Thứ hai 21/09/2026 00:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án

Bài viết nghiên cứu về nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao và tạo thuận lợi cho việc thực hiện nguyên tắc đặc biệt quan trọng này.

1. Dẫn nhập

Hiện nay, để phù hợp và đáp ứng với nhu cầu của thực tiễn xã hội, việc xét xử giải quyết các tranh chấp dân sự tại Việt Nam đang dịch chuyển từ mô hình “tố tụng thẩm vấn” sang tiếp thu các yếu tố của mô hình “tố tụng tranh tụng”. Nói cách khác, việc xét xử các vụ án dân sự hiện nay sẽ phụ thuộc rất lớn vào kết quả tranh tụng giữa các bên đương sự tại Tòa án. Tuy nhiên, đối với phụ nữ, vốn được quan niệm là những người yếu thế và thường gặp rất nhiều khó khăn khi tham gia quá trình xét xử giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, trong quá trình tranh tụng, phụ nữ lại thường gặp phải những khó khăn, hạn chế về thể chất, sức khỏe, tâm lý… Trên thực tế, việc tranh tụng thường được các luật sư nam tham gia thực hiện nhiều hơn so với luật sư nữ. Nói như vậy không có nghĩa là phụ nữ không được quyền tham gia hay không được tôn trọng khi thực hiện các hoạt động tranh tụng tại Tòa án. Để bảo đảm sự công bằng, vô tư, khách quan, pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm sự bình đẳng giới khi tham gia hoạt động tranh tụng tại Tòa án. Thậm chí, điều này còn được ghi nhận là một trong những nguyên tắc rất quan trọng của tố tụng dân sự Việt Nam[1]. Từ đó, việc nghiên cứu về nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án càng trở nên cần thiết và rất quan trọng.

2. Nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là một nguyên tắc hiến định[2]. Hay có thể thấy rằng, vấn đề bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được xác định là một trong những nội dung rất quan trọng và được ghi nhận trong đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất tại Việt Nam - Hiến pháp năm 2013. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tại Việt Nam.

Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rất chặt chẽ, chi tiết về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử với mục đích không những bảo đảm cho các đương sự khi tham gia tranh tụng được tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng và khả năng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án mà còn có vai trò giữ gìn, bảo vệ kỷ cương, pháp chế xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Còn về mặt lịch sử, nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng đã từng được ghi nhận lần đầu trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) với tên gọi là nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự[3]. Về bản chất, tranh tụng tại phiên tòa được hiểu là việc các đương sự “… trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án”[4].

Nếu nhìn rộng hơn, việc bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng diễn ra không chỉ trong quá trình tranh tụng tại Tòa án mà trước đó đã được thể hiện ngay từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Pháp luật thời kỳ trước khi thống nhất đất nước ghi nhận: “Tố quyền là một quyền pháp định (pouvoir légal) để cho ta sử dụng khi cần đến”[5]. Vì mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật nên đều có quyền sử dụng tố quyền (quyền khởi kiện) khi cần đến. Còn hiện nay, quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền dân sự cơ bản, một quyền năng mà pháp luật thừa nhận đối với các chủ thể trong giao lưu dân sự[6] và đó còn là một trong những nguyên tắc rất quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[7]. Về nguyên tắc, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình[8]. Như vậy, tại Việt Nam, không phân biệt nữ giới hay nam giới, mọi cá nhân đều có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm. Thậm chí, quyền tự do khởi kiện hiện nay đã được mở rộng đến những cơ quan chuyên trách trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, phụ nữ, như: “Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình”[9]. Điều này cho thấy, sự bình đẳng trong xã hội và bình đẳng giới khi tham gia các hoạt động tố tụng dân sự tại Việt Nam ngày càng được pháp luật quan tâm.

Như vậy, quyền bình đẳng trong hoạt động tố tụng được bắt đầu ngay từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra bản án, quyết định. Bởi lẽ, sau khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự để giải quyết thì các đương sự đều được đối xử bình đẳng không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc. Nói cách khác, “trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội”[10]. Nhiệm vụ của Tòa án trong tố tụng dân sự là nhân danh quyền lực nhà nước để bảo đảm cho mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng một cách bình đẳng. Với tinh thần đó, khi đã trở thành đương sự trong tố tụng dân sự, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án, không phân biệt nam, nữ…[11]. Vì vậy, trong suốt quá trình tham gia tố tụng dân sự, chủ thể nào cũng có quyền hạn và nghĩa vụ để có thể thực hiện được việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Về nguyên tắc, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án[12]. Ví dụ, nếu nguyên đơn có quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện thì bị đơn lại có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng được quyền đưa ra yêu cầu độc lập để Tòa án phải xem xét, giải quyết trong cùng một vụ án dân sự. Hay trong suốt quá trình tham gia tố tụng, các đương sự đều có thể sửa đổi, bổ sung hoặc rút lại yêu cầu của họ. Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự[13].

Còn trong hoạt động tranh tụng, hiện nay, nguyên tắc bình đẳng giới thể hiện rất rõ ràng và cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này”[14]. Đây là cơ sở để các đương sự được tự do thực hiện quyền hạn tranh tụng của mình mà không bị hạn chế, trừ trường hợp việc tranh tụng của đương sự không thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Vì thế, về nguyên tắc, đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện hay người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Còn “nếu trong vụ án đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ sẽ tranh luận với nhau”[15]. Tuy nhiên, để có thể thuyết phục Hội đồng xét xử và chứng minh cho các yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp thì đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ và đồng thời, cũng phải có nghĩa vụ thông báo cho nhau về các loại tài liệu, chứng cứ đã giao nộp. Bởi lẽ, “khi các bên đưa việc tranh chấp của họ ra Tòa, thì Tòa án chỉ là người trọng tài, giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật chứ Tòa án không thể làm thay, chứng minh thay cho đương sự với những yêu cầu của họ”[16]. Đồng thời, khi tranh tụng, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác[17]. Không những vậy, để hoạt động tranh tụng diễn ra nghiêm minh, khách quan, công bằng và đúng pháp luật, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định”[18]. Việc hỏi của Tòa án trong quá trình xét xử chủ yếu nhằm làm sáng tỏ nội dung của vụ việc và Tòa án không được phép hạn chế thời gian hay nội dung tranh tụng của các bên đương sự chỉ trừ trường hợp các nội dung tranh tụng trái quy định của pháp luật và không liên quan đến vụ án dân sự[19]. Để quá trình tranh tụng diễn ra hiệu quả, đúng pháp luật thì tất cả các bên tham gia tranh tụng sẽ phải thực hiện theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, quá trình tranh tụng được tiến hành công khai, bình đẳng giữa các bên đương sự và hoàn toàn không có sự phân biệt, ưu tiên giữa nam giới hay nữ giới. Điều này cho thấy, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng rất công bằng, minh bạch và thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Bởi lẽ, không giới hạn đối tượng hay thành phần tham gia tranh tụng và cho dù nữ giới có thể yếu thế hơn nam giới nhưng khi tranh tụng thì phụ nữ vẫn có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, những nội dung hay lập luận, lý lẽ của nữ giới đưa ra khi tranh tụng đều được Tòa án xem xét, tôn trọng và được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Quy định này phù hợp với tư tưởng dân chủ, tiên tiến, hiện đại trong xã hội ngày càng văn minh và quan tâm đầy đủ đến quyền con người. Bởi lẽ, nếu như trong xã hội phong kiến trước đây, khi thân phận, địa vị của người phụ nữ thường bị coi thường, hạ thấp thì họ không thể nào tự mình thực hiện được những hành động để có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm trước các cơ quan công quyền phong kiến.

Tóm lại, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án là một nguyên tắc rất quan trọng và việc thực hiện nguyên tắc này giúp cho các đương sự, đặc biệt là những người yếu thế như phụ nữ có thể chủ động, linh hoạt và có cơ hội để trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án.

3. Một số kiến nghị

Hiện nay, từ thực tiễn của việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án cho thấy, hoạt động tranh tụng vẫn đang tồn tại không ít hạn chế, bất cập. Do đó, hiệu quả của tranh tụng chưa cao và vì thế, nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án vẫn chưa thực sự thực được hiện hiệu quả. Chính vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, để khắc phục các hạn chế, bất cập trên thì cần xem xét các giải pháp như sau:

Thứ nhất, cần xác định phần tranh tụng giữa các đương sự là trọng tâm của quá trình xét xử và giảm dần phần hỏi của thẩm phán tại phiên tòa.

Kể từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực cho đến nay, hoạt động tranh tụng tại Việt Nam ngày càng được chú trọng. Tuy nhiên, cũng từ thực tiễn tranh tụng tại Việt Nam cho thấy, còn có trường hợp hoạt động tranh tụng tại các Tòa án diễn ra khá chiếu lệ, qua loa và các đương sự cũng chưa thật sự ý thức được trách nhiệm và giá trị của tranh tụng. Bởi lẽ, thời gian dành cho phần “hỏi” thường chiếm nhiều thời gian hơn phần “tranh tụng”, nhiều thẩm phán dường như vẫn quen với lề lối xét xử trước đây nên vẫn ưu tiên và xác định phần hỏi là trọng tâm trong quá trình xét xử. Vì thế, đến phần tranh tụng, không ít trường hợp các bên đương sự và Hội đồng xét xử cảm thấy không còn gì để phát biểu nên phần này qua loa, chiếu lệ và rồi nhanh chóng chuyển sang các nội dung tiếp theo. Tuy nhiên, như đã phân tích, quá trình tranh tụng rất quan trọng, vì đó là cơ sở để Hội đồng xét xử trực tiếp xem xét và còn để các bên đương sự có cơ hội trực tiếp đối chất, tranh luận với nhau. Về nguyên tắc, phần tranh tụng không bị giới hạn về thời gian, nhưng trên thực tế, do phần “hỏi” trước đó đã chiếm khá nhiều thời gian và nhiều vấn đề của vụ án, vậy nên, đến phần tranh tụng thì không còn nhiều vấn đề phải trao đổi. Từ đó, theo nhóm tác giả, cần xem xét lại vấn đề này và có sự điều chỉnh phù hợp. Trong đó, cần tuyên truyền, phổ biến và tập huấn nhiều hơn cho đội ngũ thẩm phán để có thể dần thay đổi thói quen, suy nghĩ khi xét xử, từ đó, giảm bớt vai trò trung tâm của thẩm phán và đề cao vai trò của đương sự thông qua hoạt động tranh tụng. Trọng tâm của tố tụng tranh tụng cần phải xác định qua việc tranh tụng mới là nội dung quan trọng nhất của quá trình xét xử tại Tòa án. Hay nói cách khác, “việc tranh tụng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân sự”[20]. Chính vì vậy, cần quán triệt tinh thần của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử và nguyên tắc bình đẳng giới trong hoạt động tranh tụng. Có như vậy, hoạt động tranh tụng mới đi vào thực chất và những chủ thể yếu thế như phụ nữ mới thực hiện hiệu quả việc tranh tụng, để từ đó, quá trình xét xử giải quyết vụ án dân sự của Tòa án đạt chất lượng tốt hơn.

Thứ hai, cần chú ý đến kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tranh tụng tại Tòa án.

Nếu như trước đây, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)[21] thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc “tranh luận”, thì đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã chuyển sang tên gọi “tranh tụng” vì có lẽ để phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp chuyển từ mô hình “tố tụng thẩm vấn” sang “tố tụng tranh tụng” giống như các nước thuộc hệ thống pháp luật Common law (Anh - Hoa Kỳ). Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, thuật ngữ “tranh luận” hay “tranh tụng” vẫn được sử dụng chưa thống nhất và gây ra một số khó hiểu cho những người nghiên cứu, giới học thuật và những người áp dụng pháp luật. Căn cứ Điều 24 và Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì xác định đây là hoạt động “tranh tụng”, tuy nhiên, điều luật trực tiếp điều chỉnh việc tiến hành tranh tụng là Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật này thì lại gọi là “tranh luận”. Khác với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) sử dụng các thuật ngữ rất rõ ràng và thống nhất từ đầu đến cuối. Trong đó, Điều 23a, Điều 232 và Điều 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đều chỉ sử dụng thuật ngữ “tranh luận”. Tuy nhiên, trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 phần nguyên tắc gọi là “tranh tụng” nhưng đến nội dung điều chỉnh thì lại gọi là “tranh luận”. Về bản chất, hai thuật ngữ này có thể cùng diễn đạt vấn đề các đương sự thực hiện việc tranh luận với nhau để “bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian”[22]. Tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa, chúng có sự khác nhau và đối với việc xây dựng, ban hành và áp dụng pháp luật đòi hỏi phải tuyệt đối chính xác, rõ ràng, chuẩn mực. Bởi vì, nếu pháp luật không chặt chẽ, rõ ràng sẽ gây ra sự nhầm lẫn và khó khăn khi áp dụng. Từ đó, theo nhóm tác giả, cần nhanh chóng rà soát, thống nhất việc sử dụng thuật ngữ “tranh tụng” và “tranh luận”, để từ đó, các quy định pháp luật tố tụng dân sự được xây dựng theo một chỉnh thể thông suốt, khoa học, thống nhất và ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế.

TS. Nguyễn Vinh Hưng
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
ThS. Nguyễn Thị Khánh Ly
Học viện Phụ nữ Việt Nam


[1]. Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 67.

[4]. Khoản 1 Điều 247 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự tố tụng Việt Nam, xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, tr. 37.

[6]. Đàm Thị Hoa (2016), Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 01.

[7]. Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[8]. Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[9]. Khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[10]. Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[11]. Nguyễn Thị Hoài Phương (2011), Thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài - Cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, Sách chuyên khảo, Nxb. Lao động, tr. 30.

[12]. Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[13]. Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[14]. Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[15]. Nguyễn Thị Hoài Phương (2011), Thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài - Cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, Sách chuyên khảo, Nxb Lao động. tr. 50.

[16]. Tưởng Duy Lượng (2009), Pháp luật Tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 191.

[17]. Khoản 2 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[18]. Khoản 3 Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[19]. Khoản 3 Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[20]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 53.

[21]. Điều 23a Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự.

[22]. Luật Minh Khuê (2021), Tranh tụng là gì? Phân tích nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, nguồn truy cập: https://luatminhkhue.vn/tranh-tung-la-gi—-khai-niem-tranh-tung-duoc-hieu-nhu-the-nao—.aspx , truy cập ngày: 23/6/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: