Thứ sáu 23/10/2026 08:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ người tố cáo trong các đơn vị sự nghiệp công lập

Ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng được quy định trong nhiều hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên. Ngoại lệ này cho phép vì bảo vệ đạo đức công cộng, thành viên được không tuân thủ các quy định trong hiệp định. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến nội dung và cách thức áp dụng ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng trong một số hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên, từ đó đưa ra khuyến nghị để Việt Nam thực thi hiệu quả ngoại lệ này.



1. Nội dung quy định ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng trong một số hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên

Trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994 (GATT 1994) quy định ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng tại điểm a Điều XX (Các ngoại lệ chung) như sau: “Với bảo lưu rằng, các biện pháp đề cập ở đây không được áp dụng theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp: a) Cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng...”. Theo đó, thành viên của WTO có thể viện dẫn ngoại lệ về đạo đức công cộng để bảo vệ cho một biện pháp vi phạm bất kỳ quy định nào trong GATT 1994[1]. Tuy nhiên, nội dung của điểm a Điều XX GATT 1994 nói chung được nhận định là quá rộng và không rõ ràng[2]. WTO không có quy định giải thích về nội dung của điểm a Điều XX GATT 1994, vì vậy, rất khó xác định đạo đức nào được coi là đạo đức công cộng (public morals)? Với 164 thành viên[3], sự đa dạng về tôn giáo, văn hóa dân tộc và nguồn gốc xã hội có thể tạo ra ngày càng nhiều sự xung đột trong quan điểm về đạo đức công cộng giữa các thành viên WTO[4]. Điều này dẫn đến hệ quả là, dù thành viên WTO, nhất là các thành viên là nước đang phát triển muốn vận dụng điểm a Điều XX nhằm bảo vệ giá trị đạo đức công cộng của nước mình, nhưng chưa biết rõ áp dụng như thế nào cho hợp pháp.

Trong khuôn khổ ASEAN, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) quy định về trường hợp ngoại lệ giống hệt với điểm a Điều XX GATT 1994: “Theo yêu cầu rằng các biện pháp không được áp dụng theo cách tạo nên sự phân biệt đối xử không công bằng hoặc bất bình đẳng giữa các quốc gia thành viên trong cùng một điều kiện, hoặc tạo nên sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, không quy định nào trong Hiệp định này sẽ được hiểu là ngăn cản việc áp dụng hoặc thực thi của các quốc gia thành viên các biện pháp: a) Cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng…” (điểm a Điều 8). Nội dung quy định này cũng được thể hiện trong Hiệp định thương mại hàng hóa thuộc Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Hàn Quốc (Điều 11), Hiệp định thương mại hàng hóa thuộc Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Điều 12).

Một số hiệp định thương mại khác mà Việt Nam là thành viên lại quy định theo cách dẫn chiếu đến Điều XX GATT 1994, ví dụ như Hiệp định thương mại hàng hóa thuộc Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Ấn Độ: “Mỗi bên được duy trì quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều XX của GATT 1994, được đưa vào Hiệp định này và là một phần không thể tách rời của Hiệp định này, với những sửa đổi phù hợp” (Điều 12). Cách quy định dẫn chiếu này cũng được áp dụng tại Hiệp định về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa các quốc gia thành viên ASEAN và Nhật Bản (Điều 7); Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (Điều 29.1), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Chile (VCFTA) (Điều 13.1), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) (Điều 16.1).

Tuy nhiên, cũng giống như GATT 1994, các hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên nêu trên không có quy định cụ thể hóa nội dung hay cách thức áp dụng ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng. Trong thương mại quốc tế, những quy định chưa thực sự rõ ràng này có thể được giải thích sáng tỏ trong các án lệ. Trong các hiệp định thương mại mà Việt Nam là thành viên, án lệ liên quan đến ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng chỉ có trong WTO. Tính đến ngày 31/12/2018, có bốn án lệ về giải thích và áp dụng ngoại lệ về điểm a Điều XX GATT 1994[5], đó là: Vụ Trung Quốc - Xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn[6], vụ EC - Các sản phẩm hải cẩu[7], vụ Colombia - Dệt may[8] và vụ Brazil - Thuế[9].

2. Giải thích và áp dụng ngoại lệ về đạo đức công cộng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO

Các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO cho thấy, để một biện pháp vi phạm quy định của GATT 1994 có thể viện dẫn điểm a Điều XX làm cơ sở pháp lý, phải căn cứ vào cả hai vấn đề pháp lý: (i) Biện pháp đó phải “cần thiết” để bảo vệ “đạo đức công cộng”. Điều này sẽ phụ thuộc rất lớn vào khái niệm “đạo đức công cộng” là gì và biện pháp được áp dụng có “cần thiết” hay không?; (ii) Biện pháp đã được xác định là “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng” còn phải đáp ứng điều kiện quy định tại Đoạn mở đầu của Điều XX.

2.1. Khái niệm “đạo đức công cộng”

Nội dung thuật ngữ đạo đức công cộng theo ngoại lệ tại điểm a Điều XX GATT 1994 được nêu ra lần đầu tiên bởi Ban hội thẩm vụ Trung Quốc - Xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn, theo đó: (i) Đạo đức công cộng là các tiêu chuẩn về hành vi đúng và sai được duy trì bởi hoặc nhân danh cộng đồng hoặc quốc gia; (ii) Nội dung của các thuật ngữ này tại các thành viên có thể thay đổi theo thời gian và không gian, tùy thuộc vào một loạt các yếu tố, bao gồm các giá trị xã hội, văn hóa, đạo đức và tôn giáo phổ biến; (iii) Các thành viên được tự xác định phạm vi và áp dụng khái niệm về đạo đức công công trong lãnh thổ của mình, phù hợp với hệ thống và thang đo giá trị riêng của họ[10].

Nhưng thực chất, Ban hội thẩm vụ Trung Quốc - Xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn đã thừa nhận và nêu lại cách giải thích về đạo đức công cộng theo điểm a Điều XIV Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Ban hội thẩm vụ Hoa Kỳ - Đánh bạc[11]. Cơ quan phúc thẩm vụ EC - Các sản phẩm hải cẩu cũng chấp nhận định nghĩa đạo đức công cộng do Ban hội thẩm vụ Hoa Kỳ - Đánh bạc đưa ra, đồng thời nhấn mạnh rằng, các thành viên phải được cho phép có một phạm vi nhất định để tự xác định và áp dụng riêng cho mình khái niệm đạo đức công cộng theo hệ thống và giá trị của riêng họ[12].

2.2. Kiểm tra sự “cần thiết”

Điểm a Điều XX GATT 1994 quy định “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”. Do vậy, việc đánh giá sự “cần thiết” của một biện pháp đang bị khiếu kiện đòi hỏi phải phân tích sâu hơn, toàn diện hơn về mối quan hệ giữa biện pháp và bảo vệ đạo đức công cộng. Việc phân tích sự “cần thiết” sẽ được thực hiện theo trình tự:

Thứ nhất, xem xét biện pháp bị khiếu kiện có đạt được sự “cân bằng” (weigh and balance) hay không[13]

Sự “cần thiết” không chỉ giới hạn ở nghĩa là không thể thiếu (indispensable). Sự “cần thiết” trước hết phải được xem xét thông qua một quá trình cân bằng một loạt các yếu tố (a process of weighing and balancing a series of factors)[14]. Các yếu tố của sự “cân bằng” gồm có:

- Tầm quan trọng của các lợi ích và giá trị được bảo vệ bởi biện pháp vi phạm quy định của GATT. Đạo đức công cộng là một trong các giá trị và lợi ích quan trọng nhất mà các thành viên theo đuổi. Nếu bảo vệ đạo đức công cộng được thể hiện là mục tiêu của biện pháp, thì càng dễ được chấp nhận là “cần thiết”;

- Sự đóng góp của biện pháp đó cho mục tiêu được bảo vệ: Đóng góp càng lớn, thì càng dễ dàng được coi là “cần thiết”;

- Tác động hạn chế đối với thương mại quốc tế: Biện pháp ít có tác động hạn chế thương mại quốc tế sẽ dễ dàng được coi là “cần thiết” hơn là biện pháp có tác động mạnh hoặc rộng rãi đối với thương mại quốc tế.

Thứ hai, xác định sự tồn tại các biện pháp thay thế khả thi có sẵn (reasonable available alternatives)[15]

Khi biện pháp bị khiếu kiện đáp ứng được yêu cầu về sự “cân bằng”, thì cần tiếp tục xác định xem có tồn tại hay không các biện pháp thay thế khả thi có sẵn cho các biện pháp bị khiếu kiện. Đây là biện pháp ít hạn chế thương mại hơn, nhưng vẫn giúp đạt mục tiêu bảo vệ đạo đức công cộng.

Về vấn đề này, Cơ quan phúc thẩm vụ EC - Các sản phẩm hải cẩu cho rằng, trách nhiệm chứng minh biện pháp bị khiếu kiện là cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng theo điểm a Điều XX GATT 1994 là của bên bị đơn, nhưng bên nguyên đơn có nghĩa vụ phải đưa ra được ít nhất một biện pháp thay thế khả thi có sẵn đối với bên bị đơn. Nếu bên bị đơn không chứng minh được giải pháp thay thế mà nguyên đơn đề xuất sẽ tạo ra cho bị đơn một gánh nặng không đáng có, cho dù là về tài chính hay bất kỳ khía cạnh nào khác, thì bị đơn đã không chứng minh được biện pháp thay thế không có sẵn với họ. Lúc này, biện pháp bị khiếu kiện của bị đơn sẽ được xác định là không cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng. Đặc biệt, tất cả các biện pháp bị khiếu kiện đã được xác định là không cần thiết theo quy định của điểm a Điều XX GATT 1994, Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm sẽ không cần phải tiếp tục kiểm tra xem các biện pháp bị khiếu kiện có đáp ứng các yêu cầu của Đoạn mở đầu của Điều XX hay không[16].

2.3. Đáp ứng điều kiện quy định trong Đoạn mở đầu của Điều XX

Trong bốn vụ tranh chấp liên quan tới điểm a Điều XX GATT 1994, chỉ có biện pháp bị khiếu kiện của Liên minh Châu Âu (EU) trong vụ EC - các sản phẩm hải cẩu được xác định là “cần thiết”. Do đó, biện này tiếp tục được xem xét liệu có đáp ứng được điều kiện tại Đoạn mở đầu của Điều XX hay không[17]. Cơ quan phúc thẩm vụ này đã viện dẫn lại quan điểm của Cơ quan phúc thẩm vụ Hoa Kỳ - Tôm[18] có 03 yếu tố cấu thành nên sự “phân biệt đối xử tùy tiện hay vô căn cứ” trong Đoạn mở đầu của Điều XX, gồm[19]: Việc áp dụng biện pháp đó phải gây ra sự phân biệt đối xử; sự phân biệt đối xử này phải mang tính chất tùy tiện hoặc vô căn cứ; sự phân biệt đối xử này phải diễn ra giữa các quốc gia có cùng điều kiện như nhau.

Trên cơ sở đó, Cơ quan phúc thẩm xác định rằng, mặc dù mục tiêu của Quy chế áp dụng đối với hải cẩu của EC (EC seal regime) là nhằm đảm bảo phúc lợi dành cho hải cẩu (seal welfare)[20], nhưng ngoại lệ của Quy chế này (IC hunts exception - ngoại lệ IC)[21] được áp dụng theo cách tạo ra tạo ra công cụ phân biệt đối xử tùy tiện hay vô căn cứ giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, vì: (i) EU đã không chứng minh được sự tồn tại của ngoại lệ IC cũng nhằm đạt được mục tiêu chung là bảo vệ phúc lợi hải cẩu; (ii) Ngoại lệ IC không có giải thích rõ ràng về tiêu chí để xác định sản phẩm hải cẩu thuộc ngoại lệ này. Do đó, việc xác định sản phẩm hải cẩu có thuộc ngoại lệ IC hay không để nhập khẩu vào thị trường EU phụ thuộc hoàn toàn vào cơ quan có thẩm quyền công nhận sản phẩm hải cẩu; (iii) EU cũng không chứng minh được họ đã thực hiện “những nỗ lực tương đương” (comparable efforts) để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận ngoại lệ IC với người Eskimo tại Canada, như đã tạo điều kiện cho người Eskimo tại Đan Mạch; (iv) Cơ quan phúc thẩm kết luận, Quy chế áp dụng đối với hải cẩu của EC không thể viện dẫn điểm a Điều XX GATT 1994[22].

Các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của WTO nêu trên cho thấy, quốc gia thành viên WTO đang được trao quyền trong việc quyết định nội dung của đạo đức công cộng nước mình. Đồng thời, các báo cáo cũng đã chỉ rõ cách thức để áp dụng ngoại lệ theo điểm a Điều XX GATT 1994: Bên cạnh việc xác định đạo đức công cộng, thành viên WTO còn phải vượt qua hai rào cản khó khăn gồm chứng minh sự “cần thiết” của biện pháp hạn chế thương mại, chứng minh đáp ứng đủ hai điều kiện tại Đoạn mở đầu Điều XX.

3. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về ngoại lệ liên quan đến bảo vệ đạo đức công cộng và một số khuyến nghị

3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam

Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định để áp dụng ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng” theo các hiệp định thương mại Việt Nam là thành viên. Song, cơ sở pháp lý chung cho việc thực thi quy định này gồm: Luật Điều ước quốc tế năm 2016; Luật Quản lý ngoại thương năm 2017; Pháp lệnh Đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế năm 2002; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Theo đó, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên được thực hiện căn cứ vào quy định của Luật Điều ước quốc tế năm 2016. Việt Nam sẽ không trực tiếp áp dụng nội dung của các điều ước quốc tế, mà sẽ tiến hành sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế (khoản 4 Điều 76). Luật Điều ước quốc tế năm 2016 của Việt Nam không có quy định trường hợp ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”.

Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 quy định về biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương, giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương của Việt Nam (Điều 1). Nhà nước quản lý ngoại thương theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Điều 4). Luật này cũng không có quy định trường hợp ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”.

Pháp lệnh Đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế năm 2002 quy định về phạm vi, nguyên tắc, trường hợp áp dụng đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế, gồm các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù, văn bản này quy định ngoại lệ chung tại Điều 5, ngoại lệ về đối xử tối huệ quốc trong thương mại hàng hóa tại Điều 8, ngoại lệ về đối xử quốc gia tại Điều 17, nhưng trong đó cũng không bao gồm ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), quy định nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (khoản 5 Điều 5). Thậm chí, ngay từ khi tiến hành đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định, phải nêu rõ căn cứ đề nghị là dựa trên cam kết quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (điểm d khoản 2 Điều 32, điểm d khoản 3 Điều 84). Nhưng Luật này không quy định quy trình riêng cho việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để nội luật hóa điều ước quốc tế. Do đó, cũng không có quy định trong việc thực thi các trường hợp ngoại lệ theo các hiệp định thương mại Việt Nam là thành viên.

3.2. Khuyến nghị đối với Việt Nam trong xây dựng quy định ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng theo các hiệp định thương mại

Trong khuôn khổ WTO, báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm liên quan đến giải thích và áp dụng điểm a Điều XX GATT 1994 sau khi được thông qua sẽ có giá trị tham khảo và được Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm các vụ tranh chấp sau đó áp dụng như một dạng án lệ không ràng buộc về mặt pháp lý[23]. Còn đối với các hiệp định thương mại khác mà Việt Nam là thành viên, các hiệp định này được gọi là “thỏa thuận thương mại khu vực” (RTA), được thành lập căn cứ vào quy định tại Điều XXIV GATT 1994. Do đó, dù có quy định giống hệt điểm a Điều XX GATT 1994, hay quy định dẫn chiếu, thì trong tương lai, nếu có tranh chấp xảy ra, báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm liên quan đến giải thích và áp dụng điểm a Điều XX GATT 1994 trong khuôn khổ WTO cũng có thể được cơ quan giải quyết tranh chấp của RTA sử dụng để tham khảo, thậm chí định hướng cho quyết định của các cơ quan giải quyết tranh chấp này[24].

Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu án lệ của WTO, tác giả đưa ra đề xuất về việc xây dựng quy định để áp dụng ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng” theo các hiệp định thương mại Việt Nam là thành viên như sau:

Thứ nhất, quy định thừa nhận trường hợp ngoại lệ “cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng”. Đây là cơ sở pháp lý rõ ràng cho phép Việt Nam bảo vệ các lợi ích xã hội, những giá trị quan trọng được coi là “đạo đức công cộng” tại Việt Nam.

Thứ hai, quy định rõ các tiêu chí để đảm bảo sự “cần thiết” của những biện pháp được ban hành nhằm mục đích bảo vệ đạo đức công cộng, bao gồm: (i) “Cân bằng” được ba yếu tố: Tầm quan trọng của mục tiêu mà biện pháp bị khiếu kiện muốn bảo vệ, sự đóng góp của biện pháp bị khiếu kiện để bảo vệ cho mục tiêu và tác động hạn chế thương mại của biện pháp bị khiếu kiện; (ii) Khẳng định không có biện pháp thay thế có sẵn ít tác động hạn chế thương mại hơn. Bởi vì, ngay khi có biện pháp này, Việt Nam bắt buộc phải thực hiện thay thế cho biện pháp ban đầu. Nếu không thực hiện, biện pháp của Việt Nam không còn đáp ứng được tính “cần thiết”.

Thứ ba, thực thi biện pháp này phải luôn tuân thủ nguyên tắc chung là không được áp dụng theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế.

Tóm lại, về bản chất, ngoại lệ về bảo vệ đạo đức công cộng trong các hiệp định thương mại là quyền lợi của Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam cần có quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật và sẵn sàng áp dụng khi cần thiết phải bảo vệ đạo đức công cộng của nước mình.

ThS. Tào Thị Huệ
Đại học Luật Hà Nội



[1]. Christoph T. Feddersen, “Focusing on Substantive Law in International Economic Relations: The Public Morals of GATT’s Article XX (a) and Conventional Rules of Interpretation”, Minnesota Journal of International Law [Vol. 7:751998], p. 93.

[2]. Tlđd, Christoph T. Feddersen, p. 84.

[3]. WTO, “Members and Observers”, https://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/org6_e.htm (truy cập ngày 25/12/2019).

[4]. Pelin Serpin, “The public morals exception after the WTO seal products dispute: Has the exception swallowed the rules?”, Columbia Business Law Review [Vol. 2016 No. 1:217], p. 227.

[5]. Số liệu do tác giả thống kê từ tài liệu: WTO, WTO ANALYTICAL INDEX, GATT 1994 - Article XX (Jurisprudence), https://www.wto.org/english/res_e/publications_e/ai17_e/gatt1994_art20_jur.pdf (truy cập ngày 25/12/2019).

[6]. WTO, DS363: China - Measures Affecting Trading Rights and Distribution Services for Certain Publications and Audiovisual Entertainment Products, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_ e/cases_e/ds363_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[7]. WTO, “DS401: European Communities - Measures Prohibiting the Importation and Marketing of Seal Products”, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds401_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[8]. WTO, “DS461: Colombia - Measures Relating to the Importation of Textiles, Apparel and Footwear”, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds461_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[9]. WTO, “DS472: Brazil - Certain Measures Concerning Taxation and Charges”, https://www.wto.org/ english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds472_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[10]. Panel Report, China - Publications and Audiovisual Products, para.7.759.

[11]. Vụ tranh chấp này do hai nước Antigua và Barbuda khởi kiện Hoa Kỳ liên quan đến dịch vụ các cược và đánh bạc qua biên giới. Nhưng ngoại lệ công cộng trong vụ này được viện dẫn theo điểm a Điều XVI GATS 1994, chứ không phải GATT 1994. Xem tại: WTO, DS285: United States - Measures Affecting the Cross-Border Supply of Gambling and Betting Services, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds285_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[12]. Appellate Body Reports, EC - Seal Products, para. 5.199.

[13]. Appellate Body Report, China - Publications and Audiovisual Products, paras. 240-243; Appellate Body Report, Colombia - Textiles, paras. 5.71-5.74.

[14]. Panel Report, China - Publications and Audiovisual Products, para.7.782.

[15]. Appellate Body Report, China - Publications and Audiovisual Products, paras. 246 and 249.

[16]. Panel Report, China – Publications and Audiovisual Products, para. 7.910 - 7.914.

[17]. Biện pháp bị khiếu kiện của Liên minh Châu Âu là quy định việc cấm nhập khẩu và buôn bán sản phẩm hải cẩu mang tính thương mại tại EC theo Quy chế áp dụng đối với hải cẩu của EC (EC seal regime). Biện pháp này bị khiếu kiện bởi Canada và Na Uy, hai quốc gia có ngành công nghiệp hải cẩu lớn nhất thế giới.

[18]. WTO, DS58: United States - Import Prohibition of Certain Shrimp and Shrimp Products, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds58_e.htm (truy cập ngày 31/12/2019).

[19]. Appellate Body Reports, EC - Seal Products, para.5.302.

[20]. Được hiểu là ngăn chặn việc săn bắt, giết hại và lột da hải cẩu theo cách gây đau đớn, đau khổ, sợ hãi và các hình thức đau khổ khác cho những con vật này, đây một giá trị được coi là đạo đức công cộng của EU.

[21]. Ngoại lệ IC cho phép sản phẩm hải cẩu có nguồn gốc từ các cuộc săn bắn của người Eskimo bản địa hoặc tại các nước khác được mua bán, trao đổi, do các cuộc đi săn này một phần văn hóa truyền thống của họ.

[22]. Appellate Body Reports, EC - Seal Products, para. 5.338, 5.339.

[23]. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, TS. Nguyễn Bá Bình chủ biên, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2018, tr. 66.

[24]. TS. Trần Thị Thu Phương, Thỏa thuận thương mại khu vực trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Thế giới, Tạp chí Luật học số 12/2012, tr. 40.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: