Thứ tư 14/01/2026 11:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật ở Việt Nam

Trong xã hội, trẻ em là một trong những đối tượng yếu thế nhất nên phải được quan tâm đầu tư để bảo đảm sự bình đẳng. Hơn nữa, trẻ em là tương lai của đất nước, của dân tộc nên việc đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho tương lai. Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em.

Từ đó đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc gia, như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Phổ cập giáo dục, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự... được ban hành hay sửa đổi đều quan tâm thích đáng đến quyền lợi của trẻ em. Bài viết này đề cập đến một số thành tựu về bảo đảm thực hiện quyền trẻ em thông qua hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật ở Việt Nam; đồng thời, phân tích những hạn chế và đưa ra các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về quyền của trẻ em.

1. Một số thành tựu về bảo đảm thực hiện quyền trẻ em thông qua hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật ở Việt Nam

Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em vào năm 1990 mà không bảo lưu điều, khoản nào. Trong suốt 25 năm qua, Việt Nam đã nỗ lực xây dựng pháp luật trong nước hài hòa với các quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên. Sau 25 năm, hoạt động xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo đảm thực hiện quyền trẻ em, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng kể, như:

Một là, hệ thống luật pháp, chính sách không ngừng được hoàn thiện theo hướng tiếp cận toàn diện dựa trên quyền trẻ em

Trong những năm qua, có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được xây dựng nhằm giải quyết những khía cạnh khác nhau trong vấn đề bảo vệ trẻ em. Kể từ ngày Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 được ban hành (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005), nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được ban hành, như: Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới; Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; Chính phủ ban hành 10 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 12 Quyết định; Ban hành 12 Thông tư và Thông tư liên tịch; 1 Quyết định của Bộ trưởng; 2 kế hoạch liên ngành. Năm 2015, đã và đang tiếp tục hoàn thiện 4 chương trình, đề án để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt[1].

Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của 63 tỉnh, thành phố, các địa phương đã tham mưu cho Tỉnh ủy ký ban hành 82 văn bản; Hội đồng nhân dân (HĐND) ban hành 46 nghị quyết, kế hoạch; Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh ban hành 860 quyết định, kế hoạch, công văn và trên 110 văn bản, kế hoạch liên tịch giữa các ngành ở địa phương để triển khai, thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em[2]. Một số chương trình đã được xây dựng và triển khai nhằm giúp đỡ đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó phải kể đến Chương trình bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999 - 2002 (được phê duyệt bởi Quyết định số 134/1999/QĐ-TTg ngày 31/5/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999 - 2002), Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004 - 2010 (được phê duyệt bởi Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004 - 2010) và Chương trình hành động quốc gia đấu tranh phòng, chống mại dâm giai đoạn 2006 - 2010; Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống buôn bán người; Quyết định 312/2005/QĐ-TTg ngày 30/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt các đề án thuộc Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2005 đến năm 2010; Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ và trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về và Kế hoạch quốc gia về phòng, chống tội phạm giai đoạn 2005 - 2010 (bao gồm các điều khoản về các hành vi phạm tội do trẻ em thực hiện và tội phạm chống lại trẻ em), Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS”.

Ngày 05/4/2016, Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua đã tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các quyền trẻ em, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo hướng tiếp cận dựa trên quyền trẻ em. Luật Trẻ em năm 2016 đã quy định cụ thể các quyền và bổn phận của trẻ em; sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em; các biện pháp bảo vệ trẻ em ba cấp độ (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp); chăm sóc thay thế cho trẻ em; trách nhiệm thực hiện quyền trẻ em; các hành vi vi phạm quyền trẻ em bị nghiêm cấm. Đặc biệt, ghi nhận đầy đủ, toàn diện các quyền trẻ em, được Hiến định tại Điều 37 Hiến pháp năm 2013 về trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Nhà nước, gia đình và xã hội; nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi vi phạm quyền trẻ em; bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có cam kết chính trị mạnh mẽ và các biện pháp tích cực về xây dựng pháp luật, chính sách, chương trình quốc gia thực hiện Công ước về quyền trẻ em.

Hai là, ngân sách nhà nước và những nguồn lực khác đã dành một khoản đầu tư đặc biệt cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ đã quy định chi tiết việc thực hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, giao trách nhiệm cho Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc đảm bảo các kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế hàng năm và dài hạn, có cơ chế để huy động nguồn lực tài chính cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Thành lập và quản lý các quỹ cứu trợ trẻ em hiện đã và đang được thành lập từ cấp trung ương tới cấp huyện dưới sự quản lý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Các nguồn ngân sách riêng cho việc cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đã được lồng vào kế hoạch hàng năm của Bộ Y tế và UBND các cấp đã được tính toán vào trong nguồn ngân sách hàng năm của Chính phủ. Năm 2015, Quốc hội đã chấp thuận việc phân bổ một khoản ngân sách 700 tỷ đồng để hỗ trợ từ trung ương tới địa phương. Nguồn hỗ trợ này được cung cấp để chi trả cho toàn bộ chi phí thực chi. Chính phủ chi trả cho toàn bộ phí khám sức khỏe và điều trị cho trẻ em dưới 6 tuổi tại tất cả các cơ sở y tế công lập các cấp. Nguồn ngân sách cho chi trả và thực chi cho việc khám và chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi được giám sát, chỉ đạo và quản lý chặt chẽ[3].

Ba là, không ngừng đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ cả vật chất và tinh thần để được phát triển toàn diện nhất

Xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em để huy động mọi nguồn lực có thể cho trẻ em, trên cơ sở Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo. Từng bước chuyên nghiệp hóa mạng lưới, tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em ngày càng được cải thiện. Chẳng hạn như, mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và nâng cấp. Hầu hết các xã, phường đều có trạm y tế. Trẻ em nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi được khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế công lập trên toàn quốc. Các chỉ số về tỷ lệ suy dinh dưỡng, trẻ em tử vong, bà mẹ tử vong đều giảm. Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em bị tai nạn thương tích ngày càng được quan tâm. Công tác khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đang được triển khai thực hiện có hiệu quả. Tính đến cuối năm 2011, khoảng 10 triệu trẻ em đã được cấp phát thẻ khám chữa bệnh, đạt trên 99% tổng số trẻ em dưới 6 tuổi trên toàn quốc; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chỉ còn 22,7%. Chính phủ và các bộ, ban, ngành đã ban hành nhiều văn bản có liên quan về phòng, chống tai nạn giao thông, trong đó có phòng, chống tai nạn thương tích tại cộng đồng cho trẻ em. Các mô hình “ngôi nhà an toàn”, “cộng đồng an toàn”, “trường học an toàn”, phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ em đang được triển khai và nhân rộng trên toàn quốc. Hàng trăm xã triển khai mô hình “ngôi nhà an toàn”; gần một trăm trường học thí điểm mô hình “trường học an toàn”[4].

Công tác phát hiện, can thiệp giảm thiểu các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em và nguy cơ dẫn đến trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt đã được quan tâm trước những tác động tiêu cực đến trẻ em trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều chính sách và chương trình đã hỗ trợ cho những gia đình nghèo và trẻ em dễ bị tổn thương.

Công tác trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi và hòa nhập cộng đồng được thực hiện thông qua các chính sách trợ giúp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trợ giúp cho các hộ gia đình nghèo, trẻ em nghèo và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khác. Các hình thức chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đa dạng và phù hợp hơn với nhu cầu của từng nhóm đối tượng. Vì vậy, tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc từ 40% năm 2001 tăng lên 85% vào năm 2014. Hầu hết trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là nhóm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em nghiện ma túy đã nhận được sự quan tâm chăm sóc của Nhà nước và xã hội thông qua các chính sách trợ cấp xã hội, trợ giúp tiếp cận y tế, giáo dục, học nghề, phẫu thuật chỉnh hình phục hồi chức năng, trợ giúp cai nghiện ma túy tại cộng đồng, chăm sóc thay thế bởi các gia đình hoặc nuôi dưỡng ở các cơ sở bảo trợ xã hội công lập, ngoài công lập[5].

Bốn là, đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em bị bạo lực, trẻ em di cư, trẻ bị bắt cóc, buôn bán, trẻ em sống trong các hộ nghèo

Đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em bị bạo lực, trẻ em di cư, trẻ bị bắt cóc, buôn bán, trẻ em sống trong các hộ nghèo từng bước được quan tâm hơn. Các hành vi xâm phạm quyền trẻ em được các cơ quan tư pháp và Nhà nước tham gia giải quyết kịp thời. Việc thực hiện chính sách xã hội, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, nhất là trẻ em là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, đồng thời là chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước. Trong những năm qua, triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về trẻ em, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn đã có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng[6].

2. Những vấn đề còn hạn chế và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về quyền của trẻ em

Bên cạnh những thành tự đã đạt được, thì hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật về quyền trẻ em trong thời gian qua vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần có giải pháp khắc phục và hoàn thiện, cụ thể là:

Thứ nhất, truyền thông giáo dục về kỹ năng sống, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa thực sự rộng rãi

Trẻ em chưa có nhiều kỹ năng để tự bảo vệ mình trước các nguy cơ bị tổn hại. Hàng trăm trẻ em bị xâm hại tình dục, hàng trăm trẻ em bị buôn bán; quá một nửa trẻ em bị bạo lực tại gia đình và bạo lực học đường; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ em có nguy cơ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con và trẻ em sống trong các hộ gia đình nghèo chưa có cơ hội thực hiện đầy đủ các quyền của trẻ em. Tình trạng đăng ký khai sinh cho trẻ em dân tộc thiểu số vẫn còn chậm so với quy định, nhiều trẻ khi đi học mới làm thủ tục khai sinh. Hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em bước đầu được xây dựng, nhưng chưa được thực hành rộng rãi. Theo kết quả điều tra MICS 2011 của Tổng cục Thống kê thì còn 5% trẻ em dưới 5 tuổi chưa được đăng ký khai sinh; khoảng 5,3% trẻ em ở độ tuổi từ 0 đến 17 tuổi không được sống chung với bố hoặc mẹ đẻ và 3,9% có bố hoặc mẹ đã chết hoặc cả bố và mẹ đã chết. Việc nâng cao nhận thức pháp luật cho các bậc cha, mẹ ở địa bàn vùng núi, vùng sâu chưa đầy đủ, nên việc khai sinh, khai sinh đúng hạn cho trẻ em chưa được coi trọng. Những quy định về xử phạt hành chính về việc khai sinh cho trẻ em chưa được thực hiện nghiêm túc và chưa đủ sức răn đe.

Thứ hai, việc đấu tranh với các hành vi xâm hại, bạo lực đối với trẻ em ở cộng đồng và cơ sở chưa đủ mạnh, còn có những gia đình người thân nạn nhân che giấu, mặc cảm, né tránh. Nguy cơ xâm hại trẻ em nhất là xâm hại tình dục trẻ em khó phát hiện, giải quyết

Đối với đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã có quy định về việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhưng cũng mới chỉ quy định về trách nhiệm của gia đình, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục từng nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt mà chưa có quy định về biện pháp bảo đảm, nhất là các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Đối với các nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa có quy định về việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và với nhóm trẻ em bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, thì chưa có các biện pháp bảo vệ các em, quy trình phát hiện, cơ quan tiếp nhận thông báo, cơ quan chủ trì, phối hợp theo dõi và quy trình can thiệp, giải quyết, tái hòa nhập các trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị xâm hại; thời gian giải quyết; các dịch vụ can thiệp hỗ trợ giải quyết cụ thể gồm những loại hình nào, do cơ quan nào quản lý, thực hiện; các đối tượng này khi về hồi gia, hòa nhập cộng đồng, thì cơ quan nào đứng ra giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý đối tượng; các chính sách trợ giúp khác cũng chưa được Luật quy định cụ thể. Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và những trường hợp khác chưa có những quy định cụ thể, đầy đủ, nên việc trợ giúp số trẻ em này thường là do các tổ chức nhân đạo, từ thiện giúp đỡ.

Thứ ba, quyền tham gia của trẻ em chưa được bảo đảm

Cơ quan quản lý nhà nước, những người làm công tác trẻ em và cộng đồng hiểu không cụ thể, không thống nhất khái niệm, nội hàm về quyền tham gia của trẻ em; quan niệm về quyền tham gia của trẻ em chủ yếu tập trung vào tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí; thiếu cơ chế và chuẩn mực về sự tham gia của trẻ em. Nhận thức chưa đầy đủ tầm quan trọng quyền tham gia của trẻ em để từ đó quan tâm và tạo điều kiện hơn nữa cho trẻ em tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng luật pháp, chính sách liên quan đến trẻ em; truyền thống “cha mẹ nói con nghe”, “người lớn nói trẻ em nghe”, “cô dạy, trò nghe” còn phổ biến; sự khác nhau về văn hóa vùng miền, phong tục tập quán ảnh hưởng đến việc tôn trọng và lắng nghe ý kiến của trẻ em. Ngoài ra, do tâm lý của chính trẻ em, năng lực, nhận thức của trẻ em còn hạn chế, chưa tự tin và chủ động thực hiện quyền này; đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn thiếu và yếu về năng lực, thiếu kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm trong việc phát triển quyền tham gia của trẻ em.

Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật:

Một là, tăng cường công tác bảo vệ trẻ em nhất là một số nhóm đối tượng trẻ em đặc biệt, như trẻ em bị lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em bị ảnh hưởng từ các vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị buôn bán, trẻ em sống trong các hộ nghèo...

Hai là, tạo cơ hội cho mọi trẻ em đều được bảo vệ, chăm sóc dưới các hình thức khác nhau và thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em. Tạo sự chuyển biến cơ bản về cung cấp dịch vụ có chất lượng và công bằng cho mọi trẻ em. Từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt với trẻ em bình thường tại nơi cư trú; trẻ em dân tộc thiểu số với các nhóm trẻ em khác; trẻ em gái với trẻ em trai.

Ba là, rà soát, bổ sung thực trạng hệ thống pháp luật, chính sách, nhất là kiểm điểm việc thực hiện luật pháp, chính sách có liên quan đến trẻ em và việc thực hiện các chương trình, đề án có liên quan đến trẻ em. Nghiên cứu hoàn thiện luật pháp, chính sách liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em và xây dựng chính sách đối với cán bộ làm công tác này. Nghiên cứu, xây dựng chương trình, mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2011 - 2020.

Bốn là, đẩy mạnh truyền thông nhằm thay đổi nhận thức của cộng đồng về quyền trẻ em, đồng thời tổ chức các chiến lược truyền thông với sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức quốc tế và trẻ em để tạo dư luận xã hội quan tâm hơn nữa đến công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và đặc biệt là lên án các hành vi xâm hại, ngược đãi, bạo lực đối với trẻ em. Chủ động huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

ThS. Đỗ Thị Oanh
Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội



Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem: Phụ lục Danh mục văn bản đã ban hành kèm theo Báo cáo số 59/BC-BLĐTBXH ngày 15/6/2015 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Báo cáo Tổng kết đánh giá 10 năm thi hành Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

[2]. Chính phủ, 2015, Báo cáo tổng kết thi hành chính sách, pháp luật về trẻ em, tr.2.

[3]. Xem chi tiết: Thông tư liên tịch của Bộ Tài chính và Bộ Y tế số 15/2008/TTLT-BTC-BYT ngày 05/02/2008 hướng dẫn thực hiện khám, chữa bệnh; quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi không phải trả tiền tại các Cơ sở Y tế công lập.

[4]. Xem thêm: Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội, 2012, Báo cáo thực thi chính sách an sinh xã hội, tr.10.

[5]. Trần Văn Duy, 2015, Quyền con người ở Việt Nam, Tham luận Hội thảo Quyền hiến định theo Hiến pháp năm 2013, Vass, tr.201

[6]. Trần Đại Quang, Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: