định, nhưng cơ cở pháp lý để thực hiện những nội dung đó chưa đầy đủ, chưa cụ thể, còn chứa đựng mâu thuẫn, chồng chéo hoặc khuyết thiếu, bất cập. Ví dụ: Thiếu quy định về xem xét tính hợp hiến của văn bản đã có hiệu lực do Quốc hội ban hành; quy định về giải thích Hiến pháp còn sơ sài. Quy trình, thủ tục giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật và hành vi của cơ quan, cá nhân Hiến pháp trao quyền chưa cụ thể. Chẳng hạn, pháp luật chưa xác định rõ cách giải quyết khi có ý kiến khác nhau giữa Ủy ban Pháp luật của Quốc hội với cơ quan trình dự án về tính hợp hiến của dự án luật, nghị quyết, pháp lệnh hoặc ý kiến khác nhau giữa Bộ Tư pháp với cơ quan chủ trì soạn thảo về tính hợp hiến của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình…

Ba là, cho đến nay, Hiến pháp chưa xác định rõ hiệu lực trực tiếp của một số quy định trong Hiến pháp, nên chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc phán quyết về hành vi vi hiến không hành động. Các phương thức bảo vệ Hiến pháp còn dàn trải, chủ yếu là các biện pháp mang tính chính trị, chỉ có giá trị tư vấn, khuyến nghị, hiệu lực pháp lý không cao.

Vì vậy, tác giả đồng ý với nhận định của TS. Bùi Ngọc Sơn về cơ chế bảo vệ Hiến pháp của Việt Nam rằng: “Việt Nam vẫn chưa có một cơ quan chuyên kiểm tra tính hợp hiến của quyền lực nhà nước nói chung và quyền lập pháp của Quốc hội nói riêng, tức là chưa có một chế độ bảo hiến hoàn chỉnh”[3]. Nhận định này được đưa ra từ 2003, nhưng đến nay, khi Hiến pháp năm 2013 đã có hiệu lực được 06 năm vẫn hoàn toàn chính xác.

2.2. Một số hạn chế trong việc bảo đảm chủ quyền nhân dân thông qua hoạt động bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam

- Quốc hội đã giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật của các cơ quan nhà nước, yêu cầu các cơ quan ban hành văn bản triển khai thi hành Hiến pháp, luật đúng tiến độ. Tuy nhiên, hoạt động giám sát này chưa triệt để, hiệu quả, dẫn đến tình trạng nợ đọng văn bản khá phổ biến làm cho Hiến pháp và nhiều đạo luật chậm đi vào cuộc sống. “Theo kế hoạch 6 tháng đầu năm 2018, các bộ phải xây dựng, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền 151 văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh. Trong đó, có 60 văn bản đã có hiệu lực và 91 văn bản chưa có hiệu lực. Tuy nhiên, tính đến ngày 30/6, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành được 93/151 văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh. Trong đó, có 49/60 văn bản đã có hiệu lực. Cụ thể, có 28 nghị định, 4 quyết định, 13 thông tư, 4 thông tư liên tịch, đạt 81,67% kế hoạch. Như vậy, vẫn còn “nợ” 11 văn bản để hướng dẫn luật, pháp lệnh đã có hiệu lực thi hành”[4].

Đánh giá về hoạt động giám sát của Quốc hội, Báo cáo công tác của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII viết: “Hoạt động giám sát của Quốc hội vẫn còn không ít hạn chế, bất cập. Trong một số trường hợp, chưa có cơ chế xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan, quy trình xử lý và chế tài phù hợp; việc theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát chưa thực sự quyết liệt, không ít vụ việc chậm được giải quyết, gây bức xúc trong dư luận; việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của cử tri chưa đạt yêu cầu;… một số quy định của pháp luật về giám sát như việc cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chưa có điều kiện thực tế để thực hiện...”[5].

Thực tế cho thấy, Quốc hội chưa dành nhiều thời gian giám sát về tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật. Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuy đã chỉ ra một vài trường hợp văn bản vi hiến nhưng kết quả đó chưa phản ánh đúng thực tế về tính hợp hiến của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, có rất nhiều hành vi vi hiến dưới dạng không hành động của các cơ quan có thẩm quyền do Hiến pháp quy định chưa được Quốc hội phát hiện hoặc có thể đã phát hiện ra nhưng chưa có biện pháp xử lý một cách kịp thời và thấu đáo.

- Hoạt động giải thích Hiến pháp chưa được coi trọng đúng mức và thực hiện trong thực tế. Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa kịp thời giải thích các quy định còn có cách hiểu khác nhau, gây khó khăn, vướng mắc trong thi hành Hiến pháp. Chẳng hạn, giải thích để phân biệt “giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp” và “giám sát việc thi hành Hiến pháp” như thế nào? Giải thích về các “trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” cần hạn chế quyền con người, quyền công dân...

- Thời gian Quốc hội dành cho việc xem xét các báo cáo thi hành Hiến pháp còn ít trong khi lĩnh vực giám sát quá rộng cho nên nội dung giám sát chưa sâu sắc, toàn diện.

Thực trạng pháp luật và sự vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp như trên dẫn đến sự tồn tại một số văn bản trái Hiến pháp và hành vi vi hiến không hành động ở Việt Nam. Có thể nói, vi hiến dưới dạng không hành động ở Việt Nam rất khó kiểm soát. Nhiều quy định về các hình thức nhân dân thực hiện chủ quyền của mình trong Hiến pháp không được thực hiện trên thực tế hoặc được thực hiện một cách hình thức, chiếu lệ. Ví dụ: Quy định về trưng cầu ý dân, về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân... Nhiều quyền và tự do hiến định của công dân chưa được quy định cụ thể bằng luật. Ví dụ: Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử; quyền tự do lập hội; quyền biểu tình... Do vậy, đã làm hạn chế rất nhiều việc bảo đảm chủ quyền của nhân dân.

3. Một số giải pháp bảo đảm chủ quyền nhân dân thông qua hoạt động bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam

Một là, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về vai trò, bản chất của Hiến pháp, coi Hiến pháp là của nhân dân, thể hiện chủ quyền nhân dân và có hiệu lực trực tiếp

Đặc trưng quan trọng, đồng thời là nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, vì vậy, Hiến pháp phải là văn bản thể hiện chủ quyền tối cao của nhân dân, bảo đảm nhân dân là chủ thể xây dựng và quyết định nội dung của Hiến pháp.

Về hiệu lực thực tế của Hiến pháp, ở Việt Nam cho đến nay vẫn tồn tại nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ hoặc lỗi thời về vấn đề này. GS.TSKH. Đào Trí Úc viết: “Về mặt pháp lý, Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là văn bản chính trị - pháp lý có vị trí cao nhất trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tế, sự nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về hiệu lực áp dụng trực tiếp của Hiến pháp thì chưa phải đã có trong tư duy và hành động của công dân, của nhân viên nhà nước”[6].

Để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính cơ bản và nền tảng của một quốc gia, Hiến pháp thường chứa đựng những quy phạm mang tính khái quát cao, đó là các quy phạm nguyên tắc và các quy phạm định hướng mục tiêu. Tính chất và ý nghĩa của Hiến pháp được thể hiện trước hết ở những quy phạm nguyên tắc và quy phạm mục tiêu. Nhưng xét về số lượng, trong một bản Hiến pháp, các quy phạm mang tính quy tắc và các quy phạm định nghĩa lại nhiều hơn so với quy phạm nguyên tắc và quy phạm mục tiêu. Do vậy, “xử lý mức độ cần và đủ của các loại quy phạm là rất cần thiết để một mặt bảo đảm Hiến pháp là văn bản chính trị, pháp lý cơ bản nhất, khái quát nhất; mặt khác, không biến nó thành một bản cương lĩnh với những quy định mang tính tuyên ngôn mà vẫn là một đạo luật của Nhà nước”[7]. Những yêu cầu về bảo đảm chủ quyền nhân dân đòi hỏi Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước, văn bản thể hiện ý chí tối cao của nhân dân phải được áp dụng trực tiếp. Hiến pháp phải sử dụng một tỷ lệ phù hợp các loại quy phạm nguyên tắc, quy phạm mục tiêu, quy phạm định nghĩa và quy phạm quy tắc. “Việc sử dụng đúng mức các quy phạm nói trên của Hiến pháp còn được lý giải bởi nhu cầu áp dụng Hiến pháp và giải thích Hiến pháp. Đòi hỏi của nền dân chủ, mong muốn của dân chúng và nói chung là nguyên tắc pháp quyền đặt ra nhu cầu Hiến pháp cần phải được áp dụng trực tiếp. Chính vì vậy, các quy định của nó phải đáp ứng được yêu cầu cho việc áp dụng trực tiếp và bảo đảm để sự giải thích được chính xác”[8].

Hai là, ban hành luật thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp chuyên trách, độc lập

Khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013 quy định: “… Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”. Thể chế hóa quy định trên, Luật về bảo vệ Hiến pháp quy định tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp là Ủy ban Giám sát Hiến pháp.

Ủy ban Giám sát Hiến pháp là cơ quan do Quốc hội thành lập, có chức năng giám sát việc thi hành Hiến pháp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Hội đồng Bầu cử Quốc gia. Ủy ban Giám sát Hiến pháp sẽ có địa vị pháp lý gần giống Kiểm toán Nhà nước để có thể khách quan và tương đối độc lập giám sát việc thi hành Hiến pháp của các cơ quan nhà nước khác. Về tổ chức, Ủy ban Giám sát Hiến pháp cần được chia ra thành các tiểu ban để chuyên môn hóa và phân công công việc. Các hoạt động kiểm tra, giám sát, xem xét hành vi vi phạm Hiến pháp được thực hiện bởi các tiểu ban chuyên trách. Trên cơ sở báo cáo của các tiểu ban, Ủy ban họp toàn thể để xem xét thảo luận và biểu quyết để đưa ra quyết định cuối cùng. Các báo cáo của Ủy ban được thông qua khi đạt tỷ lệ biểu quyết theo đa số và sau đó được trình Quốc hội. Chủ tịch Ủy ban không tham gia biểu quyết nhưng có “tiếng nói” quyết định cuối cùng trong trường hợp số phiếu đồng ý và không đồng ý n gang nhau.

Ba là, xử lý trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ban hành văn bản hoặc thực hiện hành vi vi phạm, hạn chế các quyền hiến định của công dân

Tổ chức thực hiện các quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người, quyền công dân; áp dụng các chế tài phù hợp đối với các cơ quan, cá nhân có văn bản và hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân hoặc không thực hiện đầy đủ, kịp thời thẩm quyền ban hành văn bản về quyền con người, quyền công dân (đặc biệt là quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử, về trưngcầu ý dân, về giám sát của nhân dân...). Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của cá nhân công dân trong việc thực hiện quyền, tự do của mình hoặc không hoàn thành nghĩa vụ công dân; xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm hại an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội .

PGS.TS. Tào Thị Quyên

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh





[1]. C.Mác - Ăng-ghen Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1995, tr. 317.

[2]. Nguyễn Văn Bông, Luật Hiến pháp và chính trị học, Sài Gòn, 1967, tr. 51.

[3].http://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=3 (Nghiên cứu Lập pháp, số 12 (35), tháng 12/2003.)

[4].http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=407903.

[5]. Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội

https://dantri.com.vn/chinh-tri/toan-van-bao-cao-cong-tac-nhiem-ky-khoa-xiii-cua-quoc-hoi-20160323121207697.html.

[6]. Đào Trí Úc (2007), “Sự phát triển của chủ nghĩa lập hiến hiện đại ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7, tr.10.

[7]. Đào Trí Úc (2010), “Hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 9, tr.11.

[8]. Đào Trí Úc (2010), “Hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 9, tr.11-12.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: