Thứ ba 10/03/2026 09:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Luật Tố cáo năm 2018 đã tạo hành lang pháp lý góp phần bảo vệ bí mật thông tin người tiến hành tố cáo. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số điều khoản chưa rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc áp dụng các biện pháp bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo chưa thực sự hiệu quả. Bài viết tập trung phân tích những bất cập trong quy định về bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo, từ đó kiến nghị hoàn thiện cơ chế này trong thời gian tới.

Luật Tố cáo năm 2018 ra đời, với những quy định mới về căn cứ, trình tự, thủ tục áp dụng, cách thức thực hiện các biện pháp bảo vệ và chế tài xử lý các hành vi vi phạm trong việc bảo vệ người tố cáo được xác định cụ thể hơn. Đồng thời, có sự đổi mới theo hướng bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo trong toàn bộ quá trình giải quyết tố cáo. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo, trong đó, Chương VI quy định cụ thể về bảo vệ người tố cáo như: Họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo, người được bảo vệ theo quy định của Luật Tố cáo năm 2018 cũng được đưa vào Danh mục bí mật nhà nước độ mật của Ngành Thanh tra theo Quyết định số 774/QĐ-TTg ngày 05/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật Nhà nước thuộc lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Qua đó, góp phần xây dựng cơ chế bảo vệ thông tin người tố cáo ngày càng hoàn thiện hơn, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền tố cáo, công tác bảo vệ người tố cáo. Tuy nhiên, một số quy định về bảo vệ bí mật thông tin tại Luật Tố cáo năm 2018 vẫn còn tồn tại những “khoảng trống” cần được làm rõ.

1. Quy định pháp luật về bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo

1.1. Đối tượng được bảo vệ bí mật thông tin khi thực hiện tố cáo

Theo quy định tại Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018, người được bảo vệ bí mật thông tin khi thực hiện tố cáo bao gồm: Người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo. Có thể thấy, đối tượng được bảo vệ bí mật thông tin trong Luật Tố cáo năm 2018 chủ yếu tập trung vào những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người thực hiện tố cáo nếu chiếu theo Bộ luật Dân sự năm 2015. So sánh cùng vấn đề với Luật Tố cáo năm 2011, có thể thấy, chủ thể được bảo vệ bí mật thông tin khi thực hiện việc tố cáo trong Luật Tố cáo năm 2018 hẹp hơn so với Luật Tố cáo năm 2011. Cụ thể, Luật Tố cáo năm 2011 bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo. Như vậy, Luật Tố cáo năm 2018 đã giản lược nội dung này khi chỉ liệt kê một số chủ thể được bảo vệ thay vì theo nội hàm “người thân thích với người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo” so với Luật Tố cáo năm 2011.

Theo quan điểm của tác giả, chủ thể được bảo vệ theo Luật Tố cáo năm 2011 mang tính khả thi, hiệu quả hơn so với Luật Tố cáo năm 2018, khuyến khích người dân thực hiện quyền tố cáo của mình. Bởi lẽ, có những chủ thể tuy không nằm trong hàng thừa kế thứ nhất vẫn có thể gặp nguy hiểm nếu thực hiện hành vi tố cáo. Thực tế cho thấy, theo tập quán sinh hoạt hiện nay ở nước ta, vẫn tồn tại nhiều gia đình có truyền thống “tam đại đồng đường”, “tứ đại đồng đường”, “gia đình đa thế hệ” sống cùng nhau. Trong đó, giả định người tiến hành tố cáo thuộc hàng con, cháu trong một gia đình nhưng pháp luật lại chỉ có những biện pháp bảo vệ bí mật thông tin cho cha, mẹ, vợ hoặc chồng mà không có biện pháp bảo vệ bí mật thông tin cho cô, chú, ông, bà, do vậy, chưa bảo đảm sự an tâm cho người tiến hành tố cáo, đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Bên cạnh đó, Luật Tố cáo năm 2018 chỉ tập trung bảo vệ người tiến hành tố cáo và một số đối tượng thân thích của người tố cáo mà chưa có những biện pháp, cơ chế bảo vệ bí mật thông tin cho người làm chứng trong tố cáo hoặc giả thông tin của những đối tượng trực tiếp, gián tiếp cung cấp thông tin liên quan đến tố cáo.

1.2. Chủ thể có trách nhiệm tiếp nhận thông tin và bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo

Theo quy định tại Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết tố cáo căn cứ vào tình hình cụ thể quyết định áp dụng biện pháp giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp. Như vậy, quy định này chỉ ghi nhận về trách nhiệm của cơ quan bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo một cách khái quát và chưa xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, cơ quan trong việc tiếp nhận, xử lý tố cáo, trách nhiệm phối hợp nhằm bảo đảm thông tin về người tố cáo không bị tiết lộ ra bên ngoài. Bên cạnh đó, quy định này cũng chưa xác định rõ cơ quan nào là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ, cũng như chưa quy định cụ thể về thời gian áp dụng các biện pháp, quy trình để bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo[1].

Đối chiếu vấn đề này trong quy định của pháp luật Úc, Luật Công khai lợi ích công năm 2013 xác định Thanh tra Khối Thịnh vượng chung chịu trách nhiệm trước Quốc hội và chịu trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết đơn tố giác. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm về một số vấn đề như: Cung cấp thông tin cho người tố cáo về cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố cáo; tư vấn cho các cơ quan công quyền có liên quan về việc thực hiện quy trình giải quyết tố cáo; thông qua thu thập dữ liệu từ các cơ quan công quyền và công bố báo cáo thường niên; thúc đẩy nhận thức và hiểu biết về Luật Công khai lợi ích công năm 2013. Đồng thời, Luật cũng trao cho người tố cáo vai trò chủ chốt trong việc giám sát và thực thi bảo mật thông tin người tố giác. Bên cạnh đó, Tổ chức Minh bạch Quốc tế và một nghiên cứu của Quốc hội Úc (năm 2017) đã nhấn mạnh sự cần thiết và đưa ra đề xuất thành lập một cơ quan bảo vệ người tố cáo với vai trò hỗ trợ người tố cáo, cơ quan điều tra và cơ quan quản lý, hỗ trợ việc thực thi pháp luật và đưa ra lời khuyên, biện pháp khắc phục.

2. Một số bất cập trong quy định về bảo vệ thông tin người tố cáo và kiến nghị hoàn thiện

Nhìn chung, có thể thấy, liên quan đến vấn đề bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để điều chỉnh như: Hiến pháp năm 2013, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật Tố cáo năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)… Trong đó, bí mật thông tin người tố cáo được phân loại ở cấp độ mật theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định liên quan đến bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo vẫn tồn tại những “khoảng trống” cần được làm rõ. Cụ thể:

Thứ nhất, các thông tin cần được bảo vệ có liên quan đến người tố cáo chưa có sự thống nhất và đầy đủ. Đơn cử: Điều 8 Luật Tố cáo năm 2018 quy định về các hành vi bị cấm bao gồm: Tiết lộ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo. Khi đối sánh cùng vấn đề với Điều 8 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì Luật này chỉ cấm duy nhất một hành vi đó là tiết lộ thông tin về người tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng. Có thể thấy, phạm vi bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo được quy định tại Luật Tố cáo năm 2018 có nội hàm rộng hơn, do đó, cần có sự đồng nhất về các hành vi bị cấm liên quan đến thông tin người tiến hành tố cáo trong Điều 8 Luật Tố cáo năm 2018 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 nhằm tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Thứ hai, Điều 22 Luật Tố cáo năm 2018 chỉ cho phép người tố cáo được tiến hành bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Về bản chất, hình thức tố cáo này sẽ dễ dẫn đến lộ lọt thông tin người tố cáo. Bởi suy cho cùng, người tố cáo luôn muốn thực hiện tố cáo thông qua các hình thức mang tính bảo mật cao hơn so với hình thức trực tiếp tố cáo như email, fax, điện thoại trực tiếp… Các hình thức này sẽ giảm thiểu số lượng người biết được thông tin người tố cáo, tránh lộ lọt thông tin, cũng như dễ truy xuất người có trách nhiệm bảo vệ thông tin người tố cáo. Từ vấn đề này, theo tác giả, cần có sự thay đổi trong hình thức tiến hành tố cáo theo hướng mở rộng các hình thức như: Email, fax, điện thoại…

Thứ ba, theo quy định tại Điều 49 Luật Tố cáo năm 2018, có nhiều chủ thể có thể nắm bắt và truy xuất được thông tin người tố cáo như: Người giải quyết tố cáo, cơ quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo; công an chủ trì phối hợp với cơ quan, tổ chức bảo vệ tính mạng, sức khỏe người tố cáo; cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; Ủy ban nhân dân các cấp; công đoàn các cấp…, tuy nhiên, Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018 chỉ xác định cơ quan tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết tố cáo sẽ có trách nhiệm giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo.

Từ vấn đề trên, theo tác giả, cần có biện pháp bảo mật thông tin người tố cáo, thay đổi cách nhìn nhận về tố cáo nặc danh và thừa nhận hình thức tố cáo này trong quy định của pháp luật, bởi đây cũng là một kênh hữu hiệu để phát hiện và xử lý hành vi tiêu cực, là biện pháp để bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe dọa, trả thù, trù dập. Tổ chức Minh bạch Quốc tế khuyến nghị rằng, cần phải thừa nhận việc tố cáo nặc danh, cơ quan tiếp nhận và xác minh tố cáo không nên bỏ qua hình thức tố cáo nặc danh, bởi suy cho cùng, đây là biện pháp an toàn nhất để bảo vệ thông tin người tiến hành tố cáo. Trên thế giới, đã có một số quốc gia chấp nhận và xem xét đơn thư tố cáo nặc danh như: Colombia, Brazil, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc..., người tố cáo thực hiện hình thức tố cáo nặc danh bởi họ lo sợ hình thức tố cáo chính danh thông thường sẽ dễ bị lộ lọt thông tin. Vì vậy, việc tố cáo nặc danh sẽ là biện pháp tối ưu, đồng thời, cơ quan có thẩm quyền sẽ không cần áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo[2].

Thứ tư, pháp luật chưa có các quy định về bảo vệ người phản ánh, kiến nghị, người làm chứng, cung cấp thông tin về những hành vi có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức khi mà trên thực tế, trong quá trình xác minh tố cáo, cơ quan chức năng có thể triệu tập người làm chứng nhằm làm sáng tỏ thông tin tố cáo. Bên cạnh đó, Điều 96 Luật Thanh tra năm 2022 có quy định các hoạt động về tố cáo, kiến nghị, phản ánh và giải quyết tố cáo, kiến nghị, phản ánh về hoạt động thanh tra, tuy nhiên, Luật Tố cáo năm 2018 chỉ đề cập đến phạm vi bảo vệ bí mật thông tin người tiến hành tố cáo mà chưa bao hàm nội dung tiến hành phản ánh hay kiến nghị. Do vậy, việc đồng nhất trong việc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân cho người thực hiện tố cáo, phản ánh, kiến nghị là vấn đề cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, cần có quy định hướng dẫn biện pháp bảo mật thông tin của người tố cáo, đặc biệt là người tố cáo hành vi tham nhũng là biện pháp bắt buộc mà tất cả các cơ quan tiếp nhận tố cáo, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo hay cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ đều phải thực hiện mà không cần có sự yêu cầu của người tố cáo hay đề xuất của cơ quan có thẩm quyền như khoản 5 Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018. Điều 20 Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ về quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh có quy định việc người xử lý đơn tố cáo có trách nhiệm phải giữ bí mật về thông tin của người tố cáo, thiết nghĩ, nội dung này cần được đưa vào luật để có hiệu lực pháp lý cao nhất[3].

Thứ năm, hướng đến bảo đảm an toàn thông tin người tiến hành tố cáo, cần quy định chế tài nghiêm khắc hơn đối với trường hợp vi phạm việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo cũng như người được bảo vệ, có sự phân biệt các mức độ vi phạm khác nhau. Theo đó, có thể giữ nguyên mức độ xử lý kỷ luật đối với hành vi vô ý làm lộ bí mật thông tin của người tố cáo hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, đối với các trường hợp cố ý tiết lộ thông tin của người tố cáo sẽ có hình thức kỷ luật hạ bậc lương với công chức, giáng chức với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; việc tiết lộ thông tin làm cho người tố cáo chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi hành vi trả thù, đe dọa thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, đồng thời, phải chịu liên đới việc bồi thường những thiệt hại mà người tố cáo hành vi tham nhũng phải gánh chịu do hành vi cố tình hay vô ý tiết lộ thông tin mà mình thực hiện[4]. Bí mật thông tin người tố cáo là bí mật nhà nước và theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 thì thông tin này được phân loại ở độ “mật”. Do vậy, trong trường hợp thông tin của người tố cáo bị lộ lọt, gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của người tố cáo thì dù vô ý hay cố ý cũng cần phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 337 hoặc khoản 1 Điều 338 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)5.

TS. Trần Lê Đăng Phương

Trường Đại học An Giang

[1]. Cao Vũ Minh & Nguyễn Công Tây (2021), Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo, http://tapchimattran.vn/thuc-tien/hoan-thien-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-to-cao-41901.html, truy cập ngày 28/02/2023

[2]. Nguyễn Thành Phương & Nguyễn Phan Quốc Kiệt (2022), Bất cập trong Luật Tố cáo 2018 và hướng hoàn thiện, Tạp chí Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, 2022, Số 07, tr. 32.

[3]. Nguyễn Thành Phương & Đinh Trần Ngọc Huyền, Pháp luật về bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Kỷ yếu Hội thảo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam hiện nay, Trường Đại học Mở Hà Nội, ngày 28/3/2013.

[4]. Cao Vũ Minh & Nguyễn Công Tây (2021), Tlđd.

[5]. Lê Tiến Đạt (2020), Pháp luật về bảo vệ người tố cáo và một số vấn đề đặt ra hiện nay, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-to-cao-va-mot-so-van-de-dat-ra-hien-nay-78526.htm, truy cập ngày 29/02/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: