Thứ tư 11/03/2026 13:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013

Bài viết nghiên cứu về bảo đảm các quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013, từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Hiến pháp trong việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị ở Việt Nam.

1. Các quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013

Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và các công ước quốc tế về quyền con người đều bảo đảm sự thừa nhận, phát huy sự tôn trọng và thực thi các quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền dân sự, chính trị như một tiêu chuẩn chung cho tất cả các dân tộc và mỗi cá nhân. Quyền dân sự, chính trị là một nhóm quyền cơ bản, thiết yếu cấu thành quyền con người. Ở Việt Nam, các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 là nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc và ổn định cho việc tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các lực lượng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước. Hiến pháp năm 2013 đã có những bước phát triển quan trọng nhằm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền dân sự, chính trị. Cùng với những quyền con người, quyền công dân khác, các quyền dân sự, chính trị được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện là một trong những thành quả vĩ đại nhất của cách mạng nước ta, trực tiếp phản ánh quyền làm chủ đất nước của Nhân dân dưới chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Về phương diện lý luận, quyền con người thường được chia thành hai nhóm chính: Nhóm quyền dân sự, chính trị và nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa[1]. Năm 1966, Liên Hợp quốc thông qua hai công ước nhân quyền quan trọng là: Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR). Các công ước trên cũng vận động và thúc đẩy sự hình thành, phát triển, hoàn thiện hai nhóm quyền này. Các quyền dân sự, chính trị là một bộ phận cơ bản, có vị trí đặc biệt quan trọng trong tổng thể quyền con người, quyền công dân. Giữa hai nhóm quyền trên có những sự phân biệt nhất định, chẳng hạn, các quyền dân sự, chính trị đòi hỏi nghĩa vụ “thực hiện ngay” thì các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa bổ sung nghĩa vụ “thực hiện từng bước”[2].

Về khái niệm quyền dân sự, chính trị: Công ước ICCPR năm 1966 không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê một loạt các quyền tự do cơ bản của con người trên cả hai lĩnh vực dân sự, chính trị. Khái quát quy định trong công ước quốc tế, có thể hiểu một cách đơn giản, quyền dân sự, chính trị là quyền của cá nhân được tham gia một cách trực tiếp và đại diện vào công việc của Nhà nước và xã hội, là những quyền cá nhân, gắn với nhân thân của mỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc lập và không thể chuyển giao cho người khác. Còn quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được hiểu là các quyền cá nhân và cả quyền cộng đồng, những quyền này liên quan đến những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa cơ bản cần thiết để mỗi cá nhân có được một cuộc sống trong nhân phẩm và tự do, bao gồm các quyền căn bản như: Quyền làm việc; quyền có mức sống thích đáng; quyền được thành lập và gia nhập công đoàn; quyền được hưởng an sinh xã hội; quyền được hưởng một tiêu chuẩn sức khỏe ở mức cao nhất có thể; quyền được học tập; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa...

Trong phạm vi quốc gia, pháp luật bảo đảm, bảo vệ quyền dân sự, chính trị thể hiện ở việc ghi nhận các quyền này trong Hiến pháp, pháp luật, hoàn thiện các thiết chế, bộ máy nhằm bảo đảm, bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền này. Đó cũng là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã chỉ rõ: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền con người”. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm các quyền con người, cụ thể là: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Các quyền dân sự, chính trị được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp năm 2013 đã trở thành nền tảng pháp lý cho sự tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc về hạn chế quyền: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác” (khoản 2); “việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (khoản 4).

Các quyền dân sự, chính trị được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 như sau: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 16). Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật (Điều 19). Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm (khoản 1 Điều 20). Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm (khoản 3 Điều 20). Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình (khoản 1 Điều 21). Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác (khoản 2 Điều 21). Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (khoản 2 Điều 22). Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định (Điều 23). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật (khoản 1 Điều 24). Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định (Điều 25). Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định (Điều 27). Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29). Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 30). Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34). Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau (Điều 36). Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 38). Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 39). Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42). Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43).

2. Kết quả đạt được trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm các quyền dân sự, chính trị theo Hiến pháp năm 2013

Hiện nay, việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị luôn trở thành mối quan tâm chung của toàn nhân loại và trở thành những giá trị cơ bản mà mỗi Nhà nước hướng tới nhằm thu hút đông đảo công dân tham gia tích cực, sâu, rộng vào đời sống chính trị, góp phần thúc đẩy dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội.

Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận, mở rộng và cụ thể hóa các quyền dân sự, chính trị tạo điều kiện để bảo vệ và thúc đẩy các quyền này một cách thực chất, hiệu quả hơn. Các quyền dân sự, chính trị được quy định ở Chương II Hiến pháp năm 2013 cho thấy vị trí, tầm quan trọng của nó, bảo đảm các quyền này được thực thi trong thực tế mà không phải là một quyền hình thức. Quy định này cho thấy, Nhà nước ta thể hiện cam kết chính trị rất rõ ràng và mạnh mẽ với việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người (thông qua việc ký kết nhiều điều ước về nhân quyền).

Các quy định về quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013 được viết rõ ràng, ngắn gọn, cụ thể hơn rất nhiều. Từ đó, nhận thức, ý thức tôn trọng các quyền dân sự, chính trị trong những năm qua đã tăng lên đáng kể. Hoạt động giáo dục, tuyên truyền về quyền dân sự, chính trị đã và đang có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các đoàn thể xã hội góp phần thúc đẩy tổ chức thực hiện và giám sát thực thi, đồng thời giúp phát hiện và xử lý hành vi vi phạm các quyền dân sự, chính trị một cách kịp thời, tạo thuận lợi cho việc áp dụng trong thực tế.

Từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành, Việt Nam đã rất nỗ lực xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật bảo đảm các quyền dân sự, chính trị nói riêng. Nhiều đạo luật, nghị quyết của Quốc hội điều chỉnh trực tiếp và có liên quan đến quyền dân sự, chính trị, góp phần cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, cũng như các điều ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị mà Việt Nam là thành viên đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Luật Tiếp công dân năm 2013, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019, Luật Cư trú năm 2020, Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, Luật Thanh tra năm 2022, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Luật Phòng thủ dân sự năm 2023, Luật Căn cước năm 2023, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở năm 2023, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, Luật Đất đai năm 2024…

Đồng thời, để thực hiện nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, trong đó có quyền dân sự, chính trị, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó đã xác định rõ hơn thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có liên quan đến bảo đảm, bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền dân sự, chính trị và hoàn thiện pháp luật về xử lý các hành vi xâm phạm các quyền này, như: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Luật Quốc phòng năm 2018, Luật Công an nhân dân năm 2018, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)…

Đặc biệt, Việt Nam đã tích cực hoàn thiện pháp luật có liên quan để tạo điều kiện cho các cá nhân được thụ hưởng quyền dân sự, chính trị của mình ở mức độ cao nhất có thể; ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để hỗ trợ các cá nhân được tiếp cận thông tin, hiểu rõ hơn và có cơ hội thực hiện quyền dân sự, chính trị của mình, như: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017…

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp năm 2013

Việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị của công dân ở nước ta cần được tiến hành đồng thời và đồng bộ với nhiều giải pháp khác nhau, cụ thể như:

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu thể chế đường lối, chủ trương của Đảng nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn nữa các quyền dân sự, chính trị: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới đã xác định mục tiêu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là: “Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là thể chế hóa, cụ thể hóa thành luật và các văn bản dưới luật; tạo chuyển biến thực sự, đạt kết quả cao trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng ở các cấp”; “Thể chế hóa đầy đủ và thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở. Tổng kết việc thực hiện và nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng phát huy tốt hơn các hình thức dân chủ trực tiếp của Nhân dân; có cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của Nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của Nhân dân”[3]. Để đạt được mục tiêu đó, cần thực hiện tốt các giải pháp thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, với các biện pháp cụ thể sau: Nghiên cứu, bổ sung một số quyền con người vào Hiến pháp như quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch, quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật, quyền đình công. Đồng thời, nghiên cứu quy định, cụ thể hóa một số quyền công dân đã ghi nhận trong Hiến pháp như: Quyền tự do đi lại, cư trú; quyền tự do lập hội, hội họp, biểu tình; quyền có nơi ở hợp pháp; quy định về tổ chức, hoạt động quản lý hội…

Thứ hai, thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất các quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền dân sự, chính trị: Thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền dân sự, chính trị và sự bảo đảm của Nhà nước nằm trong tổng thể việc thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[4], trong đó có các quyền dân sự, chính trị. Để bảo đảm thực hiện các quyền này, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo quyết liệt hơn nữa trong việc cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, cẩn trọng, chặt chẽ, hài hòa với lợi ích quốc gia, phù hợp với pháp luật quốc tế và bối cảnh, tình hình chính trị, văn hóa của đất nước.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế tư pháp để bảo đảm quyền dân sự, chính trị: Cụ thể các quy định của Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới: “Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”. Việc bảo vệ quyền dân sự, chính trị phụ thuộc rất nhiều vào thủ tục tố tụng, vào sự công bằng, nghiêm minh của Tòa án. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế tư pháp để bảo vệ có hiệu quả hơn nữa quyền dân sự, chính trị của người dân.

Thứ tư, nghiên cứu chế định đầy đủ nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền dân sự, chính trị: Điều 28 Hiến pháp năm 2013 khẳng định quyền tham gia quản lý nhà nước và nêu rõ Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân. Quy định này đã ràng buộc nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền của người dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Vì thế, cần phải thể chế hóa, cụ thể hóa và bảo đảm các quyền này của người dân được thực hiện trong thực tế.

Thứ năm, tiếp tục nâng cao nhận thức về các quyền dân sự, chính trị: Có thể nói, việc ghi nhận quyền dân sự, chính trị của Nhân dân và sự bảo đảm, bảo vệ các quyền đó bằng Hiến pháp và pháp luật là sự thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Chính vì vậy, nhận thức đúng đắn và không ngừng nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng các quyền dân sự, chính trị của Nhân dân; sự bảo đảm các quyền đó bằng Hiến pháp và pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước là tiền đề vô cùng quan trọng để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.

Vì vậy, trong thời gian tới, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các diễn đàn khác, cần sử dụng đồng bộ, linh hoạt và đa dạng các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy định của Hiến pháp về quyền dân sự, chính trị. Đồng thời, kết hợp bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, niềm tin và ý thức trách nhiệm đối với xã hội cho Nhân dân./.

ThS. Nguyễn Tiến Dũng

Học viện Chính trị khu vực I

[1]. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 25.

[2]. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tlđd, tr. 25.

[3]. Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[4]. Nghị quyết số 27-NQ/TW, tlđd.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: