Thứ tư 20/05/2026 10:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013

Bài viết nghiên cứu về bảo đảm các quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013, từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Hiến pháp trong việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam.

1. Các quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013

Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và các công ước quốc tế về quyền con người đều bảo đảm sự thừa nhận, phát huy sự tôn trọng và thực thi các quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền dân sự, chính trị như một tiêu chuẩn chung cho tất cả các dân tộc và mỗi cá nhân. Quyền dân sự, chính trị là một nhóm quyền cơ bản, thiết yếu cấu thành quyền con người. Ở Việt Nam, các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 là nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc và ổn định cho việc tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các lực lượng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước. Hiến pháp năm 2013 đã có những bước phát triển quan trọng nhằm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền dân sự, chính trị. Cùng với những quyền con người, quyền công dân khác, các quyền dân sự, chính trị được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện là một trong những thành quả vĩ đại nhất của cách mạng nước ta, trực tiếp phản ánh quyền làm chủ đất nước của Nhân dân dưới chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Về phương diện lý luận, quyền con người thường được chia thành hai nhóm chính: Nhóm quyền dân sự, chính trị và nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa[1]. Năm 1966, Liên Hợp quốc thông qua hai công ước nhân quyền quan trọng là: Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR). Các công ước trên cũng vận động và thúc đẩy sự hình thành, phát triển, hoàn thiện hai nhóm quyền này. Các quyền dân sự, chính trị là một bộ phận cơ bản, có vị trí đặc biệt quan trọng trong tổng thể quyền con người, quyền công dân. Giữa hai nhóm quyền trên có những sự phân biệt nhất định, chẳng hạn, các quyền dân sự, chính trị đòi hỏi nghĩa vụ “thực hiện ngay” thì các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa bổ sung nghĩa vụ “thực hiện từng bước”[2].

Về khái niệm quyền dân sự, chính trị: Công ước ICCPR năm 1966 không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê một loạt các quyền tự do cơ bản của con người trên cả hai lĩnh vực dân sự, chính trị. Khái quát quy định trong công ước quốc tế, có thể hiểu một cách đơn giản, quyền dân sự, chính trị là quyền của cá nhân được tham gia một cách trực tiếp và đại diện vào công việc của Nhà nước và xã hội, là những quyền cá nhân, gắn với nhân thân của mỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc lập và không thể chuyển giao cho người khác. Còn quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được hiểu là các quyền cá nhân và cả quyền cộng đồng, những quyền này liên quan đến những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa cơ bản cần thiết để mỗi cá nhân có được một cuộc sống trong nhân phẩm và tự do, bao gồm các quyền căn bản như: Quyền làm việc; quyền có mức sống thích đáng; quyền được thành lập và gia nhập công đoàn; quyền được hưởng an sinh xã hội; quyền được hưởng một tiêu chuẩn sức khỏe ở mức cao nhất có thể; quyền được học tập; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa...

Trong phạm vi quốc gia, pháp luật bảo đảm, bảo vệ quyền dân sự, chính trị thể hiện ở việc ghi nhận các quyền này trong Hiến pháp, pháp luật, hoàn thiện các thiết chế, bộ máy nhằm bảo đảm, bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền này. Đó cũng là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã chỉ rõ: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền con người”. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm các quyền con người, cụ thể là: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Các quyền dân sự, chính trị được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp năm 2013 đã trở thành nền tảng pháp lý cho sự tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc về hạn chế quyền: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác” (khoản 2); “việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (khoản 4).

Các quyền dân sự, chính trị được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 như sau: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 16). Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật (Điều 19). Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm (khoản 1 Điều 20). Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm (khoản 3 Điều 20). Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình (khoản 1 Điều 21). Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác (khoản 2 Điều 21). Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (khoản 2 Điều 22). Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định (Điều 23). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật (khoản 1 Điều 24). Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định (Điều 25). Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định (Điều 27). Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29). Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 30). Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34). Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau (Điều 36). Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 38). Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 39). Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42). Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43).

2. Kết quả đạt được trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm các quyền dân sự, chính trị theo Hiến pháp năm 2013

Hiện nay, việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị luôn trở thành mối quan tâm chung của toàn nhân loại và trở thành những giá trị cơ bản mà mỗi Nhà nước hướng tới nhằm thu hút đông đảo công dân tham gia tích cực, sâu, rộng vào đời sống chính trị, góp phần thúc đẩy dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội.

Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận, mở rộng và cụ thể hóa các quyền dân sự, chính trị tạo điều kiện để bảo vệ và thúc đẩy các quyền này một cách thực chất, hiệu quả hơn. Các quyền dân sự, chính trị được quy định ở Chương II Hiến pháp năm 2013 cho thấy vị trí, tầm quan trọng của nó, bảo đảm các quyền này được thực thi trong thực tế mà không phải là một quyền hình thức. Quy định này cho thấy, Nhà nước ta thể hiện cam kết chính trị rất rõ ràng và mạnh mẽ với việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người (thông qua việc ký kết nhiều điều ước về nhân quyền).

Các quy định về quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013 được viết rõ ràng, ngắn gọn, cụ thể hơn rất nhiều. Từ đó, nhận thức, ý thức tôn trọng các quyền dân sự, chính trị trong những năm qua đã tăng lên đáng kể. Hoạt động giáo dục, tuyên truyền về quyền dân sự, chính trị đã và đang có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các đoàn thể xã hội góp phần thúc đẩy tổ chức thực hiện và giám sát thực thi, đồng thời giúp phát hiện và xử lý hành vi vi phạm các quyền dân sự, chính trị một cách kịp thời, tạo thuận lợi cho việc áp dụng trong thực tế.

Từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành, Việt Nam đã rất nỗ lực xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật bảo đảm các quyền dân sự, chính trị nói riêng. Nhiều đạo luật, nghị quyết của Quốc hội điều chỉnh trực tiếp và có liên quan đến quyền dân sự, chính trị, góp phần cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, cũng như các điều ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị mà Việt Nam là thành viên đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Luật Tiếp công dân năm 2013, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019, Luật Cư trú năm 2020, Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, Luật Thanh tra năm 2022, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Luật Phòng thủ dân sự năm 2023, Luật Căn cước năm 2023, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở năm 2023, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, Luật Đất đai năm 2024…

Đồng thời, để thực hiện nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, trong đó có quyền dân sự, chính trị, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó đã xác định rõ hơn thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có liên quan đến bảo đảm, bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền dân sự, chính trị và hoàn thiện pháp luật về xử lý các hành vi xâm phạm các quyền này, như: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Luật Quốc phòng năm 2018, Luật Công an nhân dân năm 2018, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)…

Đặc biệt, Việt Nam đã tích cực hoàn thiện pháp luật có liên quan để tạo điều kiện cho các cá nhân được thụ hưởng quyền dân sự, chính trị của mình ở mức độ cao nhất có thể; ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để hỗ trợ các cá nhân được tiếp cận thông tin, hiểu rõ hơn và có cơ hội thực hiện quyền dân sự, chính trị của mình, như: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017…

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013

Việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị của công dân ở nước ta cần được tiến hành đồng thời và đồng bộ với nhiều giải pháp khác nhau, cụ thể như:

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu thể chế đường lối, chủ trương của Đảng nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn nữa các quyền dân sự, chính trị: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới đã xác định mục tiêu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là: “Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là thể chế hóa, cụ thể hóa thành luật và các văn bản dưới luật; tạo chuyển biến thực sự, đạt kết quả cao trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng ở các cấp”; “Thể chế hóa đầy đủ và thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở. Tổng kết việc thực hiện và nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng phát huy tốt hơn các hình thức dân chủ trực tiếp của Nhân dân; có cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của Nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của Nhân dân”[3]. Để đạt được mục tiêu đó, cần thực hiện tốt các giải pháp thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, với các biện pháp cụ thể sau: Nghiên cứu, bổ sung một số quyền con người vào Hiến pháp như quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch, quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật, quyền đình công. Đồng thời, nghiên cứu quy định, cụ thể hóa một số quyền công dân đã ghi nhận trong Hiến pháp như: Quyền tự do đi lại, cư trú; quyền tự do lập hội, hội họp, biểu tình; quyền có nơi ở hợp pháp; quy định về tổ chức, hoạt động quản lý hội…

Thứ hai, thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất các quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền dân sự, chính trị: Thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền dân sự, chính trị và sự bảo đảm của Nhà nước nằm trong tổng thể việc thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[4], trong đó có các quyền dân sự, chính trị. Để bảo đảm thực hiện các quyền này, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo quyết liệt hơn nữa trong việc cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, cẩn trọng, chặt chẽ, hài hòa với lợi ích quốc gia, phù hợp với pháp luật quốc tế và bối cảnh, tình hình chính trị, văn hóa của đất nước.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế tư pháp để bảo đảm quyền dân sự, chính trị: Cụ thể các quy định của Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới: “Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”. Việc bảo vệ quyền dân sự, chính trị phụ thuộc rất nhiều vào thủ tục tố tụng, vào sự công bằng, nghiêm minh của Tòa án. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế tư pháp để bảo vệ có hiệu quả hơn nữa quyền dân sự, chính trị của người dân.

Thứ tư, nghiên cứu chế định đầy đủ nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền dân sự, chính trị: Điều 28 Hiến pháp năm 2013 khẳng định quyền tham gia quản lý nhà nước và nêu rõ Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân. Quy định này đã ràng buộc nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền của người dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Vì thế, cần phải thể chế hóa, cụ thể hóa và bảo đảm các quyền này của người dân được thực hiện trong thực tế.

Thứ năm, tiếp tục nâng cao nhận thức về các quyền dân sự, chính trị: Có thể nói, việc ghi nhận quyền dân sự, chính trị của Nhân dân và sự bảo đảm, bảo vệ các quyền đó bằng Hiến pháp và pháp luật là sự thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Chính vì vậy, nhận thức đúng đắn và không ngừng nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng các quyền dân sự, chính trị của Nhân dân; sự bảo đảm các quyền đó bằng Hiến pháp và pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước là tiền đề vô cùng quan trọng để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.

Vì vậy, trong thời gian tới, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các diễn đàn khác, cần sử dụng đồng bộ, linh hoạt và đa dạng các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy định của Hiến pháp về quyền dân sự, chính trị. Đồng thời, kết hợp bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, niềm tin và ý thức trách nhiệm đối với xã hội cho Nhân dân./.

ThS. Nguyễn Tiến Dũng

Học viện Chính trị khu vực I

[1]. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 25.

[2]. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tlđd, tr. 25.

[3]. Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[4]. Nghị quyết số 27-NQ/TW, tlđd.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: