Thứ bảy 16/05/2026 06:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm

Vấn đề khác đặt ra là nếu người làm chứng đã được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên toà thì HĐXX giải quyết như thế nào? Trường hợp vắng mặt nhưng đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án và có đơn xin vắng mặt trong đó thể hiện giữ nguyên lời khai của mình thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử mà không cần phải hoãn phiên toà.

1. Thực trạng một số quy định về bảo đảm quyền bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

- Quy định về quyền triệu tập người làm chứng, lời khai của người làm chứng trong hoạt động chứng minh tại phiên toà có ý nghĩa làm rõ nhiều tình tiết của vụ án. Vì vậy thủ tục xét xử quy định tại phiên toà các bên có quyền đề nghị hội đồng xét xử (HĐXX) được triệu tập thêm người làm chứng. Đáng quan tâm là thủ tục xét xử không quy định kiểm sát viên và người bào chữa được triệu tập người làm chứng để chuẩn bị cho phiên tranh tụng, mà chỉ khi diễn ra phiên toà thì họ được đề nghị triệu tập thêm người làm chứng và việc này phải được sự chấp thuận của HĐXX. Do đó không tránh khỏi sự tuỳ nghi của HĐXX. Có trường hợp người bào chữa đề nghị HĐXX triệu tập thêm người làm chứng, nhưng HĐXX cho rằng người đó phải có lời khai trong hồ sơ (để đảm bảotính khách quan) thì mới được chấp nhận.

Vấn đề khác đặt ra là nếu người làm chứng đã được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên toà thì HĐXX giải quyết như thế nào? Trường hợp vắng mặt nhưng đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án và có đơn xin vắng mặt trong đó thể hiện giữ nguyên lời khai của mình thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử mà không cần phải hoãn phiên toà. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án phức tạp đòi hỏi phải có người làm chứng tại phiên toà, dù họ có đơn xin vắng mặt như đã nêu, nhưng Toà án vẫn phải triệu tập họ đến tham dự phiên toà. Mặt khác, các bên có quyền nhờ người làm chứng cho mình hoặc có quyền triệu tập hoặc đề nghị Tòa án triệu tập ra phiên tòa bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tranh tụng, chứ không thể phụ thuộc vào Tòa án và không cần họ phải có lời khai trước đó trong giai đoạn điều tra. Mặt khác, khoản 4 Điều 211 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định, người làm chứng phải ở lại phòng xử án cho đến khi kết thúc phiên tòa để có thể được hỏi thêm. Quy định này là chưa phù hợp, vì nhiều trường hợp người làm chứng trình bày xong thì có thể cho họ rời phòng xử án, không bắt buộc họ ở lại.

- Quy định về quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa, điểm a khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đã hạn chế quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa trong giai đoạn điều tra. Điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng của người bào chữa trước phiên tòa. Cụ thể: Người bào chữa không được tham gia nhiều vào các hoạt động điều tra, như hoạt động lấy lời khai, hoạt động hỏi cung, đối chất, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi... Hơn nữa, người bào chữa chưa được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án giao các quyết định tố tụng và lịch xét xử; cũng như hoạt động nghiệp vụ của họ vẫn bị cản trở vì các cơ quan tổ chức có thẩm quyền không hợp tác đầy đủ trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc bào chữa của họ.

- Quy định về trình bày lời bào chữa, khoản 2 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận đã không đặt ra trường hợp có nhiều người bào chữa cho một bị cáo, thì thực hiện việc trình bày lời bào chữa ra sao? Tính chất của lời bào chữa rất quan trọng. Ở đó tập trung các lập luận của người bào chữa, qua một quá trình nghiên cứu đánh giá chứng cứ công phu, nhằm bảo vệ quan điểm bào chữa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị cáo. Mâu thuẫn của tình tiết, chứng cứ vụ án có được sáng tỏ hay không phụ thuộc vào quan điểm và khả năng lập luận của người bào chữa. Mức độ thuyết phục HĐXX đến đâu cũng phải phụ thuộc nhiều vào lời bào chữa. Cần phải thấy rằng, trên thực tế dù người bào chữa cho bị cáo không có mặt tại phiên tòa, nhưng quan điểm của họ vẫn đươc thực hiện thông qua bản bào chữa được gửi trước. Tại phiên tòa, HĐXX công bố bản bào chữa do người bào chữa gửi trước, thế nhưng lại xảy ra trường hợp quan điểm ở đó không phù hợp với quan điểm của bị cáo tại phiên tòa, ví dụ như đánh giá tình tiết giảm nhẹ, tình tiết làm cơ sở yêu cầu mức bồi thường thiệt hại... Do đó có sự mâu thuẫn giữa quan điểm của người bào chữa với bị cáo, gây lúng túng cho HĐXX và bị cáo.

Cần lưu ý là trường hợp bị cáo không nhờ người bào chữa, thì họ phải tự bào chữa hoặc lựa chọn phương thức từ chối bào chữa, và chủ tọa phiên tòa không buộc bị cáo phải trình bày lời bào chữa. Bên cạnh đó, lưu ý đến trường hợp bào chữa bắt buộc theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đó là bị cáo được Nhà nước cử người bào chữa, nhưng vẫn cố tình từ chối, mà không yêu cầu thay đổi, lựa chọn người bào chữa khác. Trường hợp này Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chưa đưa ra phương thức xử lý. Có thể nói từ chối người bào chữa là quyền của bị cáo. Một mặt họ thích tự bào chữa cho dù họ có thể gặp bất lợi, nhưng họ thấy mình có đủ khả năng để tự bào chữa, hoặc vì một chiến thuật để dành lợi thế mà họ không thích người bào chữa can thiệp vào quá trình tố tụng.

- Quy định về thành phần Hội đồng xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định thành phần HĐXX sơ thẩm gồm 01 thẩm phán và 02 hội thẩm; nếu là vụ án phức tạp có thể gồm 02 thẩm phán và 03 hội thẩm. Mục đích của quy định này là khi xét xử bắt buộc phải có hội thẩm tham gia, vì hội thẩm là người đại diện cho ý chí của nhân dân tham gia tố tụng, biểu quyết của họ sẽ làm cho vụ án được khách quan hơn, có lợi cho bị cáo và hạn chế sự lạm quyền của thẩm phán chuyên nghiệp. Song điều này chưa hẳn đã hoàn toàn là ưu điểm, vì ở đó bị cáo không có quyền lựa chọn thành phần HĐXX. Nếu mở rộng quyền lựa chọn HĐXX chỉ có thẩm phán cũng là một phương thức bảo đảm quyền cho bị cáo. Nếu HĐXX chỉ có thẩm phán thì tính chuyên nghiệp trong hoạt động áp dụng pháp luật triệt để hơn, hay là có hội thẩm tham gia nhằm đảm bảo tính khách quan hơn trong việc đưa ra phán quyết của Tòa án, tránh lạm quyền từ thẩm phán; hoặc họ muốn tạo ra cho mình một lợi thế nào đó trong quá trình tranh tụng mà không yêu cầu phải có hội thẩm tham gia.

- Quy định về xét xử vắng mặt bị cáo tại phiên tòa, Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định bắt buộc bị cáo phải có mặt tại phiên tòa. Tòa án chỉ có thể xét xử vắng mặt họ ở ba trường hợp: Bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả, bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa, và nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ. Trường hợp thứ ba cho phép xét xử vắng mặt bị cáo, nhưng như thế nào là sự vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử thì chưa được giải thích. Do đó hầu như trên thực tiễn Tòa án không vận dụng trường hợp này. Nếu bị cáo vắng mặt thì Tòa án tìm cách áp giải hoặc bắt tạm giam họ với lý do để đảm bảo cho việc xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án.

Quy định tại Điều 187 nêu trên là cứng nhắc, không đảm bảo quyền được xét xử vắng mặt của bị cáo. Nghĩa là bị cáo có quyền lựa chọn phương thức có mặt hay không chỉ đơn giản đó là quyền họ được hưởng hoặc là họ muốn tạo lợi thế cho mình tại phiên tranh tụng, vì họ cho rằng họ không bắt buộc phải tự buộc tội mình. Chúng ta không cần phải lo ngại là phải có bị cáo tại phiên tòa thì vụ án mới được chứng minh đầy đủ, khách quan, bởi vì bên cạnh bị cáo còn có thể có người đại diện, có người bào chữa của họ.

2. Kiến nghị hoàn thiện một số quy định về bảo đảm quyền bào chữa tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Một là, kiến nghị bổ sung một điều luật vào Chương XVIII của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa) về “Triệu tập người làm chứng”, nhằm khắc phục thực trạng việc triệu tập người làm chứng ra phiên tòa chỉ do Tòa án quyết định, kiểm sát viên và người bào chữa không có quyền triệu tập người làm chứng của riêng mình, ảnh hưởng đến việc chứng minh của họ. Giải pháp này mang yếu tố tranh tụng cao, nó sẽ cân bằng lợi thế và tạo ra sự bình đẳng, dân chủ giữa các bên trong phiên tranh tụng. Lưy ý là Điều luật mới bổ sung sẽ không còn giao quyền triệu tập người làm chứng cho Tòa án, mà chuyển sang cho kiểm sát viên và người bào chữa. Đồng thời mở rộng phạm vi về thời gian triệu tập người làm chứng không những ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, mà trong thời gian đang diễn ra phiên tòa, nếu có yêu cầu thì HĐXX phải thực hiện việc hoãn phiên tòa để thực hiện.

“Điều ... Triệu tập người làm chứng

Căn cứ vào lịch xét xử của Tòa án, kiểm sát viên và người bào chữa xem xét quyết định việc triệu tập người làm chứng ra phiên tòa để thực hiện việc chứng minh. Trong quá trình diễn ra phiên tòa cho đến trước khi nghị án hội đồng xét xử xem xét hoãn phiên tòa để triệu tập thêm người làm chứng theo đề nghị của kiểm sát viên, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác”.

Hai là, kiến nghị bổ sung khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về lựa chọn và thay đổi người bào chữa. Đó là bổ sung thủ tục giải quyết đối với trường hợp bị cáo được Nhà nước cử người bào chữa, nhưng vẫn cố tình từ chối, mà vẫn không yêu cầu thay đổi, lựa chọn người bào chữa khác. Trong trường hợp này cần phải quy định rõ là Tòa án phải giải thích cho bị cáo hiểu về quyền lợi của họ và ghi ý kiến từ chối của bị cáo vào biên bản phiên tòa và vẫn tiến hành giải quyết vụ án có mặt của người bào chữa đã cử. Cụ thể khoản 2 Điều 57 được bổ sung như sau:

Điều 57. Lựa chọn và thay đổi người bào chữa

1. ...

2. ...

Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Tòa án phải có trách nhiệm giải thích cho bị cáo hiểu về quyền lợi của họ và ghi ý kiến từ chối người bào chữa của họ vào biên bản phiên tòa và vẫn tiến hành giải quyết vụ án với sự có mặt của người bào chữa đã cử”.

Ba là, kiến nghị sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, theo đó cho phép người bào chữa có quyền thực sự trong việc thu thập chứng cứ. Cụ thể người bào chữa được lấy lời khai của người bị tạm giữ, bị can, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; được thu thập tài liệu, đồ vật và yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp vật chứng, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; người bào chữa được tham dự và ghi nhận dấu vết trong cuộc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, chứng kiến việc bắt người, việc khám xét. Người bào chữa tham gia các hoạt động thu thập chứng cứ nêu trên chỉ cần thông báo cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát biết mà không cần phải được sự chấp thuận trước và phải có yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như quy định tại Điều 58 hiện hành, ngoại trừ trường hợp thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác và phải giữ bí mật điều tra theo quy định tại điểm e của Điều khoản này. Đồng thời kiến nghị bổ sung quyền của người bào chữa được nhận bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và lịch xét xử do cơ quan tiến hành tố tụng giao theo thời hạn luật định. Nhằm khắc phục thực trạng người bào chữa phải “xin phô tô”, phải phụ thuộc hoặc thông qua bị cáo thì họ mới biết được thông tin buộc tội của bản kết luận điều tra, cáo trạng, nội dung bản án được tuyên, thời gian mở phiên tòa. Cụ thể loại bỏ điểm d (đưa nội dung quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tài liệu vào thiết kế chung vào điểm a để tránh tản mạn, rườm rà); sửa đổi, bổ sung điểm a; và bổ sung điểm b của khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, cụ thể như sau:

“Điều 58. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

...

2. Người bào chữa có quyền:

a) Có mặt khi cơ quan điều tra, viện kiểm sát lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can; được lấy lời khai của người bị tạm giữ, bị can, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án; được yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp vật chứng, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; được tham dự và ghi nhận dấu vết trong cuộc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, chứng kiến việc bắt người, việc khám xét; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa và được giao bản kết luận điều tra.

Người bào chữa có thể bị cơ quan điều tra và Viện kiểm sát hạn chế hoặc không được thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ đối với vụ án liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật công tác và phải giữ bí mật điều tra theo yêu cầu của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;

b) Người bào chữa tham gia tố tụng được nhận bản kết luận điều tra, cáo trạng, bản án, lịch xét xử do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án giao theo thời hạn luật định;

...”.

Bốn là, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 190 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về sự có mặt của người bào chữa theo dịch vụ pháp lý. Theo đó làm rõ chủ thể bào chữa bao gồm: Người bào chữa theo dịch vụ pháp lý và người bào chữa do Nhà nước cử, và bỏ đi quy định người bào chữa được gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Vì đây là lý do người bào chữa theo dịch vụ pháp lý thường xuyên vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm do vướng nhiều vào hợp đồng dịch vụ pháp lý khác, làm cho phiên tòa bị hoãn, gây ra rất nhiều phiền hà và hao tốn thời gian, chi phí tố tụng. Cụ thể Điều 190 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 190. Sự có mặt của người bào chữa

Người bào chữa theo dịch vụ pháp lý có nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Người bào chữa theo dịch vụ pháp lý vắng mặt, Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử.

Người bào chữa do Nhà nước cử theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này nếu vắng mặt, thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa”.

Năm là, kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa, theo hướng bảo đảm quyền được vắng mặt khi xét xử của bị cáo trong những trường hợp nhất định. Nghĩa là bị cáo có quyền lựa chọn phương thức có mặt hay không tại phiên tòa. Mở rộng quyền được vắng mặt tại phiên tòa cho bị cáo, mà Tòa án vẫn xét xử ở các trường hợp như: Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng; bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt trong các vụ án đơn giản, vụ án khởi tố theo yêu cầu người bị hại, hoặc vụ án mà chứng cứ đã rõ ràng bị cáo đã nhận tội, hoặc họ đã bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự hoặc đã chấp nhận yêu cầu bồi thường dân sự của bên bị hại đưa ra trước khi xét xử. Cụ thể khoản 2 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 được sửa đổi, bổ sung như sau (lưu ý là loại bỏ điểm c của điều khoản này, vì quy phạm này thiếu tính khả thi, đó là trường hợp sự vắng mặt của bị cáo không cản trở việc xét xử):

“Điều 187. Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa

...

2. Tòa án chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp sau đây:

a) Bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả;

b) Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa;

c) Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng có đơn xin xét xử vắng mặt;

d) Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt trong các vụ án phạm tội ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, bị cáo nhận tội, đã bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự hoặc đã chấp nhận yêu cầu bồi thường dân sự của bên bị hại đưa ra trước khi xét xử; hoặc vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại”.

Sáu là, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thành phần HĐXX theo hướng mở rộng quy định cho bị cáo quyền được lựa chọn xét xử bởi thẩm phán và hội thẩm hoặc chỉ bởi thẩm phán. Cụ thể Điều 185 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 185. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm

...

Bị cáo có quyền lựa chọn hội đồng xét xử bởi một thẩm phán và hai hội thẩm hoặc chỉ bởi một thẩm phán xét xử. Bị cáo đề nghị việc này với Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử”.

ThS. Nguyễn Ngọc Kiện

Giảng viên Trường Đại học Luật - Đại học Huế

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: