Chủ nhật 13/09/2026 00:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Tóm tắt: Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự là một nhiệm vụ quan trọng của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trên cơ sở những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bài viết phân tích, làm rõ nội dung của bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Abstract: Protection of human rights and civil rights in civil proceedings is an important task of the Civil Procedure Code of 2015. Based on the provisions of the Civil Procedure Code of 2015, the article analyzes and clarifies the content of human rights and civil rights protection in civil proceedings in Vietnam at present.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thiết kế, xây dựng trên cơ sở thể chế hóa quan điểm của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cụ thể các quy định của Hiến pháp năm 2013 và đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với các bộ luật, đạo luật khác; đồng thời đảm bảo tính công khai, minh bạch, xây dựng mô hình tố tụng xét hỏi kết hợp với tranh tụng. Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Như vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, được thể hiện qua một số quy định như sau:

1. Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự bằng một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự

Nhằm bảo đảm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự bằng một số nguyên tắc:

Một là, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Một trong những điểm mới quan trọng nhất của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự là bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 4. Quy định này đã mở rộng tối đa quyền yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, điều này có nghĩa là Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Để trả lời vấn đề thắc mắc về phạm vi điều chỉnh và căn cứ áp dụng khi áp dụng trên thực tiễn, thì tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cũng đã nêu:

- Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là “vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự” nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

- Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.

Như vậy, khi không có điều luật quy định, Tòa án có thể căn cứ vào các nguyên tắc do Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự quy định để áp dụng, giải quyết, cụ thể như: Áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, án lệ, lẽ công bằng, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự.

Hai là, cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung quy định về chứng cứ và chứng minh nhằm làm rõ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc thu thập chứng cứ, hậu quả của việc đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được[1]. Tòa án chỉ thu thập chứng cứ khi đương sự không thể thu thập được hoặc khi xét thấy cần thiết, quy định này nhằm phù hợp với mô hình tố tụng dân sự là xét hỏi kết hợp với tranh tụng. Đồng thời, Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 còn bổ sung quy định về thủ tục trao đổi, chuyển giao chứng cứ giữa các đương sự để mọi chứng cứ đều công khai nhằm bảo đảm thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Để bảo đảm việc thu thập chứng cứ được nhanh chóng, thuận lợi hơn, khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn, Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong việc thực hiện những biện pháp thu thập chứng cứ. Những quy định trên đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền của đương sự và những người tham gia tố tụng khác khi tham gia vụ việc dân sự.

Ba là, Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Đây là một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự. Nguyên tắc này có ý nghĩa đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án được diễn ra đúng thời hạn, công khai và công bằng cho mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào quá trình tố tụng dân sự. Nội dung nguyên tắc được quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Để đảm bảo nội dung nguyên tắc này, Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 bổ sung một phần mới quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự. Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật. Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các vụ án dân sự khi có đủ các điều kiện do luật định[2] và không áp dụng để giải quyết việc dân sự.

Bốn là, bảo đảm tranh tụng trong xét xử

Để cụ thể hóa quy định tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử tại Điều 24. Theo đó, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này. Như vậy, về thời điểm tranh tụng trong tố tụng dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi bản án, quyết định được xét xử theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định Bộ luật này. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.

Như vậy, nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân của các bên đương sự và người tham gia tố tụng dân sự khác, qua đó góp phần mang lại sự công bằng, bình đẳng, minh bạch hoạt động tranh tụng trong toàn bộ quá trình xét xử của Tòa án.

2. Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự bằng việc quy định quyền của đương sự và của những người tham gia tố tụng khác một cách đầy đủ và chặt chẽ

Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 đã quy định đầy đủ và chặt chẽ các quyền của đương sự và của những người tham gia tố tụng khác nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, cụ thể như: Quyền của nguyên đơn dân sự (Điều 71); quyền của bị đơn dân sự (Điều 72); quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Điều 73); quyền thừa kế tham gia tố tụng dân sự (Điều 74); quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 76); quyền của người làm chứng (Điều 78); quyền của người giám định (Điều 80); quyền của phiên dịch (Điều 82); quyền của người đại diện (Điều 86).

Bên cạnh những quyền nêu trên để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định một số quyền đặc thù của đương sự và người tham gia tố tụng khác trong tố tụng dân sự, cụ thể:

- Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

Đây là một trong những quyền quan trọng nhất của mỗi cá nhân, công dân khi tham gia vào tố tụng dân sự. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trở thành một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, có ý nghĩa xuyên suốt tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự, kể từ khi khởi kiện và thụ lý vụ án cho đến khi thi hành án, kết thúc vụ án. Ưu thế của thủ tục tố tụng dân sự thể hiện ở những nguyên tắc đặc trưng như quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đảm bảo cho các bên chủ động đưa ra các biện pháp, phương thức đạt mục đích phục hồi, khôi phục một cách đầy đủ và nhanh chóng, kịp thời quyền và lợi ích của mình bị vi phạm hoặc tranh chấp[3]. Nội dung về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy, để phát sinh một vụ việc dân sự và phát động một vụ án, vụ việc dân sự thì đầu tiên đương sự thực hiện quyền khởi kiện, pháp luật tố tụng đã trao quyền quyết định này cho đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đó chính là quyền khởi kiện vụ án (Điều 186), đồng thời đương sự toàn quyền tự định đoạt trong các giai đoạn tố tụng tiếp sau khi khởi kiện như có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu; có quyền thỏa thuận, hòa giải…

- Quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Đây cũng là một trong những quyền đặc biệt quan trọng của đương sự, nó gắn liền với mỗi cá nhân để tự bảo vệ mình hoặc nhờ người khác bảo vệ. Đi kèm với việc ghi nhận quyền này tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đó là cơ chế bảo đảm quyền trên thực tiễn được quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định về quyền và trách nhiệm của đương sự trong việc cung cấp bản sao chứng cứ cho các đương sự khác; bỏ quy định về điều kiện “được Tòa án chấp nhận” đối với trường hợp người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là luật sư, trợ giúp viên pháp lý hoặc đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động (công đoàn) trong vụ việc về lao động vì hoạt động của các chủ thể này đã được các luật chuyên ngành điều chỉnh để giảm bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể nêu trên tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ việc dân sự.

- Quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng dân sự

Trong pháp luật tố tụng dân sự, ghi nhận và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật được coi là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Quyền kháng cáo và khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự

Quyền kháng cáo trong tố tụng dân sự là quyền dân sự bảo đảm chế độ xét xử hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án. Quyền kháng cáo quy định tại Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thực chất quyền kháng cáo chính là quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại và đưa ra xét xử lại vụ án theo yêu cầu của người kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, vì người kháng cáo cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc chưa thỏa mãn với phán quyết của Tòa án sơ thẩm. Bên cạnh đó, tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định về quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự.

3. Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự bằng việc quy định thẩm quyền và trình tự, thủ tục tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng

Để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định về thẩm quyền của Tòa án theo hướng tất cả những tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp theo quy định của luật thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác[4]. Quy định này, một mặt thể chế hóa yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 về việc người dân chỉ nộp đơn đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn, mặt khác là điều kiện để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng bổ sung quy định đầy đủ, cụ thể những loại tranh chấp và việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án bảo đảm phù hợp với luật nội dung đã quy định, như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Luật Thi hành án dân sự…

Để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm tạo cơ chế đảm bảo bằng trình tự, thủ tục tố tụng, cụ thể:

Một là, quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm

Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm được quy định từ Điều 186 đến Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm một số nội dung mới:

- Quy định thủ tục khởi kiện, xác định ngày khởi kiện trên cơ sở pháp điển hóa những văn bản hướng dẫn Bộ luật Tố tụng dân sự trước nhằm quy định rõ ràng, cụ thể về thủ tục khởi kiện tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt quyền khởi kiện của mình; bổ sung căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi cần đợi kết quả của cơ quan có thẩm quyền…

- Quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đây là phương thức để bảo đảm các đương sự được quyền biết và tiếp cận tất cả các tài liệu, chứng cứ; trao đổi chứng cứ, bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có), xác định những chứng cứ đã giao nộp; đề nghị triệu tập người làm chứng hoặc những người tham gia tố tụng khác của vụ án trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử giúp cho đương sự có đủ điều kiện chuẩn bị việc tranh tụng tại phiên tòa.

- Quy định về căn cứ, thủ tục, thời hạn tạm ngừng phiên tòa trong nhiều trường hợp. Quy định này để đảm bảo việc xem xét chứng cứ chính xác, toàn diện, bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại phiên tòa và phù hợp với thực tiễn.

- Quy định về thủ tục xét xử trong trường hợp vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng (Điều 238), theo đó quy định thủ tục xét xử của Tòa án trong trường hợp đương sự vắng mặt hoặc đương sự đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Hai là, quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm

Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm được quy định từ Điều 270 đến Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm một số nội dung mới:

- Quy định thủ tục kháng cáo, kháng nghị, thụ lý, xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị trên cơ sở kế thừa các quy định của luật trước, đồng thời bổ sung quy định cụ thể về thời hạn kháng cáo, ngày kháng cáo, về hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị, việc gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị sau khi xét xử sơ thẩm để phù hợp hơn với thực tiễn xét xử.

- Quy định mới về việc đương sự được quyền cung cấp bổ sung những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do chính đáng; những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm; sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự phiên tòa phúc thẩm nhằm bảo đảm tranh tụng trong xét xử phúc thẩm, trong đó có quy định về trách nhiệm trình bày của đương sự đối với những nội dung có kháng cáo, kháng nghị; việc hỏi và trả lời tại phiên tòa phúc thẩm; nội dung, phương thức tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm...

Ba là, quy định về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được quy định từ Điều 325 đến Điều 360 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm một số nội dung mới:

- Quy định rõ hơn căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Bổ sung điều luật mới (Điều 330) quy định đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao nộp. Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án.

- Bổ sung quy định về thủ tục tại phiên tòa giám đốc thẩm, đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến, tranh luận về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu.

- Bổ sung quy định Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện nhằm giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, tránh việc phải xét xử sơ thẩm, phúc thẩm lại trong những trường hợp không cần thiết.

Bốn là, quy định về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân tham gia vào phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự

Bên cạnh Tòa án, Viện kiểm sát cũng là một chủ thể quan trọng có vai trò bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng nói chung và trong tố tụng dân sự nói riêng. Theo Điều 46 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, còn người tiến hành tố tụng trong hệ thống Viện kiểm sát bao gồm viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm tra viên. Để thực hiện chức năng hiến định kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Qua hoạt động này cho thấy, Viện kiểm sát đã kiểm soát chặt chẽ hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng của Tòa án, hướng đến việc bảo vệ và bảo đảm quyền của đương sự và người tham gia tố tụng khác trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Đặc biệt, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng[5]. Mặt khác, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định mới về việc phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm và phiên họp sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 262 và điểm g khoản 1 Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quy định này đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án được diễn ra khách quan, công bằng, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Như vậy, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp trong quá trình tố tụng dân sự với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hết sức cần thiết, một mặt đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, mặt khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng (đặc biệt là đương sự).

Hiến pháp năm 2013 đã hiến định nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân thuộc về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng[6]. Do vậy, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đồng thời, thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, với nhiều quy định mới đã tạo nên hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự. Từ đó, tạo tiền đề để tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận và pháp lý về bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.

ThS. Lê Ngọc Duy

Đại học Kiểm sát Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Điều 6 Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015.

[2]. Xem Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn.

[3]. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Học viện Khoa học xã hội (2011), Quyền con người, Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội, tr. 232.

[4]. Xem Chương III - Thẩm quyền của Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Xem khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[6]. Theo khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…” và khoản 3 Điều 107: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: