Chủ nhật 19/04/2026 06:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Tóm tắt: Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự là một nhiệm vụ quan trọng của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trên cơ sở những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bài viết phân tích, làm rõ nội dung của bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Abstract: Protection of human rights and civil rights in civil proceedings is an important task of the Civil Procedure Code of 2015. Based on the provisions of the Civil Procedure Code of 2015, the article analyzes and clarifies the content of human rights and civil rights protection in civil proceedings in Vietnam at present.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được thiết kế, xây dựng trên cơ sở thể chế hóa quan điểm của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cụ thể các quy định của Hiến pháp năm 2013 và đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với các bộ luật, đạo luật khác; đồng thời đảm bảo tính công khai, minh bạch, xây dựng mô hình tố tụng xét hỏi kết hợp với tranh tụng. Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Như vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, được thể hiện qua một số quy định như sau:

1. Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự bằng một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự

Nhằm bảo đảm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự bằng một số nguyên tắc:

Một là, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Một trong những điểm mới quan trọng nhất của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự là bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 4. Quy định này đã mở rộng tối đa quyền yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, điều này có nghĩa là Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Để trả lời vấn đề thắc mắc về phạm vi điều chỉnh và căn cứ áp dụng khi áp dụng trên thực tiễn, thì tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cũng đã nêu:

- Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là “vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự” nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

- Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.

Như vậy, khi không có điều luật quy định, Tòa án có thể căn cứ vào các nguyên tắc do Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự quy định để áp dụng, giải quyết, cụ thể như: Áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, án lệ, lẽ công bằng, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự.

Hai là, cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung quy định về chứng cứ và chứng minh nhằm làm rõ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc thu thập chứng cứ, hậu quả của việc đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được[1]. Tòa án chỉ thu thập chứng cứ khi đương sự không thể thu thập được hoặc khi xét thấy cần thiết, quy định này nhằm phù hợp với mô hình tố tụng dân sự là xét hỏi kết hợp với tranh tụng. Đồng thời, Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 còn bổ sung quy định về thủ tục trao đổi, chuyển giao chứng cứ giữa các đương sự để mọi chứng cứ đều công khai nhằm bảo đảm thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Để bảo đảm việc thu thập chứng cứ được nhanh chóng, thuận lợi hơn, khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn, Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong việc thực hiện những biện pháp thu thập chứng cứ. Những quy định trên đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền của đương sự và những người tham gia tố tụng khác khi tham gia vụ việc dân sự.

Ba là, Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Đây là một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự. Nguyên tắc này có ý nghĩa đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án được diễn ra đúng thời hạn, công khai và công bằng cho mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào quá trình tố tụng dân sự. Nội dung nguyên tắc được quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Để đảm bảo nội dung nguyên tắc này, Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 bổ sung một phần mới quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự. Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật. Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các vụ án dân sự khi có đủ các điều kiện do luật định[2] và không áp dụng để giải quyết việc dân sự.

Bốn là, bảo đảm tranh tụng trong xét xử

Để cụ thể hóa quy định tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử tại Điều 24. Theo đó, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này. Như vậy, về thời điểm tranh tụng trong tố tụng dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi bản án, quyết định được xét xử theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định Bộ luật này. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.

Như vậy, nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân của các bên đương sự và người tham gia tố tụng dân sự khác, qua đó góp phần mang lại sự công bằng, bình đẳng, minh bạch hoạt động tranh tụng trong toàn bộ quá trình xét xử của Tòa án.

2. Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự bằng việc quy định quyền của đương sự và của những người tham gia tố tụng khác một cách đầy đủ và chặt chẽ

Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015 đã quy định đầy đủ và chặt chẽ các quyền của đương sự và của những người tham gia tố tụng khác nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, cụ thể như: Quyền của nguyên đơn dân sự (Điều 71); quyền của bị đơn dân sự (Điều 72); quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Điều 73); quyền thừa kế tham gia tố tụng dân sự (Điều 74); quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 76); quyền của người làm chứng (Điều 78); quyền của người giám định (Điều 80); quyền của phiên dịch (Điều 82); quyền của người đại diện (Điều 86).

Bên cạnh những quyền nêu trên để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định một số quyền đặc thù của đương sự và người tham gia tố tụng khác trong tố tụng dân sự, cụ thể:

- Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

Đây là một trong những quyền quan trọng nhất của mỗi cá nhân, công dân khi tham gia vào tố tụng dân sự. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trở thành một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, có ý nghĩa xuyên suốt tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự, kể từ khi khởi kiện và thụ lý vụ án cho đến khi thi hành án, kết thúc vụ án. Ưu thế của thủ tục tố tụng dân sự thể hiện ở những nguyên tắc đặc trưng như quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đảm bảo cho các bên chủ động đưa ra các biện pháp, phương thức đạt mục đích phục hồi, khôi phục một cách đầy đủ và nhanh chóng, kịp thời quyền và lợi ích của mình bị vi phạm hoặc tranh chấp[3]. Nội dung về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy, để phát sinh một vụ việc dân sự và phát động một vụ án, vụ việc dân sự thì đầu tiên đương sự thực hiện quyền khởi kiện, pháp luật tố tụng đã trao quyền quyết định này cho đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đó chính là quyền khởi kiện vụ án (Điều 186), đồng thời đương sự toàn quyền tự định đoạt trong các giai đoạn tố tụng tiếp sau khi khởi kiện như có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu; có quyền thỏa thuận, hòa giải…

- Quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Đây cũng là một trong những quyền đặc biệt quan trọng của đương sự, nó gắn liền với mỗi cá nhân để tự bảo vệ mình hoặc nhờ người khác bảo vệ. Đi kèm với việc ghi nhận quyền này tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đó là cơ chế bảo đảm quyền trên thực tiễn được quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định về quyền và trách nhiệm của đương sự trong việc cung cấp bản sao chứng cứ cho các đương sự khác; bỏ quy định về điều kiện “được Tòa án chấp nhận” đối với trường hợp người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là luật sư, trợ giúp viên pháp lý hoặc đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động (công đoàn) trong vụ việc về lao động vì hoạt động của các chủ thể này đã được các luật chuyên ngành điều chỉnh để giảm bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể nêu trên tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ việc dân sự.

- Quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng dân sự

Trong pháp luật tố tụng dân sự, ghi nhận và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật được coi là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Quyền kháng cáo và khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự

Quyền kháng cáo trong tố tụng dân sự là quyền dân sự bảo đảm chế độ xét xử hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án. Quyền kháng cáo quy định tại Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thực chất quyền kháng cáo chính là quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại và đưa ra xét xử lại vụ án theo yêu cầu của người kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, vì người kháng cáo cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc chưa thỏa mãn với phán quyết của Tòa án sơ thẩm. Bên cạnh đó, tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định về quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự.

3. Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự bằng việc quy định thẩm quyền và trình tự, thủ tục tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng

Để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định về thẩm quyền của Tòa án theo hướng tất cả những tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp theo quy định của luật thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác[4]. Quy định này, một mặt thể chế hóa yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 về việc người dân chỉ nộp đơn đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn, mặt khác là điều kiện để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng bổ sung quy định đầy đủ, cụ thể những loại tranh chấp và việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án bảo đảm phù hợp với luật nội dung đã quy định, như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Luật Thi hành án dân sự…

Để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm tạo cơ chế đảm bảo bằng trình tự, thủ tục tố tụng, cụ thể:

Một là, quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm

Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm được quy định từ Điều 186 đến Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm một số nội dung mới:

- Quy định thủ tục khởi kiện, xác định ngày khởi kiện trên cơ sở pháp điển hóa những văn bản hướng dẫn Bộ luật Tố tụng dân sự trước nhằm quy định rõ ràng, cụ thể về thủ tục khởi kiện tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt quyền khởi kiện của mình; bổ sung căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi cần đợi kết quả của cơ quan có thẩm quyền…

- Quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đây là phương thức để bảo đảm các đương sự được quyền biết và tiếp cận tất cả các tài liệu, chứng cứ; trao đổi chứng cứ, bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có), xác định những chứng cứ đã giao nộp; đề nghị triệu tập người làm chứng hoặc những người tham gia tố tụng khác của vụ án trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử giúp cho đương sự có đủ điều kiện chuẩn bị việc tranh tụng tại phiên tòa.

- Quy định về căn cứ, thủ tục, thời hạn tạm ngừng phiên tòa trong nhiều trường hợp. Quy định này để đảm bảo việc xem xét chứng cứ chính xác, toàn diện, bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại phiên tòa và phù hợp với thực tiễn.

- Quy định về thủ tục xét xử trong trường hợp vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng (Điều 238), theo đó quy định thủ tục xét xử của Tòa án trong trường hợp đương sự vắng mặt hoặc đương sự đề nghị xét xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Hai là, quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm

Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm được quy định từ Điều 270 đến Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm một số nội dung mới:

- Quy định thủ tục kháng cáo, kháng nghị, thụ lý, xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị trên cơ sở kế thừa các quy định của luật trước, đồng thời bổ sung quy định cụ thể về thời hạn kháng cáo, ngày kháng cáo, về hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị, việc gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị sau khi xét xử sơ thẩm để phù hợp hơn với thực tiễn xét xử.

- Quy định mới về việc đương sự được quyền cung cấp bổ sung những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do chính đáng; những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm; sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự phiên tòa phúc thẩm nhằm bảo đảm tranh tụng trong xét xử phúc thẩm, trong đó có quy định về trách nhiệm trình bày của đương sự đối với những nội dung có kháng cáo, kháng nghị; việc hỏi và trả lời tại phiên tòa phúc thẩm; nội dung, phương thức tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm...

Ba là, quy định về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được quy định từ Điều 325 đến Điều 360 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm một số nội dung mới:

- Quy định rõ hơn căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Bổ sung điều luật mới (Điều 330) quy định đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao nộp. Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án.

- Bổ sung quy định về thủ tục tại phiên tòa giám đốc thẩm, đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến, tranh luận về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu.

- Bổ sung quy định Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện nhằm giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, tránh việc phải xét xử sơ thẩm, phúc thẩm lại trong những trường hợp không cần thiết.

Bốn là, quy định về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân tham gia vào phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự

Bên cạnh Tòa án, Viện kiểm sát cũng là một chủ thể quan trọng có vai trò bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng nói chung và trong tố tụng dân sự nói riêng. Theo Điều 46 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, còn người tiến hành tố tụng trong hệ thống Viện kiểm sát bao gồm viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm tra viên. Để thực hiện chức năng hiến định kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Qua hoạt động này cho thấy, Viện kiểm sát đã kiểm soát chặt chẽ hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng của Tòa án, hướng đến việc bảo vệ và bảo đảm quyền của đương sự và người tham gia tố tụng khác trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Đặc biệt, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng[5]. Mặt khác, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định mới về việc phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm và phiên họp sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 262 và điểm g khoản 1 Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quy định này đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án được diễn ra khách quan, công bằng, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Như vậy, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp trong quá trình tố tụng dân sự với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hết sức cần thiết, một mặt đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, mặt khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng (đặc biệt là đương sự).

Hiến pháp năm 2013 đã hiến định nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân thuộc về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng[6]. Do vậy, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đồng thời, thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, với nhiều quy định mới đã tạo nên hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự. Từ đó, tạo tiền đề để tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận và pháp lý về bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.

ThS. Lê Ngọc Duy

Đại học Kiểm sát Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Điều 6 Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015.

[2]. Xem Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn.

[3]. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Học viện Khoa học xã hội (2011), Quyền con người, Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội, tr. 232.

[4]. Xem Chương III - Thẩm quyền của Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5]. Xem khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[6]. Theo khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…” và khoản 3 Điều 107: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: