Thứ bảy 27/06/2026 10:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án

Bài viết nghiên cứu về nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao và tạo thuận lợi cho việc thực hiện nguyên tắc đặc biệt quan trọng này.

1. Dẫn nhập

Hiện nay, để phù hợp và đáp ứng với nhu cầu của thực tiễn xã hội, việc xét xử giải quyết các tranh chấp dân sự tại Việt Nam đang dịch chuyển từ mô hình “tố tụng thẩm vấn” sang tiếp thu các yếu tố của mô hình “tố tụng tranh tụng”. Nói cách khác, việc xét xử các vụ án dân sự hiện nay sẽ phụ thuộc rất lớn vào kết quả tranh tụng giữa các bên đương sự tại Tòa án. Tuy nhiên, đối với phụ nữ, vốn được quan niệm là những người yếu thế và thường gặp rất nhiều khó khăn khi tham gia quá trình xét xử giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, trong quá trình tranh tụng, phụ nữ lại thường gặp phải những khó khăn, hạn chế về thể chất, sức khỏe, tâm lý… Trên thực tế, việc tranh tụng thường được các luật sư nam tham gia thực hiện nhiều hơn so với luật sư nữ. Nói như vậy không có nghĩa là phụ nữ không được quyền tham gia hay không được tôn trọng khi thực hiện các hoạt động tranh tụng tại Tòa án. Để bảo đảm sự công bằng, vô tư, khách quan, pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm sự bình đẳng giới khi tham gia hoạt động tranh tụng tại Tòa án. Thậm chí, điều này còn được ghi nhận là một trong những nguyên tắc rất quan trọng của tố tụng dân sự Việt Nam[1]. Từ đó, việc nghiên cứu về nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án càng trở nên cần thiết và rất quan trọng.

2. Nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là một nguyên tắc hiến định[2]. Hay có thể thấy rằng, vấn đề bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được xác định là một trong những nội dung rất quan trọng và được ghi nhận trong đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất tại Việt Nam - Hiến pháp năm 2013. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tại Việt Nam.

Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rất chặt chẽ, chi tiết về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử với mục đích không những bảo đảm cho các đương sự khi tham gia tranh tụng được tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng và khả năng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án mà còn có vai trò giữ gìn, bảo vệ kỷ cương, pháp chế xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Còn về mặt lịch sử, nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng đã từng được ghi nhận lần đầu trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) với tên gọi là nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự[3]. Về bản chất, tranh tụng tại phiên tòa được hiểu là việc các đương sự “… trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án”[4].

Nếu nhìn rộng hơn, việc bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng diễn ra không chỉ trong quá trình tranh tụng tại Tòa án mà trước đó đã được thể hiện ngay từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Pháp luật thời kỳ trước khi thống nhất đất nước ghi nhận: “Tố quyền là một quyền pháp định (pouvoir légal) để cho ta sử dụng khi cần đến”[5]. Vì mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật nên đều có quyền sử dụng tố quyền (quyền khởi kiện) khi cần đến. Còn hiện nay, quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền dân sự cơ bản, một quyền năng mà pháp luật thừa nhận đối với các chủ thể trong giao lưu dân sự[6] và đó còn là một trong những nguyên tắc rất quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[7]. Về nguyên tắc, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình[8]. Như vậy, tại Việt Nam, không phân biệt nữ giới hay nam giới, mọi cá nhân đều có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm. Thậm chí, quyền tự do khởi kiện hiện nay đã được mở rộng đến những cơ quan chuyên trách trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, phụ nữ, như: “Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình”[9]. Điều này cho thấy, sự bình đẳng trong xã hội và bình đẳng giới khi tham gia các hoạt động tố tụng dân sự tại Việt Nam ngày càng được pháp luật quan tâm.

Như vậy, quyền bình đẳng trong hoạt động tố tụng được bắt đầu ngay từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra bản án, quyết định. Bởi lẽ, sau khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự để giải quyết thì các đương sự đều được đối xử bình đẳng không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc. Nói cách khác, “trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội”[10]. Nhiệm vụ của Tòa án trong tố tụng dân sự là nhân danh quyền lực nhà nước để bảo đảm cho mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng một cách bình đẳng. Với tinh thần đó, khi đã trở thành đương sự trong tố tụng dân sự, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án, không phân biệt nam, nữ…[11]. Vì vậy, trong suốt quá trình tham gia tố tụng dân sự, chủ thể nào cũng có quyền hạn và nghĩa vụ để có thể thực hiện được việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Về nguyên tắc, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án[12]. Ví dụ, nếu nguyên đơn có quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện thì bị đơn lại có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng được quyền đưa ra yêu cầu độc lập để Tòa án phải xem xét, giải quyết trong cùng một vụ án dân sự. Hay trong suốt quá trình tham gia tố tụng, các đương sự đều có thể sửa đổi, bổ sung hoặc rút lại yêu cầu của họ. Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự[13].

Còn trong hoạt động tranh tụng, hiện nay, nguyên tắc bình đẳng giới thể hiện rất rõ ràng và cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này”[14]. Đây là cơ sở để các đương sự được tự do thực hiện quyền hạn tranh tụng của mình mà không bị hạn chế, trừ trường hợp việc tranh tụng của đương sự không thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Vì thế, về nguyên tắc, đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện hay người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Còn “nếu trong vụ án đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ sẽ tranh luận với nhau”[15]. Tuy nhiên, để có thể thuyết phục Hội đồng xét xử và chứng minh cho các yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp thì đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ và đồng thời, cũng phải có nghĩa vụ thông báo cho nhau về các loại tài liệu, chứng cứ đã giao nộp. Bởi lẽ, “khi các bên đưa việc tranh chấp của họ ra Tòa, thì Tòa án chỉ là người trọng tài, giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật chứ Tòa án không thể làm thay, chứng minh thay cho đương sự với những yêu cầu của họ”[16]. Đồng thời, khi tranh tụng, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác[17]. Không những vậy, để hoạt động tranh tụng diễn ra nghiêm minh, khách quan, công bằng và đúng pháp luật, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định”[18]. Việc hỏi của Tòa án trong quá trình xét xử chủ yếu nhằm làm sáng tỏ nội dung của vụ việc và Tòa án không được phép hạn chế thời gian hay nội dung tranh tụng của các bên đương sự chỉ trừ trường hợp các nội dung tranh tụng trái quy định của pháp luật và không liên quan đến vụ án dân sự[19]. Để quá trình tranh tụng diễn ra hiệu quả, đúng pháp luật thì tất cả các bên tham gia tranh tụng sẽ phải thực hiện theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, quá trình tranh tụng được tiến hành công khai, bình đẳng giữa các bên đương sự và hoàn toàn không có sự phân biệt, ưu tiên giữa nam giới hay nữ giới. Điều này cho thấy, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng rất công bằng, minh bạch và thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Bởi lẽ, không giới hạn đối tượng hay thành phần tham gia tranh tụng và cho dù nữ giới có thể yếu thế hơn nam giới nhưng khi tranh tụng thì phụ nữ vẫn có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, những nội dung hay lập luận, lý lẽ của nữ giới đưa ra khi tranh tụng đều được Tòa án xem xét, tôn trọng và được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Quy định này phù hợp với tư tưởng dân chủ, tiên tiến, hiện đại trong xã hội ngày càng văn minh và quan tâm đầy đủ đến quyền con người. Bởi lẽ, nếu như trong xã hội phong kiến trước đây, khi thân phận, địa vị của người phụ nữ thường bị coi thường, hạ thấp thì họ không thể nào tự mình thực hiện được những hành động để có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm trước các cơ quan công quyền phong kiến.

Tóm lại, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án là một nguyên tắc rất quan trọng và việc thực hiện nguyên tắc này giúp cho các đương sự, đặc biệt là những người yếu thế như phụ nữ có thể chủ động, linh hoạt và có cơ hội để trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án.

3. Một số kiến nghị

Hiện nay, từ thực tiễn của việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án cho thấy, hoạt động tranh tụng vẫn đang tồn tại không ít hạn chế, bất cập. Do đó, hiệu quả của tranh tụng chưa cao và vì thế, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án vẫn chưa thực sự thực được hiện hiệu quả. Chính vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, để khắc phục các hạn chế, bất cập trên thì cần xem xét các giải pháp như sau:

Thứ nhất, cần xác định phần tranh tụng giữa các đương sự là trọng tâm của quá trình xét xử và giảm dần phần hỏi của thẩm phán tại phiên tòa.

Kể từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực cho đến nay, hoạt động tranh tụng tại Việt Nam ngày càng được chú trọng. Tuy nhiên, cũng từ thực tiễn tranh tụng tại Việt Nam cho thấy, còn có trường hợp hoạt động tranh tụng tại các Tòa án diễn ra khá chiếu lệ, qua loa và các đương sự cũng chưa thật sự ý thức được trách nhiệm và giá trị của tranh tụng. Bởi lẽ, thời gian dành cho phần “hỏi” thường chiếm nhiều thời gian hơn phần “tranh tụng”, nhiều thẩm phán dường như vẫn quen với lề lối xét xử trước đây nên vẫn ưu tiên và xác định phần hỏi là trọng tâm trong quá trình xét xử. Vì thế, đến phần tranh tụng, không ít trường hợp các bên đương sự và Hội đồng xét xử cảm thấy không còn gì để phát biểu nên phần này qua loa, chiếu lệ và rồi nhanh chóng chuyển sang các nội dung tiếp theo. Tuy nhiên, như đã phân tích, quá trình tranh tụng rất quan trọng, vì đó là cơ sở để Hội đồng xét xử trực tiếp xem xét và còn để các bên đương sự có cơ hội trực tiếp đối chất, tranh luận với nhau. Về nguyên tắc, phần tranh tụng không bị giới hạn về thời gian, nhưng trên thực tế, do phần “hỏi” trước đó đã chiếm khá nhiều thời gian và nhiều vấn đề của vụ án, vậy nên, đến phần tranh tụng thì không còn nhiều vấn đề phải trao đổi. Từ đó, theo nhóm tác giả, cần xem xét lại vấn đề này và có sự điều chỉnh phù hợp. Trong đó, cần tuyên truyền, phổ biến và tập huấn nhiều hơn cho đội ngũ thẩm phán để có thể dần thay đổi thói quen, suy nghĩ khi xét xử, từ đó, giảm bớt vai trò trung tâm của thẩm phán và đề cao vai trò của đương sự thông qua hoạt động tranh tụng. Trọng tâm của tố tụng tranh tụng cần phải xác định qua việc tranh tụng mới là nội dung quan trọng nhất của quá trình xét xử tại Tòa án. Hay nói cách khác, “việc tranh tụng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân sự”[20]. Chính vì vậy, cần quán triệt tinh thần của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử và nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng. Có như vậy, hoạt động tranh tụng mới đi vào thực chất và những chủ thể yếu thế như phụ nữ mới thực hiện hiệu quả việc tranh tụng, để từ đó, quá trình xét xử giải quyết vụ án dân sự của Tòa án đạt chất lượng tốt hơn.

Thứ hai, cần chú ý đến kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tranh tụng tại Tòa án.

Nếu như trước đây, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)[21] thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc “tranh luận”, thì đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã chuyển sang tên gọi “tranh tụng” vì có lẽ để phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp chuyển từ mô hình “tố tụng thẩm vấn” sang “tố tụng tranh tụng” giống như các nước thuộc hệ thống pháp luật Common law (Anh - Hoa Kỳ). Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, thuật ngữ “tranh luận” hay “tranh tụng” vẫn được sử dụng chưa thống nhất và gây ra một số khó hiểu cho những người nghiên cứu, giới học thuật và những người áp dụng pháp luật. Căn cứ Điều 24 và Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì xác định đây là hoạt động “tranh tụng”, tuy nhiên, điều luật trực tiếp điều chỉnh việc tiến hành tranh tụng là Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật này thì lại gọi là “tranh luận”. Khác với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) sử dụng các thuật ngữ rất rõ ràng và thống nhất từ đầu đến cuối. Trong đó, Điều 23a, Điều 232 và Điều 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đều chỉ sử dụng thuật ngữ “tranh luận”. Tuy nhiên, trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 phần nguyên tắc gọi là “tranh tụng” nhưng đến nội dung điều chỉnh thì lại gọi là “tranh luận”. Về bản chất, hai thuật ngữ này có thể cùng diễn đạt vấn đề các đương sự thực hiện việc tranh luận với nhau để “bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian”[22]. Tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa, chúng có sự khác nhau và đối với việc xây dựng, ban hành và áp dụng pháp luật đòi hỏi phải tuyệt đối chính xác, rõ ràng, chuẩn mực. Bởi vì, nếu pháp luật không chặt chẽ, rõ ràng sẽ gây ra sự nhầm lẫn và khó khăn khi áp dụng. Từ đó, theo nhóm tác giả, cần nhanh chóng rà soát, thống nhất việc sử dụng thuật ngữ “tranh tụng” và “tranh luận”, để từ đó, các quy định pháp luật tố tụng dân sự được xây dựng theo một chỉnh thể thông suốt, khoa học, thống nhất và ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế.

TS. Nguyễn Vinh Hưng
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
ThS. Nguyễn Thị Khánh Ly
Học viện Phụ nữ Việt Nam


[1]. Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 67.

[4]. Khoản 1 Điều 247 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự tố tụng Việt Nam, xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, tr. 37.

[6]. Đàm Thị Hoa (2016), Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 01.

[7]. Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[8]. Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[9]. Khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[10]. Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[11]. Nguyễn Thị Hoài Phương (2011), Thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài - Cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, Sách chuyên khảo, Nxb. Lao động, tr. 30.

[12]. Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[13]. Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[14]. Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[15]. Nguyễn Thị Hoài Phương (2011), Thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài - Cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, Sách chuyên khảo, Nxb Lao động. tr. 50.

[16]. Tưởng Duy Lượng (2009), Pháp luật Tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 191.

[17]. Khoản 2 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[18]. Khoản 3 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[19]. Khoản 3 Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[20]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 53.

[21]. Điều 23a Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự.

[22]. Luật Minh Khuê (2021), Tranh tụng là gì? Phân tích nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, nguồn truy cập: https://luatminhkhue.vn/tranh-tung-la-gi—-khai-niem-tranh-tung-duoc-hieu-nhu-the-nao—.aspx , truy cập ngày: 23/6/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: