Thứ tư 06/05/2026 22:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Luật Tố cáo năm 2018 đã tạo hành lang pháp lý góp phần bảo vệ bí mật thông tin người tiến hành tố cáo. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số điều khoản chưa rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc áp dụng các biện pháp bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo chưa thực sự hiệu quả. Bài viết tập trung phân tích những bất cập trong quy định về bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo, từ đó kiến nghị hoàn thiện cơ chế này trong thời gian tới.

Luật Tố cáo năm 2018 ra đời, với những quy định mới về căn cứ, trình tự, thủ tục áp dụng, cách thức thực hiện các biện pháp bảo vệ và chế tài xử lý các hành vi vi phạm trong việc bảo vệ người tố cáo được xác định cụ thể hơn. Đồng thời, có sự đổi mới theo hướng bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo trong toàn bộ quá trình giải quyết tố cáo. Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo, trong đó, Chương VI quy định cụ thể về bảo vệ người tố cáo như: Họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo, người được bảo vệ theo quy định của Luật Tố cáo năm 2018 cũng được đưa vào Danh mục bí mật nhà nước độ mật của Ngành Thanh tra theo Quyết định số 774/QĐ-TTg ngày 05/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật Nhà nước thuộc lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Qua đó, góp phần xây dựng cơ chế bảo vệ thông tin người tố cáo ngày càng hoàn thiện hơn, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền tố cáo, công tác bảo vệ người tố cáo. Tuy nhiên, một số quy định về bảo vệ bí mật thông tin tại Luật Tố cáo năm 2018 vẫn còn tồn tại những “khoảng trống” cần được làm rõ.

1. Quy định pháp luật về bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo

1.1. Đối tượng được bảo vệ bí mật thông tin khi thực hiện tố cáo

Theo quy định tại Điều 47 Luật Tố cáo năm 2018, người được bảo vệ bí mật thông tin khi thực hiện tố cáo bao gồm: Người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo. Có thể thấy, đối tượng được bảo vệ bí mật thông tin trong Luật Tố cáo năm 2018 chủ yếu tập trung vào những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người thực hiện tố cáo nếu chiếu theo Bộ luật Dân sự năm 2015. So sánh cùng vấn đề với Luật Tố cáo năm 2011, có thể thấy, chủ thể được bảo vệ bí mật thông tin khi thực hiện việc tố cáo trong Luật Tố cáo năm 2018 hẹp hơn so với Luật Tố cáo năm 2011. Cụ thể, Luật Tố cáo năm 2011 bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo. Như vậy, Luật Tố cáo năm 2018 đã giản lược nội dung này khi chỉ liệt kê một số chủ thể được bảo vệ thay vì theo nội hàm “người thân thích với người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo” so với Luật Tố cáo năm 2011.

Theo quan điểm của tác giả, chủ thể được bảo vệ theo Luật Tố cáo năm 2011 mang tính khả thi, hiệu quả hơn so với Luật Tố cáo năm 2018, khuyến khích người dân thực hiện quyền tố cáo của mình. Bởi lẽ, có những chủ thể tuy không nằm trong hàng thừa kế thứ nhất vẫn có thể gặp nguy hiểm nếu thực hiện hành vi tố cáo. Thực tế cho thấy, theo tập quán sinh hoạt hiện nay ở nước ta, vẫn tồn tại nhiều gia đình có truyền thống “tam đại đồng đường”, “tứ đại đồng đường”, “gia đình đa thế hệ” sống cùng nhau. Trong đó, giả định người tiến hành tố cáo thuộc hàng con, cháu trong một gia đình nhưng pháp luật lại chỉ có những biện pháp bảo vệ bí mật thông tin cho cha, mẹ, vợ hoặc chồng mà không có biện pháp bảo vệ bí mật thông tin cho cô, chú, ông, bà, do vậy, chưa bảo đảm sự an tâm cho người tiến hành tố cáo, đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Bên cạnh đó, Luật Tố cáo năm 2018 chỉ tập trung bảo vệ người tiến hành tố cáo và một số đối tượng thân thích của người tố cáo mà chưa có những biện pháp, cơ chế bảo vệ bí mật thông tin cho người làm chứng trong tố cáo hoặc giả thông tin của những đối tượng trực tiếp, gián tiếp cung cấp thông tin liên quan đến tố cáo.

1.2. Chủ thể có trách nhiệm tiếp nhận thông tin và bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo

Theo quy định tại Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết tố cáo căn cứ vào tình hình cụ thể quyết định áp dụng biện pháp giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp. Như vậy, quy định này chỉ ghi nhận về trách nhiệm của cơ quan bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo một cách khái quát và chưa xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, cơ quan trong việc tiếp nhận, xử lý tố cáo, trách nhiệm phối hợp nhằm bảo đảm thông tin về người tố cáo không bị tiết lộ ra bên ngoài. Bên cạnh đó, quy định này cũng chưa xác định rõ cơ quan nào là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ, cũng như chưa quy định cụ thể về thời gian áp dụng các biện pháp, quy trình để bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo[1].

Đối chiếu vấn đề này trong quy định của pháp luật Úc, Luật Công khai lợi ích công năm 2013 xác định Thanh tra Khối Thịnh vượng chung chịu trách nhiệm trước Quốc hội và chịu trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết đơn tố giác. Cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm về một số vấn đề như: Cung cấp thông tin cho người tố cáo về cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố cáo; tư vấn cho các cơ quan công quyền có liên quan về việc thực hiện quy trình giải quyết tố cáo; thông qua thu thập dữ liệu từ các cơ quan công quyền và công bố báo cáo thường niên; thúc đẩy nhận thức và hiểu biết về Luật Công khai lợi ích công năm 2013. Đồng thời, Luật cũng trao cho người tố cáo vai trò chủ chốt trong việc giám sát và thực thi bảo mật thông tin người tố giác. Bên cạnh đó, Tổ chức Minh bạch Quốc tế và một nghiên cứu của Quốc hội Úc (năm 2017) đã nhấn mạnh sự cần thiết và đưa ra đề xuất thành lập một cơ quan bảo vệ người tố cáo với vai trò hỗ trợ người tố cáo, cơ quan điều tra và cơ quan quản lý, hỗ trợ việc thực thi pháp luật và đưa ra lời khuyên, biện pháp khắc phục.

2. Một số bất cập trong quy định về bảo vệ thông tin người tố cáo và kiến nghị hoàn thiện

Nhìn chung, có thể thấy, liên quan đến vấn đề bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để điều chỉnh như: Hiến pháp năm 2013, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật Tố cáo năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)… Trong đó, bí mật thông tin người tố cáo được phân loại ở cấp độ mật theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định liên quan đến bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo vẫn tồn tại những “khoảng trống” cần được làm rõ. Cụ thể:

Thứ nhất, các thông tin cần được bảo vệ có liên quan đến người tố cáo chưa có sự thống nhất và đầy đủ. Đơn cử: Điều 8 Luật Tố cáo năm 2018 quy định về các hành vi bị cấm bao gồm: Tiết lộ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo. Khi đối sánh cùng vấn đề với Điều 8 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì Luật này chỉ cấm duy nhất một hành vi đó là tiết lộ thông tin về người tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng. Có thể thấy, phạm vi bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo được quy định tại Luật Tố cáo năm 2018 có nội hàm rộng hơn, do đó, cần có sự đồng nhất về các hành vi bị cấm liên quan đến thông tin người tiến hành tố cáo trong Điều 8 Luật Tố cáo năm 2018 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 nhằm tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Thứ hai, Điều 22 Luật Tố cáo năm 2018 chỉ cho phép người tố cáo được tiến hành bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Về bản chất, hình thức tố cáo này sẽ dễ dẫn đến lộ lọt thông tin người tố cáo. Bởi suy cho cùng, người tố cáo luôn muốn thực hiện tố cáo thông qua các hình thức mang tính bảo mật cao hơn so với hình thức trực tiếp tố cáo như email, fax, điện thoại trực tiếp… Các hình thức này sẽ giảm thiểu số lượng người biết được thông tin người tố cáo, tránh lộ lọt thông tin, cũng như dễ truy xuất người có trách nhiệm bảo vệ thông tin người tố cáo. Từ vấn đề này, theo tác giả, cần có sự thay đổi trong hình thức tiến hành tố cáo theo hướng mở rộng các hình thức như: Email, fax, điện thoại…

Thứ ba, theo quy định tại Điều 49 Luật Tố cáo năm 2018, có nhiều chủ thể có thể nắm bắt và truy xuất được thông tin người tố cáo như: Người giải quyết tố cáo, cơ quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo; công an chủ trì phối hợp với cơ quan, tổ chức bảo vệ tính mạng, sức khỏe người tố cáo; cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; Ủy ban nhân dân các cấp; công đoàn các cấp…, tuy nhiên, Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018 chỉ xác định cơ quan tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết tố cáo sẽ có trách nhiệm giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo.

Từ vấn đề trên, theo tác giả, cần có biện pháp bảo mật thông tin người tố cáo, thay đổi cách nhìn nhận về tố cáo nặc danh và thừa nhận hình thức tố cáo này trong quy định của pháp luật, bởi đây cũng là một kênh hữu hiệu để phát hiện và xử lý hành vi tiêu cực, là biện pháp để bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe dọa, trả thù, trù dập. Tổ chức Minh bạch Quốc tế khuyến nghị rằng, cần phải thừa nhận việc tố cáo nặc danh, cơ quan tiếp nhận và xác minh tố cáo không nên bỏ qua hình thức tố cáo nặc danh, bởi suy cho cùng, đây là biện pháp an toàn nhất để bảo vệ thông tin người tiến hành tố cáo. Trên thế giới, đã có một số quốc gia chấp nhận và xem xét đơn thư tố cáo nặc danh như: Colombia, Brazil, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc..., người tố cáo thực hiện hình thức tố cáo nặc danh bởi họ lo sợ hình thức tố cáo chính danh thông thường sẽ dễ bị lộ lọt thông tin. Vì vậy, việc tố cáo nặc danh sẽ là biện pháp tối ưu, đồng thời, cơ quan có thẩm quyền sẽ không cần áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo[2].

Thứ tư, pháp luật chưa có các quy định về bảo vệ người phản ánh, kiến nghị, người làm chứng, cung cấp thông tin về những hành vi có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức khi mà trên thực tế, trong quá trình xác minh tố cáo, cơ quan chức năng có thể triệu tập người làm chứng nhằm làm sáng tỏ thông tin tố cáo. Bên cạnh đó, Điều 96 Luật Thanh tra năm 2022 có quy định các hoạt động về tố cáo, kiến nghị, phản ánh và giải quyết tố cáo, kiến nghị, phản ánh về hoạt động thanh tra, tuy nhiên, Luật Tố cáo năm 2018 chỉ đề cập đến phạm vi bảo vệ bí mật thông tin người tiến hành tố cáo mà chưa bao hàm nội dung tiến hành phản ánh hay kiến nghị. Do vậy, việc đồng nhất trong việc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân cho người thực hiện tố cáo, phản ánh, kiến nghị là vấn đề cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, cần có quy định hướng dẫn biện pháp bảo mật thông tin của người tố cáo, đặc biệt là người tố cáo hành vi tham nhũng là biện pháp bắt buộc mà tất cả các cơ quan tiếp nhận tố cáo, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo hay cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ đều phải thực hiện mà không cần có sự yêu cầu của người tố cáo hay đề xuất của cơ quan có thẩm quyền như khoản 5 Điều 56 Luật Tố cáo năm 2018. Điều 20 Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ về quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh có quy định việc người xử lý đơn tố cáo có trách nhiệm phải giữ bí mật về thông tin của người tố cáo, thiết nghĩ, nội dung này cần được đưa vào luật để có hiệu lực pháp lý cao nhất[3].

Thứ năm, hướng đến bảo đảm an toàn thông tin người tiến hành tố cáo, cần quy định chế tài nghiêm khắc hơn đối với trường hợp vi phạm việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo cũng như người được bảo vệ, có sự phân biệt các mức độ vi phạm khác nhau. Theo đó, có thể giữ nguyên mức độ xử lý kỷ luật đối với hành vi vô ý làm lộ bí mật thông tin của người tố cáo hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, đối với các trường hợp cố ý tiết lộ thông tin của người tố cáo sẽ có hình thức kỷ luật hạ bậc lương với công chức, giáng chức với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; việc tiết lộ thông tin làm cho người tố cáo chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi hành vi trả thù, đe dọa thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, đồng thời, phải chịu liên đới việc bồi thường những thiệt hại mà người tố cáo hành vi tham nhũng phải gánh chịu do hành vi cố tình hay vô ý tiết lộ thông tin mà mình thực hiện[4]. Bí mật thông tin người tố cáo là bí mật nhà nước và theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 thì thông tin này được phân loại ở độ “mật”. Do vậy, trong trường hợp thông tin của người tố cáo bị lộ lọt, gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của người tố cáo thì dù vô ý hay cố ý cũng cần phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 337 hoặc khoản 1 Điều 338 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)5.

TS. Trần Lê Đăng Phương

Trường Đại học An Giang

[1]. Cao Vũ Minh & Nguyễn Công Tây (2021), Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo, http://tapchimattran.vn/thuc-tien/hoan-thien-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-to-cao-41901.html, truy cập ngày 28/02/2023

[2]. Nguyễn Thành Phương & Nguyễn Phan Quốc Kiệt (2022), Bất cập trong Luật Tố cáo 2018 và hướng hoàn thiện, Tạp chí Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, 2022, Số 07, tr. 32.

[3]. Nguyễn Thành Phương & Đinh Trần Ngọc Huyền, Pháp luật về bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Kỷ yếu Hội thảo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam hiện nay, Trường Đại học Mở Hà Nội, ngày 28/3/2013.

[4]. Cao Vũ Minh & Nguyễn Công Tây (2021), Tlđd.

[5]. Lê Tiến Đạt (2020), Pháp luật về bảo vệ người tố cáo và một số vấn đề đặt ra hiện nay, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-to-cao-va-mot-so-van-de-dat-ra-hien-nay-78526.htm, truy cập ngày 29/02/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: