Thứ năm 01/10/2026 21:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Bảo đảm quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Bài viết đề cập một số vấn đề lý luận về khái niệm, sự cần thiết phải bảo đảm quyền con người, nội dung và các yếu tố bảo đảm quyền con người, phân tích, đánh giá thực trạng việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm quyền con người trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: The article discusses some theoretical issues about the concept, the need to ensure human rights, the content and elements of human rights assurance, analyzes and evaluates the current situation of ensuring human rights in Vietnam; from there, the author proposes some basic solutions to ensure human rights in the process of building and completing the socialist rule of law State in Vietnam today.

1. Khái niệm và sự cần thiết phải bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

1.1. Khái niệm bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Quyền con người là một phạm trù đa diện và có nhiều định nghĩa khác nhau. Mỗi định nghĩa có những cách tiếp cận, nghiên cứu vấn đề từ những góc độ nhất định và cơ bản chưa có định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người. Có thể thấy, sự phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, Văn phòng Cao ủy Liên Hợp quốc về quyền con người (OHCHR) định nghĩa: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người[1]. Bên cạnh đó, một số học giả khác theo học thuyết về các quyền tự nhiên cũng đưa ra cách hiểu, quan niệm về quyền con người, theo đó, quyền con người là những sự được phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người[2].

Ở Việt Nam, cũng tồn tại một số định nghĩa về quyền con người. Trong đó, một cách khái quát, quyền con người được hiểu là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người[3]. Quan niệm nêu trên của các học giả Việt Nam cho thấy sự ảnh hưởng của các học thuyết về quyền tự nhiên trên thế giới, vì vậy, quyền con người chính là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Bên cạnh đó, thuật ngữ “bảo đảm” có thể hiểu là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết hoặc sự bảo đảm thực hiện được hoặc giữ được. Trong khi “bảo vệ” được hiểu là chống lại sự xâm phạm để giữ lại cho luôn luôn được nguyên vẹn[4]. Như vậy, bảo đảm và bảo vệ là hai khái niệm khác nhau nhưng nội hàm của chúng có những điểm tương đồng, bổ trợ cho nhau, vì vậy, trong thực tế người ta hay sử dụng chúng đi liền với nhau hoặc thay thế cho nhau. Theo đó, các thuật ngữ “bảo đảm, bảo vệ” hàm chỉ các yếu tố - công cụ được sử dụng nhằm làm cho chắc chắn thực hiện được, chống lại sự xâm phạm để giữ gìn một cách trọn vẹn sự vật, hiện tượng nào đó.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Bảo đảm, bảo vệ quyền con người là việc sử dụng các công cụ cũng như yếu tố tác động nhằm làm cho quyền con người chắc chắn được thực hiện, đồng thời, chống lại mọi âm mưu xâm phạm quyền con người; mục đích cuối cùng là quyền con người phải được thừa nhận, thực hiện với đúng tính chất, nội hàm vốn có của nó. Theo đó, việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người có một số điểm đặc thù sau: (i) Chủ thể của hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người khá rộng, không chỉ là Nhà nước mà bao gồm tất cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội, thậm chí tổ chức quốc tế cũng có thể cùng tham gia. (ii) Bảo đảm, bảo vệ quyền con người phải được thực hiện thông qua hệ thống thể chế - công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội. (iii) Việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia luôn chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xu hướng dân chủ - yêu chuộng hòa bình, bối cảnh xây dựng - hoàn thiện Nhà nước pháp quyền…

1.2. Sự cần thiết phải bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay xuất phát từ một số lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu tất yếu của việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xã hội dân chủ, hiện đại và văn minh.

Quyền con người dù quan niệm ở góc độ là quyền tự nhiên, vốn có của con người hay quan niệm dưới góc độ pháp lý gắn với sự thừa nhận của Nhà nước thì đều cần được bảo đảm trong thực tế. Thực tiễn nhu cầu của việc bảo đảm quyền con người trong mỗi thời kỳ lịch sử cũng như ở các quốc gia khác nhau thì không hoàn toàn giống nhau do chịu sự chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố như sự phát triển của nền kinh tế, yếu tố xã hội, trình độ nhận thức, xu hướng phát triển của nền dân chủ… Trong thời kỳ xã hội chưa có giai cấp - xã hội cộng sản nguyên thủy, khi kinh tế còn thấp kém cùng với tổ chức xã hội còn giản đơn, mối quan hệ giữa con người với nhau tương đối thuần nhất, các mâu thuẫn trong xã hội gần như không có hoặc không đáng kể, với điều kiện kinh tế - xã hội lúc bấy giờ, có lẽ con người cũng chưa ý thức được về “quyền” và nhu cầu bảo đảm quyền con người gần như chưa đặt ra. Chuyển sang giai đoạn xã hội có giai cấp, phân hóa và mâu thuẫn xã hội xuất hiện, khi đó hiện tượng người áp bức, bóc lột người xảy ra với những mức độ khác nhau của những thời kỳ lịch sử, quốc gia khác nhau. Cùng với đó, nhận thức của con người trong xã hội cũng ngày càng phát triển, nhu cầu được thừa nhận và thụ hưởng những quyền sinh ra vốn có - quyền con người bắt đầu xuất hiện. Khi kinh tế - xã hội phát triển, xu hướng của nền dân chủ trên thế giới gia tăng dẫn tới nhu cầu của việc bảo đảm các quyền vốn có đó đặt ra và trở thành tất yếu trong xã hội phát triển.

Thứ hai, xuất phát từ bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Có thể thấy, xuất phát từ đòi hỏi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một nhu cầu tất yếu và “sự đòi hỏi cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không phải là ý muốn kỳ quặc của ai đó mà là mệnh lệnh khách quan của thời đại”[5]. Vì vậy, thuật ngữ Nhà nước pháp quyền đã xuất hiện trong các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Từ Đại hội X (năm 2006) của Đảng, Việt Nam đã chính thức coi “Nhà nước pháp quyền” là một trong số các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa với hàm ý Việt Nam sẽ không có xã hội chủ nghĩa nếu như không có Nhà nước pháp quyền[6]. Vấn đề Nhà nước pháp quyền tiếp tục được ghi nhận Hiến pháp năm 2013.

Theo các quy định của Hiến pháp năm 2013, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần có những đặc điểm cơ bản sau: (i) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân. (ii) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. (iii) Nhà nước thừa nhận quyền con người là quyền tự nhiên, vốn có của con người, Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. (iv) Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ các cam kết quốc tế. (v) Hiến pháp có vị trí tối thượng trong hệ thống pháp luật. Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp và mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều phải bị xử lý. (vi) Nhà nước Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Nội dung và các yếu tố bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.1. Nội dung bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Thực tiễn cho thấy, nội dung của hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở các quốc gia trên thế giới không hoàn toàn giống nhau. Với Việt Nam, dựa trên các quy định của Hiến pháp năm 2013 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế và đẩy nhanh quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nội dung bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bao gồm những vấn đề sau[7]:

Thứ nhất, công nhận (obligation to recognition): Các chủ thể trong xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền, trước hết và chủ yếu là Nhà nước. Công nhận nghĩa là phải thừa nhận đồng thời phải ghi nhận ngày càng đầy đủ, cơ bản bằng các thể chế quan phương là pháp luật và các thể chế phi quan phương khác mà đặc biệt là đạo đức (đối với các tổ chức xã hội). Đó là sự thừa nhận, ghi nhận đối với các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa của con người.

Thứ hai, tôn trọng (obligation to respect): Các chủ thể trong xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền, trước hết và chủ yếu là Nhà nước. Theo đó, các chủ thể mà đặc biệt là Nhà nước phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp và gián tiếp vào việc thừa nhận, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, phải chủ động xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý cụ thể để mọi người được thụ hưởng và phát triển các quyền con người của mình trong thực tế.

Thứ ba, bảo vệ (obligation to protect): Nhà nước phải ngăn chặn việc vi phạm quyền con người, quyền công dân đến từ phía các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân; ngăn chặn tình trạng phân biệt đối xử hoặc sự hình thành các thế lực đe dọa quyền con người, quyền công dân trên các lĩnh vực; điều tra, trừng trị và phục hồi các quyền đã bị vi phạm hoặc bồi thường khi có sai phạm từ phía cơ quan, người có thẩm quyền.

Thứ tư, thực hiện (obligation to fulfil): Các chủ thể trong xã hội, đặc biệt là Nhà nước phải chủ động xây dựng thể chế (pháp luật, quy chế và thiết chế) cũng như các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển, biện pháp quản lý cụ thể để bảo đảm cho mọi người được hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con người, quyền công dân. Việc thực hiện chỉ được bảo đảm (bảo đảm thực hiện) khi các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý được đề ra (hay xây dựng) phải mang tính khả thi và hiệu quả, chứ không phải mang tính hình thức hay đề ra “cho có”, đặc biệt là trong quá trình thực thi các quyền con người, quyền công dân của các nhóm yếu thế.

Thứ năm, thúc đẩy (obligation to promote): Tạo lập điều kiện và môi trường kinh tế nói riêng và xã hội nói chung, mang tính hỗ trợ, thuận lợi cho việc tiếp cận quyền con người, quyền công dân của các nhóm xã hội, đặc biệt là các nhóm yếu thế; đồng thời, thiết lập và duy trì một cơ chế minh bạch, hiệu quả để giám sát quyền con người ở cả khu vực công và tư, theo thể chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc thúc đẩy quyền con người, quyền công dân đòi hỏi Nhà nước và các chủ thể trong xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền không chỉ thụ động, mà quan trọng hơn, là phải chủ động xây dựng và triển khai, thực hiện các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình, biện pháp quản lý cụ thể, để hỗ trợ các cá nhân và tập thể có điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc thụ hưởng và phát triển các quyền của mình.

2.2. Các yếu tố bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Bảo đảm, bảo vệ quyền con người là một quá trình và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, các yếu tố bảo đảm quyền con người cần thiết lập đó là:

Thứ nhất, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện qua nhiều Văn kiện Đại hội Đảng. Ngay từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6/1991, được bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”[8]. Quan điểm trên tiếp tục được quán triệt trong Đại hội XIII của Đảng, theo đó: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”[9].

Quan điểm của Đảng chính là sự kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[10]. Quan điểm nhân dân là trung tâm, là chủ thể trong chiến lược phát triển đã làm rõ hơn về chủ thể thụ hưởng quyền con người đó chính là nhân dân. Theo đó, trong các chương trình, chính sách phát triển của Đảng đều phải hướng trọng tâm vào con người - nhân dân; lấy quyền và lợi ích chính đáng của con người là cơ sở xây dựng và hoạch định chính sách phát triển quốc gia; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu cao nhất trong hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

Thứ hai, hệ thống thể chế pháp lý hoàn thiện để bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Hệ thống thể chế pháp lý đó chính là hệ thống pháp luật hoàn thiện. Dưới góc độ khoa học, hệ thống pháp luật hoàn thiện phải đáp ứng các tiêu chí về tính toàn diện, đồng bộ; tính khách quan, khoa học; tính khả thi; tính ổn định và gọn nhẹ; tính công khai, minh bạch; tính hài hòa giữa quy định pháp luật quốc gia với quy định pháp luật quốc tế và đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật lập pháp hiện đại. Theo đó, để bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam hiện nay thì việc tạo lập một hệ thống pháp luật hoàn thiện đáp ứng các yêu cầu cơ bản nêu trên chính là cơ sở, hành lang pháp lý và yêu cầu cấp thiết.

Thứ ba, hệ thống các thiết chế bảo đảm quá trình tổ chức, thực hiện các quy định pháp luật có liên quan đến quyền con người.

Thuật ngữ “các thiết chế” được khai thác dưới góc độ các tổ chức tồn tại trong xã hội, đặc biệt là Nhà nước - bộ máy nhà nước đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền con người, bảo đảm quyền con người hiện nay. Xét ở góc độ thiết chế nhà nước, một bộ máy có năng lực tổ chức và nguồn nhân lực dồi dào, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sẽ là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện, bảo vệ quyền con người hiệu quả. Xét ở góc độ xã hội, việc phát huy vai trò của các tổ chức khác trong xã hội như Đảng, Đoàn, Mặt trận hay các Hội cùng chung tay với Nhà nước để thực hiện quy định pháp luật về quyền con người và góp phần đáng kể trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đạt hiệu quả cao.

Bên cạnh đó, các yếu tố như điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, nhận thức của con người trong xã hội, vấn đề hội nhập, xu hướng dân chủ - yêu hòa bình và nhiều yếu tố khác đều ít nhiều có những tác động nhất định đến việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Việc xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố trên là cần thiết, góp phần quyết định hiệu quả việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người hiện nay.

3. Thực trạng bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

3.1. Những thành tựu cơ bản

Từ năm 1986 khi Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lấy con người là trung tâm, trải qua hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong thực hiện và bảo đảm, bảo vệ quyền con người, có thể kể tới một số điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, Việt Nam đã xây dựng hệ thống thể chế pháp lý về quyền con người và bảo đảm quyền con người tương đối đầy đủ và ngày càng hoàn thiện. Đây chính là sự hiện thực hóa nội dung “công nhận” và tạo cơ sở cho việc thực hiện bảo đảm quyền con người.

Quyền con người được đề cập cụ thể trong Hiến pháp năm 1992 với quy định tại Điều 50: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Đây chính là thành tựu bước đầu thể hiện sự coi trọng vấn đề quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Nam. Kế tiếp đó, một số các quyền khác như quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền trẻ em… cũng được chính thức đề cập trong Hiến pháp năm 1992 và các văn bản pháp luật khác liên quan. Xét riêng trên lĩnh vực lập pháp, chỉ tính từ năm 1996 đến năm 2002, Nhà nước đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 bộ luật và luật, trên 120 pháp lệnh, gần 850 văn bản pháp luật của Chính phủ và trên 3.000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành, trong đó đã “nội luật hóa” một cách toàn diện những công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX và trong thời kỳ này. Đây là điều mà trong giai đoạn trước hầu như chúng ta chưa làm được[11].

Tại Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam, các quy định về quyền con người, bảo đảm quyền con người có sự phát triển đáng kể. Từ vị trí thứ năm, Chương Quyền công dân của Hiến pháp năm 1992 được chuyển lên vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 2013, thể hiện sự quan tâm vượt bậc, cũng như nhận thức của các nhà lập hiến Việt Nam về tầm quan trọng của quyền con người và quyền công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quá trình soạn thảo Chương về quyền con người và quyền công dân đã được tham khảo, đối chiếu một cách tương đối toàn diện với tiêu chuẩn của các quy định nhân quyền của các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết. Đi sâu hơn vào nội dung Chương II, có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 có một số thay đổi cụ thể như sau: Không đồng nhất “quyền con người” với “quyền công dân” mà có sử dụng hợp lý hai thuật ngữ này trong từng lĩnh vực cụ thể; thay đổi tư duy pháp lý về quyền con người theo hướng quyền con người là tự nhiên, vốn có, Nhà nước có trách nhiệm ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người; thừa nhận một số quyền mới bảo đảm sự tương thích với quy định trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia… Có thể thấy, những thay đổi trong Hiến pháp năm 2013 là phù hợp với quy định pháp luật quốc tế, đồng thời đã khắc phục những hạn chế trước đây.

Cùng với việc hoàn thiện thể chế pháp lý về quyền con người được ghi nhận trong các bản Hiến pháp, các văn bản pháp luật khác về quyền con người, bảo đảm quyền con người vẫn tiếp tục có sự phát triển mạnh. Từ năm 2013 cho đến nay, công tác cải cách pháp luật, hoàn thiện thể chế, chính sách đã được đẩy mạnh với hơn 100 luật, bộ luật có liên quan đến quyền con người được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt, ngày 20/11/2019, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi) với nhiều quy định mới, bảo đảm tốt hơn quyền của người lao động, cơ bản tương thích với các điều ước quốc tế quan trọng của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) năm 2018, Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao về Chỉ số phát triển con người (xếp hạng 116/189 quốc gia); Chỉ số bình đẳng giới (xếp hạng 67/160 quốc gia)[12]. Những nỗ lực của Việt Nam nêu trên nhằm xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý cho việc thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, xây dựng được hệ thống thiết chế (Nhà nước và các tổ chức khác trong xã hội) bảo đảm quyền con người và không ngừng đổi mới các thiết chế trên phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm phát huy vai trò, hiệu quả tối đa trong bảo vệ quyền con người.

Xét ở góc độ các thiết chế nhà nước mà cụ thể chính là tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay, trong đó nhấn mạnh các cơ quan quan trọng như Quốc hội, Chính phủ và Tòa án. Từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới (đặc biệt từ năm 2013 đến nay), tổ chức và hoạt động của các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ và hệ thống Tòa án đều có sự đổi mới đáng kể theo phương châm “tinh gọn - khoa học - hiệu quả”. Trong lĩnh vực quyền con người, bảo đảm quyền con người, hoạt động của các cơ quan nêu trên cũng đổi mới và thu được những thành tựu đáng kể. Quốc hội đã ban hành Hiến pháp, bộ luật, luật trên tinh thần đề cao, tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Chính phủ - cơ quan đưa các quy định pháp luật nói chung và pháp luật về quyền con người đi vào đời sống, bảo đảm quyền con người được thực thi trong đời sống. Hệ thống Tòa án - cơ quan có nhiệm vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người” đã có những sự đổi mới đáng kể từ năm 2014 đến nay nhằm phát huy tối đa vai trò của cơ quan tư pháp trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Xét từ góc độ xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay thực sự là công việc chung của toàn xã hội, không riêng của Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, các tổ chức khác trong xã hội như Đảng, Đoàn, Mặt trận và các Hội ở nước ta thời gian vừa qua đã tham gia đáng kể vào quá trình thực hiện, bảo đảm quyền con người hiện nay. Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức lãnh đạo xã hội, luôn lấy con người là trung tâm, vì vậy mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều xuất phát từ con người và suy cho cùng nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích chính đáng của con người, tôn trọng và bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực đời sống. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, với chức năng tập hợp các lực lượng quần chúng trong xã hội; hoặc Công đoàn Việt Nam - tổ chức đại diện quyền lợi của người lao động và nhiều tổ chức khác ở Việt Nam cũng phát huy vai trò trong việc bảo đảm quyền con người hiện nay.

Thứ ba, nhìn chung, các quyền con người và việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay đã được hiện thực hóa trong tất cả các lĩnh vực cơ bản, quan trọng của đời sống xã hội.

Trong lĩnh vực chính trị: Nhà nước Việt Nam đã thừa nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người cơ bản như quyền làm chủ của nhân dân; quyền tham gia quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước; quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và cùng nhau phát triển của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam; quyền được sống trong đất nước độc lập, có chủ quyền.

Trong lĩnh vực kinh tế: Nhà nước Việt Nam công nhận và bảo đảm các quyền con người cơ bản như quyền về sở hữu, quyền lao động, quyền có việc làm, quyền được sản xuất - kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế… các quyền trên đều được hiện thực hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tư tưởng của Nhà nước, quyền con người luôn được ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm trong thực tế. Trên thực tiễn, mọi người trong xã hội Việt Nam hiện nay đều được hưởng các quyền tự do tín ngưỡng, văn hóa; quyền tự do đi lại; quyền được tiếp cận thông tin; quyền được học tập; quyền được chăm sóc về y tế; các quyền an sinh xã hội; các quyền công dân cơ bản…

Trong lĩnh vực đối ngoại cũng như hợp tác quốc tế, Việt Nam là thành viên của Công ước quốc tế về quyền con người và luôn nỗ lực để thực hiện các quy định trong Công ước nhằm bảo vệ quyền con người.

3.2. Một số hạn chế

Bên cạnh các thành tựu kể trên, việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:

Thứ nhất, hệ thống thể chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay trong một số trường hợp chưa phù hợp và chưa đầy đủ so với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia.

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) là một trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người đã được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) theo Nghị quyết số 2200 A (XXI) ngày 16/2/1966. Việt Nam đã gia nhập ICCPR và ICESCR ngày 24/9/1982. Là thành viên của cả hai công ước, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ những quyền con người được ghi nhận trong các công ước này và phải “nội luật hóa” vào các quy định pháp luật quốc gia.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn chưa có quy định về một số quyền con người đã được ghi nhận trong hai công ước trên. Đó là các quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch (Điều 8 ICCPR); quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11 ICCPR); quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật ở mọi nơi (Điều 16 ICCPR); quyền đình công (Điều 8.1 ICECSR); quyền thành lập, gia nhập công đoàn (Điều 22 ICCPR, Điều 8.1 ICESCR); tự do tư tưởng (Điều 18.1 ICCPR); quyền được giữ quan điểm riêng mà không bị can thiệp (Điều 19.1 ICCPR). Bên cạnh đó, trong cả hai công ước trên các quyền như tự do đi lại, cư trú; quyền tự do lập hội, biểu tình; quyền có nơi ở hợp pháp… đều được thừa nhận là quyền con người và tất cả mọi người không phân biệt đều được hưởng. Tuy nhiên, tại Hiến pháp năm 2013 mới chỉ thừa nhận các quyền trên dành cho “công dân” và đó được xem là quyền công dân. Thiết nghĩ, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, các nhà lập pháp, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, xem xét để chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia.

Thứ hai, hoạt động của một số thiết chế ở Việt Nam chưa thực sự hiệu quả, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm quyền con người hiện nay, một số quyền con người mới dừng ở mức độ công nhận, việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong thực tiễn gặp những khó khăn nhất định, hiệu quả chưa cao.

Trong thời gian vừa qua, các thiết chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam về cơ bản hoạt động hiệu quả, phát huy vai trò tích cực trong việc bảo vệ quyền con người ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng một số thiết chế chưa thực hiện đúng, đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình; thậm chí hiện tượng tham ô, tham nhũng, trục lợi xảy ra ở một số cơ quan nhà nước trong lĩnh vực cơ bản của đời sống gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến lợi ích của xã hội, của Nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, công dân bị xâm phạm. Những vụ việc xảy ra gần đây như vụ việc Công ty Việt Á; những hành vi thao túng thị trường chứng khoán của cá nhân tại các tập đoàn lớn như FLC hay Tân Hoàng Minh… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Bên cạnh đó, sự tham gia của các tổ chức - với tư cách là các thiết chế khác trong xã hội để cùng bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam cũng chưa thực sự chủ động và hiệu quả. Sự phối hợp giữa Nhà nước và các tổ chức khác trong xã hội trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong một số trường hợp còn hạn chế, ảnh hưởng nhất định đến kết quả của việc bảo vệ quyền con người.

3.3. Nguyên nhân

Bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam thời gian vừa qua (tính từ năm 1986, đặc biệt là từ 2013 trở lại đây) đã đạt được những kết quả đáng kể xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

Xuất phát từ quan điểm đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong đời sống xã hội. Đảng luôn đề cao con người, coi con người là chủ thể, là trung tâm của chiến lược phát triển. Chính nhờ quan điểm nhất quán đó, mà mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều xuất phát từ con người và mục đích cuối cùng nhằm bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của con người. Hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống quy định pháp luật trên tinh thần ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Theo đó, hệ thống thể chế pháp lý về quyền con người và bảo đảm quyền con người được hình thành và cơ bản đáp ứng, phản ánh nhu cầu khách quan sự vận động, phát triển của xã hội.

Cùng với sự quan tâm, chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, từ năm 1986 khi Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước có sự thay đổi căn bản. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự đổi mới về tư duy, nhận thức của con người… là những yếu tố quan trọng thúc đẩy việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng có tính hai mặt, bên cạnh những tác động tích cực như tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật - hạ tầng cho việc thực hiện, bảo đảm quyền con người được tốt hơn; đồng thời, nó cũng có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực như tình trạng bóc lột sức lao động, sự phân hóa xã hội… dẫn tới nguy cơ quyền con người bị xâm phạm nhiều hơn. Bởi vậy, tính hai mặt của nền kinh tế thị trường vừa tạo những thuận lợi cho bảo đảm quyền con người nhưng cũng gây ra những khó khăn nhất định đến công tác bảo đảm quyền con người hiện nay.

Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân trong xã hội về quyền con người và bảo đảm, bảo vệ quyền con người còn hạn chế. Trong nhiều trường hợp, người dân chưa nhận thức được những quyền cơ bản mà họ được hưởng nên không đấu tranh để được hưởng những quyền đó. Hoặc số ít người dân có thể nhận thức được về quyền con người nhưng lại chưa thấy được sự cần thiết phải bảo đảm, dẫn đến tâm lý biết quyền con người của bản thân bị xâm phạm nhưng họ “cam chịu”. Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến một số hạn chế, tồn tại trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Ngoài ra, với xu hướng phát triển của nền dân chủ, yêu chuộng hòa bình, hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực trong đó có vấn đề công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người của các quốc gia trên thế giới. Điều này buộc mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng phải không ngừng nỗ lực để bảo đảm quyền con người trong thực tế.

4. Một số giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con người là quan trọng và cấp thiết. Để việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay thực sự hiệu quả, theo tác giả cần triển khai nhanh một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục kiên định lập trường tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được đề ra từ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) về vấn đề bảo đảm và thúc đẩy quyền con người và không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Có thể thấy, từ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), đặc biệt là Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về công tác nhân quyền trong tình hình mới đã đúc kết những quan điểm cơ bản về quyền con người[13] là: (i) Quyền con người là giá trị chung của nhân loại; (ii) Quyền con người, về bản chất không có tính giai cấp, nhưng trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm về quyền con người mang tính giai cấp; (iii) Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia; (iv) Quyền con người là mục tiêu, bản chất, động lực của chế độ xã hội chủ nghĩa; (v) Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân kết hợp hài hòa với quyền tập thể và không tách rời nghĩa vụ, trách nhiệm công dân; (vi) Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật; trách nhiệm của Nhà nước, của tất cả các ngành, các địa phương, cơ sở là phải tích cực, chủ động thực hiện nhằm ngày càng hoàn thiện và nâng cao các quyền con người; (vii) Chủ động, tích cực hợp tác, đồng thời sẵn sàng đối thoại và kiên quyết đấu tranh trong quan hệ quốc tế vì quyền con người.

Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo trên, Đảng cần tiếp tục cụ thể hóa thông qua các chủ trương, chính sách phát triển đất nước trong các lĩnh vực của đời sống; Nhà nước cần chi tiết hóa thông qua việc đưa ra các chính sách và đặc biệt là các quy định pháp luật từ Hiến pháp đến các văn bản pháp luật khác để thể hiện quan điểm nhất quán trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam.

Thứ hai, nâng cao nhận thức của các chủ thể trong xã hội về quyền con người và việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Thực tiễn hiện nay, ở nước ta, nhận thức của một bộ phận người dân về quyền con người còn khá hạn chế, đặc biệt là những người sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội hạn chế, mặt bằng dân trí chưa cao, họ chưa nhận thức hết được quyền mà sinh ra họ vốn được hưởng như quyền được tự do, quyền được bình đẳng, quyền được hưởng hạnh phúc… Đây chính là những cản trở trong việc thực hiện, bảo đảm quyền con người tại những vùng miền đó. Vì vậy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trong xã hội tại địa phương cần có những giải pháp để giúp họ nhận thức được về quyền con người thông qua các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục hoặc các buổi nói chuyện về quyền con người tại vùng miền đó với những phương thức đơn giản, gắn với cuộc sống của con người nơi đó.

Ngoài ra, với những trường hợp người dân đã nhận thức được về quyền con người nhưng nhu cầu bảo đảm với những quyền đó là thấp hoặc không có do chịu ảnh hưởng của tư duy lạc hậu, lỗi thời. Vì vậy, họ cam chịu, chấp nhận những gì xảy đến với họ như là “số phận đã định”, kể cả việc quyền con người của họ có thể bị xâm phạm nghiêm trọng… Trong những trường hợp này, cần có sự tuyên truyền, giác ngộ để người dân thấy được sự cần thiết của việc bảo đảm quyền con người nói chung và của bản thân họ nói riêng, đồng thời, cung cấp cho họ những công cụ trợ giúp pháp lý để người dân có thể sử dụng bất kể khi nào họ cần.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý về quyền con người, bảo đảm và thúc đẩy thực hiện quyền con người.

Cần tiếp tục nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung hệ thống các quy định pháp luật về quyền con người để bảo đảm quyền con người được hiện thực hóa trong đời sống, đầu tiên đó là các quy định trong Hiến pháp - văn bản quy phạm pháp luật có giá trị cao nhất của một quốc gia.

Chẳng hạn, cần nghiên cứu để bảo đảm sự phù hợp giữa quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 về việc hạn chế quyền con người với quy định trong các điều ước, công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Theo Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng”. Trong khi quy định của hai công ước về quyền con người là ICCPR và ICESCR mà Việt Nam là thành viên cũng có hạn chế quyền con người trong một số trường hợp nhưng có loại trừ với những quyền tuyệt đối (không thể bị hạn chế trong bất kể trường hợp nào). Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, bổ sung một số quyền con người vào Hiến pháp như quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch, quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật, quyền đình công; đồng thời, mở rộng một số quyền công dân đã ghi nhận trong Hiến pháp trở thành quyền con người như quyền tự do đi lại, cư trú; quyền tự do lập hội, hội họp, biểu tình; quyền có nơi ở hợp pháp; quyền được quyết định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ…

Thứ tư, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các thiết chế, trong đó quan trọng là Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền con người hiệu quả và khả thi.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các thiết chế, đặc biệt là nhấn mạnh và tập trung vào các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ và Tòa án, theo đó:

(i) Cần thiết nhấn mạnh vai trò lập pháp của Quốc hội: Với vai trò là cơ quan lập pháp, Quốc hội có nhiệm vụ cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về quyền con người thành các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trước hết, ưu tiên xây dựng các đạo luật về quyền con người, tạo cơ sở pháp lý để tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước và toàn xã hội.

(ii) Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ - cơ quan hành pháp theo hướng kiến tạo, phát triển, năng động và bảo đảm quyền con người. Theo đó, Chính phủ cần chủ động, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về quyền con người và bảo đảm các quy định đó đi vào đời sống. Đồng thời, Chính phủ phải tổ chức hợp lý, khoa học việc thực hiện các quy định hướng dẫn về quyền con người; chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người, đặc biệt ở những vùng kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo. Thêm vào đó, để bảo đảm việc tổ chức, thực hiện quy định pháp luật về quyền con người cần tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm quy định pháp luật, xâm phạm quyền lợi của Nhà nước, của xã hội và của công dân, cá nhân trong xã hội.

(iii) Tăng tính độc lập của cơ quan tư pháp với mục đích: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”[14]. Thực tiễn cho thấy, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà đặc biệt là Tòa án - cơ quan tư pháp ở Việt Nam hiện nay có ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện, bảo đảm quyền con người hiện nay. Hệ thống Tòa án có trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người nhưng nếu không đủ “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” rất dễ vi phạm quyền con người và có thể dẫn tới oan, sai. Hệ thống Tòa án - cơ quan tư pháp phải thực sự độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp mới là điều kiện quan trọng để bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

(iv) Đẩy mạnh sự phối hợp giữa Nhà nước với các thiết chế xã hội khác; phát triển kinh tế bền vững, trở thành trụ cột quan trọng, đủ khả năng đáp ứng các điều kiện về vật chất - kỹ thuật - hạ tầng trong bảo vệ quyền con người; nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc hình thành thiết chế độc lập về nhân quyền và xem xét khả năng vận dụng ở Việt Nam trong tương lai… cũng là những giải pháp quan trọng cần làm.

TS. Phí Thị Thanh Tuyền

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Xem: OHCHR, Freequently Asked Questinons on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr. 1.

[2]. Xem: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009, tr. 38.

[3]. Xem: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012, tr. 45.

[4]. Xem: Ngôn ngữ Việt Nam - Nguyễn Quang, Minh Trí, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2013, tr. 61 - 63.

[5]. Xem: Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, Nxb. Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 34

[6]. Xem: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu mô hình xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, Hà Nội, 2014, tr. 27.

[7]. Xem: Báo cáo tổng hợp Đề tài cấp nhà nước “Quyền con người trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế - Lý luận và thực tiễn”, mã số KX.04.27/11-15, Chủ nhiệm: PGS. TS. Nguyễn Thanh Tuấn, Hà Nội, 2015, tr. 52 - 53.

[8]. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr. 76.

[9]. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr. 71 và tr. 27 - 28.

[10]. Xem: Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 453.

[11]. Xem: Phạm Ngọc Anh, “Quyền con người ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp đảm bảo phát triển”, https://khoaluat.duytan.edu.vn/goc-hoc-tap/quyen-con-nguoi-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-va-giai-phap-dam-bao-phat-trien/, truy cập ngày 12/4/2022.

[12]. Xem: Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, http://tapchiqptd.vn/vi/quan-triet-thuc-hien-nghi-quyet/quan-diem-dai-hoi-xiii-cua-dang-ve-bao-dam-va-thuc-day-quyen-con-nguoi/16961.html, truy cập lần cuối ngày 10/4/2022.

[13]. Xem: PGS.TS. Nguyễn Thanh Tuấn, Thực hiện quan điểm của Đảng về quyền con người, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/11/04/thuc-hien-quan-diem-cua-dang-ve-quyen-con-nguoi-2/, truy cập ngày 15/4/2022.

[14]. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2021, tr. 177.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 374, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: