Thứ tư 11/03/2026 13:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án

Bài viết nghiên cứu về nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao và tạo thuận lợi cho việc thực hiện nguyên tắc đặc biệt quan trọng này.

1. Dẫn nhập

Hiện nay, để phù hợp và đáp ứng với nhu cầu của thực tiễn xã hội, việc xét xử giải quyết các tranh chấp dân sự tại Việt Nam đang dịch chuyển từ mô hình “tố tụng thẩm vấn” sang tiếp thu các yếu tố của mô hình “tố tụng tranh tụng”. Nói cách khác, việc xét xử các vụ án dân sự hiện nay sẽ phụ thuộc rất lớn vào kết quả tranh tụng giữa các bên đương sự tại Tòa án. Tuy nhiên, đối với phụ nữ, vốn được quan niệm là những người yếu thế và thường gặp rất nhiều khó khăn khi tham gia quá trình xét xử giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, trong quá trình tranh tụng, phụ nữ lại thường gặp phải những khó khăn, hạn chế về thể chất, sức khỏe, tâm lý… Trên thực tế, việc tranh tụng thường được các luật sư nam tham gia thực hiện nhiều hơn so với luật sư nữ. Nói như vậy không có nghĩa là phụ nữ không được quyền tham gia hay không được tôn trọng khi thực hiện các hoạt động tranh tụng tại Tòa án. Để bảo đảm sự công bằng, vô tư, khách quan, pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm sự bình đẳng giới khi tham gia hoạt động tranh tụng tại Tòa án. Thậm chí, điều này còn được ghi nhận là một trong những nguyên tắc rất quan trọng của tố tụng dân sự Việt Nam[1]. Từ đó, việc nghiên cứu về nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án càng trở nên cần thiết và rất quan trọng.

2. Nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là một nguyên tắc hiến định[2]. Hay có thể thấy rằng, vấn đề bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được xác định là một trong những nội dung rất quan trọng và được ghi nhận trong đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất tại Việt Nam - Hiến pháp năm 2013. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tại Việt Nam.

Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rất chặt chẽ, chi tiết về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử với mục đích không những bảo đảm cho các đương sự khi tham gia tranh tụng được tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng và khả năng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án mà còn có vai trò giữ gìn, bảo vệ kỷ cương, pháp chế xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Còn về mặt lịch sử, nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng đã từng được ghi nhận lần đầu trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) với tên gọi là nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự[3]. Về bản chất, tranh tụng tại phiên tòa được hiểu là việc các đương sự “… trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án”[4].

Nếu nhìn rộng hơn, việc bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng diễn ra không chỉ trong quá trình tranh tụng tại Tòa án mà trước đó đã được thể hiện ngay từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Pháp luật thời kỳ trước khi thống nhất đất nước ghi nhận: “Tố quyền là một quyền pháp định (pouvoir légal) để cho ta sử dụng khi cần đến”[5]. Vì mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật nên đều có quyền sử dụng tố quyền (quyền khởi kiện) khi cần đến. Còn hiện nay, quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền dân sự cơ bản, một quyền năng mà pháp luật thừa nhận đối với các chủ thể trong giao lưu dân sự[6] và đó còn là một trong những nguyên tắc rất quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[7]. Về nguyên tắc, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình[8]. Như vậy, tại Việt Nam, không phân biệt nữ giới hay nam giới, mọi cá nhân đều có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm. Thậm chí, quyền tự do khởi kiện hiện nay đã được mở rộng đến những cơ quan chuyên trách trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, phụ nữ, như: “Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình”[9]. Điều này cho thấy, sự bình đẳng trong xã hội và bình đẳng giới khi tham gia các hoạt động tố tụng dân sự tại Việt Nam ngày càng được pháp luật quan tâm.

Như vậy, quyền bình đẳng trong hoạt động tố tụng được bắt đầu ngay từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra bản án, quyết định. Bởi lẽ, sau khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự để giải quyết thì các đương sự đều được đối xử bình đẳng không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc. Nói cách khác, “trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội”[10]. Nhiệm vụ của Tòa án trong tố tụng dân sự là nhân danh quyền lực nhà nước để bảo đảm cho mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng một cách bình đẳng. Với tinh thần đó, khi đã trở thành đương sự trong tố tụng dân sự, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án, không phân biệt nam, nữ…[11]. Vì vậy, trong suốt quá trình tham gia tố tụng dân sự, chủ thể nào cũng có quyền hạn và nghĩa vụ để có thể thực hiện được việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Về nguyên tắc, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án[12]. Ví dụ, nếu nguyên đơn có quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện thì bị đơn lại có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng được quyền đưa ra yêu cầu độc lập để Tòa án phải xem xét, giải quyết trong cùng một vụ án dân sự. Hay trong suốt quá trình tham gia tố tụng, các đương sự đều có thể sửa đổi, bổ sung hoặc rút lại yêu cầu của họ. Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự[13].

Còn trong hoạt động tranh tụng, hiện nay, nguyên tắc bình đẳng giới thể hiện rất rõ ràng và cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này”[14]. Đây là cơ sở để các đương sự được tự do thực hiện quyền hạn tranh tụng của mình mà không bị hạn chế, trừ trường hợp việc tranh tụng của đương sự không thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Vì thế, về nguyên tắc, đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện hay người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Còn “nếu trong vụ án đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ sẽ tranh luận với nhau”[15]. Tuy nhiên, để có thể thuyết phục Hội đồng xét xử và chứng minh cho các yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp thì đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ và đồng thời, cũng phải có nghĩa vụ thông báo cho nhau về các loại tài liệu, chứng cứ đã giao nộp. Bởi lẽ, “khi các bên đưa việc tranh chấp của họ ra Tòa, thì Tòa án chỉ là người trọng tài, giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật chứ Tòa án không thể làm thay, chứng minh thay cho đương sự với những yêu cầu của họ”[16]. Đồng thời, khi tranh tụng, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác[17]. Không những vậy, để hoạt động tranh tụng diễn ra nghiêm minh, khách quan, công bằng và đúng pháp luật, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định”[18]. Việc hỏi của Tòa án trong quá trình xét xử chủ yếu nhằm làm sáng tỏ nội dung của vụ việc và Tòa án không được phép hạn chế thời gian hay nội dung tranh tụng của các bên đương sự chỉ trừ trường hợp các nội dung tranh tụng trái quy định của pháp luật và không liên quan đến vụ án dân sự[19]. Để quá trình tranh tụng diễn ra hiệu quả, đúng pháp luật thì tất cả các bên tham gia tranh tụng sẽ phải thực hiện theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, quá trình tranh tụng được tiến hành công khai, bình đẳng giữa các bên đương sự và hoàn toàn không có sự phân biệt, ưu tiên giữa nam giới hay nữ giới. Điều này cho thấy, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng rất công bằng, minh bạch và thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Bởi lẽ, không giới hạn đối tượng hay thành phần tham gia tranh tụng và cho dù nữ giới có thể yếu thế hơn nam giới nhưng khi tranh tụng thì phụ nữ vẫn có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, những nội dung hay lập luận, lý lẽ của nữ giới đưa ra khi tranh tụng đều được Tòa án xem xét, tôn trọng và được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Quy định này phù hợp với tư tưởng dân chủ, tiên tiến, hiện đại trong xã hội ngày càng văn minh và quan tâm đầy đủ đến quyền con người. Bởi lẽ, nếu như trong xã hội phong kiến trước đây, khi thân phận, địa vị của người phụ nữ thường bị coi thường, hạ thấp thì họ không thể nào tự mình thực hiện được những hành động để có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm trước các cơ quan công quyền phong kiến.

Tóm lại, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án là một nguyên tắc rất quan trọng và việc thực hiện nguyên tắc này giúp cho các đương sự, đặc biệt là những người yếu thế như phụ nữ có thể chủ động, linh hoạt và có cơ hội để trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án.

3. Một số kiến nghị

Hiện nay, từ thực tiễn của việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án cho thấy, hoạt động tranh tụng vẫn đang tồn tại không ít hạn chế, bất cập. Do đó, hiệu quả của tranh tụng chưa cao và vì thế, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án vẫn chưa thực sự thực được hiện hiệu quả. Chính vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, để khắc phục các hạn chế, bất cập trên thì cần xem xét các giải pháp như sau:

Thứ nhất, cần xác định phần tranh tụng giữa các đương sự là trọng tâm của quá trình xét xử và giảm dần phần hỏi của thẩm phán tại phiên tòa.

Kể từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực cho đến nay, hoạt động tranh tụng tại Việt Nam ngày càng được chú trọng. Tuy nhiên, cũng từ thực tiễn tranh tụng tại Việt Nam cho thấy, còn có trường hợp hoạt động tranh tụng tại các Tòa án diễn ra khá chiếu lệ, qua loa và các đương sự cũng chưa thật sự ý thức được trách nhiệm và giá trị của tranh tụng. Bởi lẽ, thời gian dành cho phần “hỏi” thường chiếm nhiều thời gian hơn phần “tranh tụng”, nhiều thẩm phán dường như vẫn quen với lề lối xét xử trước đây nên vẫn ưu tiên và xác định phần hỏi là trọng tâm trong quá trình xét xử. Vì thế, đến phần tranh tụng, không ít trường hợp các bên đương sự và Hội đồng xét xử cảm thấy không còn gì để phát biểu nên phần này qua loa, chiếu lệ và rồi nhanh chóng chuyển sang các nội dung tiếp theo. Tuy nhiên, như đã phân tích, quá trình tranh tụng rất quan trọng, vì đó là cơ sở để Hội đồng xét xử trực tiếp xem xét và còn để các bên đương sự có cơ hội trực tiếp đối chất, tranh luận với nhau. Về nguyên tắc, phần tranh tụng không bị giới hạn về thời gian, nhưng trên thực tế, do phần “hỏi” trước đó đã chiếm khá nhiều thời gian và nhiều vấn đề của vụ án, vậy nên, đến phần tranh tụng thì không còn nhiều vấn đề phải trao đổi. Từ đó, theo nhóm tác giả, cần xem xét lại vấn đề này và có sự điều chỉnh phù hợp. Trong đó, cần tuyên truyền, phổ biến và tập huấn nhiều hơn cho đội ngũ thẩm phán để có thể dần thay đổi thói quen, suy nghĩ khi xét xử, từ đó, giảm bớt vai trò trung tâm của thẩm phán và đề cao vai trò của đương sự thông qua hoạt động tranh tụng. Trọng tâm của tố tụng tranh tụng cần phải xác định qua việc tranh tụng mới là nội dung quan trọng nhất của quá trình xét xử tại Tòa án. Hay nói cách khác, “việc tranh tụng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân sự”[20]. Chính vì vậy, cần quán triệt tinh thần của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử và nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng. Có như vậy, hoạt động tranh tụng mới đi vào thực chất và những chủ thể yếu thế như phụ nữ mới thực hiện hiệu quả việc tranh tụng, để từ đó, quá trình xét xử giải quyết vụ án dân sự của Tòa án đạt chất lượng tốt hơn.

Thứ hai, cần chú ý đến kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tranh tụng tại Tòa án.

Nếu như trước đây, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)[21] thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc “tranh luận”, thì đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã chuyển sang tên gọi “tranh tụng” vì có lẽ để phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp chuyển từ mô hình “tố tụng thẩm vấn” sang “tố tụng tranh tụng” giống như các nước thuộc hệ thống pháp luật Common law (Anh - Hoa Kỳ). Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, thuật ngữ “tranh luận” hay “tranh tụng” vẫn được sử dụng chưa thống nhất và gây ra một số khó hiểu cho những người nghiên cứu, giới học thuật và những người áp dụng pháp luật. Căn cứ Điều 24 và Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì xác định đây là hoạt động “tranh tụng”, tuy nhiên, điều luật trực tiếp điều chỉnh việc tiến hành tranh tụng là Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật này thì lại gọi là “tranh luận”. Khác với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) sử dụng các thuật ngữ rất rõ ràng và thống nhất từ đầu đến cuối. Trong đó, Điều 23a, Điều 232 và Điều 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đều chỉ sử dụng thuật ngữ “tranh luận”. Tuy nhiên, trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 phần nguyên tắc gọi là “tranh tụng” nhưng đến nội dung điều chỉnh thì lại gọi là “tranh luận”. Về bản chất, hai thuật ngữ này có thể cùng diễn đạt vấn đề các đương sự thực hiện việc tranh luận với nhau để “bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian”[22]. Tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa, chúng có sự khác nhau và đối với việc xây dựng, ban hành và áp dụng pháp luật đòi hỏi phải tuyệt đối chính xác, rõ ràng, chuẩn mực. Bởi vì, nếu pháp luật không chặt chẽ, rõ ràng sẽ gây ra sự nhầm lẫn và khó khăn khi áp dụng. Từ đó, theo nhóm tác giả, cần nhanh chóng rà soát, thống nhất việc sử dụng thuật ngữ “tranh tụng” và “tranh luận”, để từ đó, các quy định pháp luật tố tụng dân sự được xây dựng theo một chỉnh thể thông suốt, khoa học, thống nhất và ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế.

TS. Nguyễn Vinh Hưng
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
ThS. Nguyễn Thị Khánh Ly
Học viện Phụ nữ Việt Nam


[1]. Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 67.

[4]. Khoản 1 Điều 247 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự tố tụng Việt Nam, xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, tr. 37.

[6]. Đàm Thị Hoa (2016), Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 01.

[7]. Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[8]. Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[9]. Khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[10]. Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[11]. Nguyễn Thị Hoài Phương (2011), Thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài - Cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, Sách chuyên khảo, Nxb. Lao động, tr. 30.

[12]. Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[13]. Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[14]. Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[15]. Nguyễn Thị Hoài Phương (2011), Thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài - Cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, Sách chuyên khảo, Nxb Lao động. tr. 50.

[16]. Tưởng Duy Lượng (2009), Pháp luật Tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 191.

[17]. Khoản 2 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[18]. Khoản 3 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[19]. Khoản 3 Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[20]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 53.

[21]. Điều 23a Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự.

[22]. Luật Minh Khuê (2021), Tranh tụng là gì? Phân tích nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, nguồn truy cập: https://luatminhkhue.vn/tranh-tung-la-gi—-khai-niem-tranh-tung-duoc-hieu-nhu-the-nao—.aspx , truy cập ngày: 23/6/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: