Thứ hai 11/05/2026 11:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân trong việc sử dụng công cụ ChatGPT

ChatGPT đang là phần mềm trí tuệ nhân tạo được quan tâm hàng đầu không chỉ tại Việt Nam mà còn trên khắp thế giới, song cũng dẫn đến nhiều vấn đề rủi ro pháp lý trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân của người dùng. Bài viết này mang đến cái nhìn tổng quan về ChatGPT và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Vào tháng 11/2022, một ứng dụng ChatGPT sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) do Công ty khởi nghiệp OpenAI phát triển đã xuất hiện và nhanh chóng trở thành xu hướng toàn cầu[1]. Với các tính năng của mình, ChatGPT trở thành trợ lý đắc lực cho người dùng trong các lĩnh vực của đời sống. Tuy có nhiều lợi ích tiềm năng nhưng việc sử dụng công cụ ChatGPT dưới góc độ pháp lý vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, trong đó có việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân.

1. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong sử dụng công cụ ChatGPT

Hiện nay, người dùng sẽ nhận được câu trả lời trực tiếp từ ChatGPT khi đưa ra bất kỳ câu hỏi nào, tạo cảm giác như đang trò chuyện. Bên cạnh việc trả lời những câu hỏi ngắn, ChatGPT còn có khả năng sáng tạo tác phẩm, viết bài, sáng tạo nội dung, đặt ra yêu cầu xác định quyền tác giả của ChatGPT và của người sử dụng công cụ này.

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022), chủ thể của quyền tác giả chỉ bao gồm cá nhân và tổ chức. Vậy ChatGPT có được xem là “chủ sở hữu quyền tác giả” hay không? Pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể nên hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này[2]:

Quan điểm 1: ChatGPT được xem là chủ sở hữu quyền tác giả vì đây là thực thể sáng tạo ra tác phẩm dựa vào trí tuệ của chính nền tảng này chứ không phải dựa trên trí tuệ, nguồn kiến thức của người sử dụng.

Quan điểm 2: ChatGPT không được xem là chủ sở hữu quyền tác giả vì nhiệm vụ của ứng dụng này là tạo ra sản phẩm theo yêu cầu, mệnh lệnh từ người sử dụng, do đó, ChatGPT không thể tự tạo ra tác phẩm mà phải cần người dùng gợi ý. Khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022) quy định: “Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Như vậy, việc người sử dụng giao nhiệm vụ sáng tạo sản phẩm cho ChatGPT theo yêu cầu của mình thì người đó có thể được công nhận là chủ sở hữu quyền tác giả.

Quan điểm 3: Tiếp thu đồng thời cả hai quan điểm trên thì ChatGPT và người dùng đều sẽ được xác định là đồng chủ sở hữu quyền tác giả đối với sản phẩm mà người dùng giao cho ChatGPT sáng tạo ra. Trong đó, ChatGPT có vai trò là tác giả sáng tạo nên tác phẩm còn người sử dụng là bên thuê để tác giả tạo ra tác phẩm.

Hiện nay, vấn đề quyền tác giả của AI phần lớn chưa được các nước trên thế giới và Việt Nam công nhận, điều này cũng đồng nghĩa rằng, những tác phẩm do AI tạo ra không được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trừ pháp luật sở hữu trí tuệ tại một số nước, vùng lãnh thổ như Ấn Độ, Hồng Kông, Anh, New Zealand hay Ireland trao quyền tác giả cho những lập trình viên tạo ra các chương trình AI. Tại Vương Quốc Anh, bảo hộ tác phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 9 Đạo luật Bản quyền, Kiểu dáng và Bằng sáng chế năm 1988 (CDPA): “Trong trường hợp tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc hay nghệ thuật được tạo ra từ máy tính, tác giả sẽ là người sắp xếp cần thiết cho việc tạo ra tác phẩm được thực hiện”.

Có thể thấy, việc xem xét đưa AI trở thành chủ thể có quyền tác giả đã được một số nước tiếp cận khá sớm và rộng mở. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi, bàn luận và hoài nghi liệu việc công nhận quyền tác giả cho trí tuệ nhân tạo có thật sự công bằng cho các tác giả khác hay không, vì chính những tác giả cũng đang sử dụng trí tuệ của mình để sáng tạo ra các tác phẩm thật sự3. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã đề nghị các quốc gia trên thế giới tham vấn về tác động của AI đối với cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ. Trong đó, WIPO đã đưa ra một số vấn đề cần quan tâm, bao gồm: Loại công nghệ trí tuệ nhân tạo nào cần được xem xét để được bảo hộ bằng sáng chế; thẩm định và xây dựng các tiêu chí đánh giá công nghệ trí tuệ nhân tạo được bảo hộ bằng sáng chế; cần ban hành luật và sửa đổi luật để phù hợp với sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo...

Tại Việt Nam, vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm và sáng chế do AI tạo ra đang đối mặt với một số rào cản pháp lý như:

Thứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ chỉ được áp dụng đối với những sản phẩm trí tuệ do con người tạo ra. Trong trường hợp này, các sản phẩm trí tuệ nhân tạo không được bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ dẫn đến việc cá nhân hoặc tổ chức khác có thể sử dụng một cách tự ý mà không cần xin phép chủ sở hữu. Khi có tranh chấp xảy ra về quyền sở hữu hay có vi phạm pháp luật, cơ chế xử lý không thể xác định được khi đối tượng được bảo vệ chưa được pháp luật điều chỉnh.

Thứ hai, công cụ như ChatGPT cung cấp thông tin nhưng không ghi rõ nguồn thông tin và danh tính của tác giả. Người tiếp cận có khả năng sử dụng các loại thông tin mà không xác định được tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khi các vấn đề vi phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra, trách nhiệm thuộc về người sử dụng thông tin hay trí tuệ nhân tạo hiện nay vẫn còn là một thách thức. Vì thế, việc xây dựng khung pháp lý để đáp ứng các thách thức của trí tuệ nhân tạo trong việc quản lý quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng và các bên liên quan.

Có thể thấy, khi tạo ra bất kỳ một tác phẩm nào, tác giả luôn tốn rất nhiều thời gian, công sức, thậm chí là tiền bạc. Tuy nhiên, hiện nay, ChatGPT nói riêng và nhiều ứng dụng AI khác nói chung đã có thể thực hiện được việc sáng tạo này một cách đơn giản thông qua việc người dùng đưa ra câu lệnh, vì vậy, đặt ra vấn đề về công nhận quyền tác giả của sản phẩm AI[4].

Tác giả đồng ý với quan điểm cần xem xét công nhận chủ thể của quyền tác giả là AI nói chung, ChatGPT nói riêng và chủ thể tạo ra, vận hành AI, vì, để có một tác phẩm, ứng dụng phải có nguồn cung cấp dữ liệu do các lập trình viên thông qua các thuật toán để tạo nên cũng như con người khi sáng tạo tác phẩm cũng phải tham khảo qua nhiều nguồn dữ liệu khác nhau[5]. Nên quy định rõ ràng về quyền sở hữu trí tuệ đối với những tác phẩm được tạo ra bởi ChatGPT hoặc bất kỳ AI khác. Có thể tham khảo pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Ấn Độ, Hồng Kông, Anh, New Zealand hay Ireland quy định các lập trình viên xây dựng nền tảng ChatGPT hay bất kỳ trí tuệ nhân tạo khác tạo ra tác phẩm sẽ chính là tác giả. Người sử dụng nguồn thông tin chỉ được phép thực hiện một phần quyền tác giả, bao gồm quyền biểu diễn trước công chúng, sao chép, phân phối, cho thuê chứ không phải tác giả gốc[6].

Ngoài ra, xét về điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật hay pháp luật Việt Nam quy định quyền tác giả được bảo hộ khi nó đáp ứng được ba yêu cầu sau: Phải thể hiện dưới một hình thức xác định; là kết quả của hoạt động sáng tạo tinh thần và phải chứa đựng tính nguyên gốc. Nếu tác phẩm có sự hỗ trợ của AI hoặc ChatGPT, quyền tác giả chỉ được bảo hộ khi tác phẩm đó vẫn phải bảo đảm ba tiêu chí này. Trong trường hợp người sử dụng hoàn toàn thông qua AI để tạo ra tác phẩm mà không chứng minh được sự đóng góp sáng tạo và kỹ năng của bản thân, thì sẽ không được coi là tác giả. Tuy nhiên, ranh giới xác định mức độ đóng góp của bản thân tác giả trong việc tạo ra tác phẩm có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo là không đơn giản. Do đó, pháp luật sở hữu trí tuệ trong tương lai cần phải xây dựng các tiêu chí để đánh giá sự đóng góp của tác giả nguyên gốc trong tác phẩm có sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo mang tính chất hỗ trợ và cơ chế thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm có sự đóng góp của AI.

2. Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong sử dụng ChatGPT

ChatGPT có thể đưa ra câu trả lời trực tiếp cho các câu hỏi mà người dùng đặt ra, nhưng nguồn dữ liệu ChatGPT đã thu thập từ đâu và có mức độ tin cậy như thế nào thì vẫn đang là vấn đề người dùng phải cân nhắc. ChatGPT hoạt động trên cơ sở thu thập và phân tích dữ liệu, ứng dụng này cần con người cung cấp dữ liệu, thông tin, nhưng nguồn dữ liệu lớn nhất mà ChatGPT có thể khai thác được là từ internet. Theo đó, có nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra đối với việc có nguy cơ các dữ liệu cá nhân sẽ bị ứng dụng này thu thập trái phép nhằm mục đích khai thác và trục lợi.

Vấn đề lo ngại này tương tự như ở sự việc trước đây về một vụ kiện tập thể với 16 nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án Liên bang California với mức bồi thường thiệt hại là 3 tỷ USD từ OpenAI và Microsoft. Họ cho rằng, hai công ty này đã sử dụng trái phép dữ liệu cá nhân từ hàng trăm triệu người dùng internet, bao gồm cả trẻ em, để huấn luyện các công cụ AI như GPT 3.5 và 4.0, Dall-E và Vall-E. Nguyên đơn yêu cầu các công ty này áp dụng các biện pháp bổ sung để bảo vệ quyền riêng tư của người dùng, bao gồm việc làm rõ thông tin thu thập và đền bù cho dữ liệu đã bị lấy cắp, cũng như cho phép người dùng từ chối thu thập dữ liệu và ngừng việc thu thập dữ liệu bất hợp pháp[7]. Bên cạnh đó, đã từng xảy ra vụ việc Facebook chấp nhận thua kiện và bồi thường do sử dụng cookie và một chương trình mở rộng trên trình duyệt để thu thập trái phép thông tin về việc truy cập của người dùng đến các trang website khác[8].

Có thể thấy, vấn đề về an toàn bảo mật thông tin và dữ liệu cá nhân trong thời đại công nghệ phát triển vượt trội như ngày nay rất được quan tâm. Hầu hết các ứng dụng khi đăng nhập hoặc sử dụng, người dùng đều phải cung cấp thông tin, dữ liệu cá nhân, do đó, không thể kiểm soát hết được tình trạng thông tin cá nhân của người dùng bị khai thác trái phép.

Tại Việt Nam, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa được quy định tập trung và chi tiết. Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình... Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”. Điều 17 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định về thu thập và sử dụng thông tin cá nhân, theo đó, tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân có trách nhiệm sau đây: (a) Tiến hành thu thập thông tin cá nhân sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó; (b) Chỉ sử dụng thông tin cá nhân đã thu thập vào mục đích khác mục đích ban đầu sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân; (c) Không được cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân mà mình đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, tại Điều 159 và Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa có chế tài hình sự về “dữ liệu cá nhân” mà chỉ đề cập đến hành vi xâm phạm “thông tin cá nhân”[9] với hình phạt tù cao nhất là 07 năm. Đặc biệt, chủ thể ở đây mà pháp luật công nhận, nhắc đến vẫn chỉ là các cá nhân, tổ chức và không hề có quy định về các đối tượng khác như AI nói chung[10].

Ngày 17/4/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định số 13/2023/NĐ-CP), tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng tại Điều 1 Nghị định này quy định là “cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan”. Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật này cũng chưa đề cập đến chủ thể là trí tuệ nhân tạo AI. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 26 Nghị định số 13/2023 NĐ-CP cũng quy định về các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân bao gồm: Biện pháp quản lý, biện pháp kỹ thuật, biện pháp do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện và biện pháp điều tra, tố tụng. Theo tác giả, ngoài các biện pháp trên, Việt Nam còn có thể thực hiện biện pháp quản lý tự động các chương trình AI, dùng chính AI để đưa ra cảnh báo cho người dùng, tránh tình trạng người dùng sử dụng nguồn dữ liệu trái phép.

Để bảo vệ dữ liệu cá nhân, pháp luật Việt Nam cần có quy định cụ thể về hoạt động tiếp nhận dữ liệu, thu thập thông tin và khi sử dụng một phần mềm, ứng dụng về trí tuệ nhân tạo nói chung, ChatGPT nói riêng và phải thực hiện đúng cam kết về bảo mật thông tin người dùng theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng. Hiện nay, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân chỉ mới được quy định tại Nghị định số 13/2023/NĐ-CP. Tuy nhiên, văn bản này chỉ là văn bản dưới luật mang tính hướng dẫn của Chính phủ, hiệu lực pháp lý chưa cao. Do đó, cần luật hóa vấn đề này trong một văn bản luật cụ thể. Điều này có thể tham khảo từ Luật Bảo vệ dữ liệu chung châu Âu (GDPR) ban hành vào tháng 5/2018. GDPR đã chọn cách tiếp cận quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân là một quyền độc lập bên cạnh các quyền khác như quyền riêng tư. Cụ thể, GDPR không giới hạn về vị trí địa lý, được áp dụng với cả người quản lý và người xử lý dữ liệu, người bảo vệ dữ liệu. GDPR bảo vệ các quyền cơ bản của cá nhân, bao gồm: Quyền được thông báo, quyền được truy cập, quyền chỉnh sửa, quyền xóa, quyền giới hạn/ngừng xử lý, quyền trích xuất dữ liệu, quyền phản đối, quyền từ chối các xử lý phân nhóm và tự động ra quyết định, quy định về cơ quan giám sát và bảo vệ dữ liệu cá nhân và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể[11]. Điều này đã hình thành một cơ chế bảo vệ mạnh mẽ cho việc thực thi quyền bảo vệ thông tin cá nhân tại châu Âu. GDPR được xem là đã tạo ra cơ chế bảo vệ thông tin cá nhân nghiêm ngặt nhất thế giới hiện nay và còn thành lập cơ quan bảo vệ dữ liệu ở cấp liên minh.

Việt Nam cũng cần xây dựng một cơ quan giám sát và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Một số quốc gia trong Liên minh châu Âu đã xây dựng các cơ quan chuyên trách để bảo vệ dữ liệu như: Pháp thành lập Ủy ban quốc gia về tin học và tự do, Latvia thành lập Cơ quan thanh tra nhà nước về dữ liệu, Bỉ thành lập Ủy ban bảo mật dữ liệu, Tây Ban Nha thành lập Cơ quan bảo vệ dữ liệu. Ngày 31/3/2023, Cơ quan bảo vệ dữ liệu của Ý đã chỉ ra bốn vi phạm của OpenAI với quy định GDPR, cụ thể: Công ty cho phép ChatGPT cung cấp thông tin không chính xác hoặc gây hiểu lầm; không báo cáo cho người dùng về các hoạt động thu thập dữ liệu của hệ thống, không đáp ứng bất kỳ yêu cầu nào trong sáu quy định có thể có để xử lý dữ liệu cá nhân và không ngăn chặn trẻ em dưới 13 tuổi sử dụng dịch vụ. Vì thế, OpenAI bị yêu cầu ngay lập tức chấm dứt sử dụng thông tin cá nhân được thu thập từ các công dân tại Ý trong cơ sở dữ liệu của ChatGPT[12]. Theo tác giả, có thể tham khảo khi xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh về vấn đề này tại Việt Nam.

Sự xuất hiện của ChatGPT là một cột mốc đáng ghi nhận cho sự phát triển của thời đại công nghệ mang lại nhiều lợi ích vượt bậc cho con người. Tuy nhiên, đây là một hiện tượng mới phát sinh và sẽ có những rủi ro tiềm tàng cho người sử dụng. Do đó, việc xây dựng các quy định pháp luật quốc gia để thích ứng nhanh chóng với các điều kiện mới là điều cần thiết. Một số kiến nghị hoàn thiện vấn đề pháp lý đã được nêu ra vừa bảo đảm sự an toàn của ứng dụng công nghệ này trên thực tế, khuyến khích sự sáng tạo của con người, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực đến xã hội.

ThS. Lê Hồ Trung Hiếu

ThS. Luật sư Vũ Thị Bích Hải

Trường Đại học Văn Lang

[1]. Nguyễn Công Minh (2023), “Chat GPT - Sự đột phá về công nghệ ứng dụng trí tuệ nhân tạo”, https://tapchinganhang. gov.vn/chat-gpt-su-dot-pha-ve-cong-nghe-ung-dung-tri-tue-nhan-tao.htm, truy cập ngày 10/9/2023.

[2]. Lê Hoàng Oanh (2023), “Tác phẩm do Chat GPT tạo ra có thuộc bản quyền của người dùng hay không?”, https://vienthonglaw.vn/tac-pham-do-chat-gpt-tao-ra-co-thuoc-ban-quyen-cua-nguoi-dung-hay-khong/, truy cập ngày 22/9/2023.

[3]. Văn Chiến (2023), “Công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) nhìn từ góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ một số nước trên thế giới và Việt Nam”, https://phaply.net.vn/cong-nghe-tri-tue-nhan-tao-ai-nhin-tu-goc-do-phap-luat-so-huu-tri-tue-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-va-viet-nam-a256438.html, truy cập ngày 17/9/2023.

[4]. Lê Nguyên Hòa (2023), “Chat GPT và vấn đề về quyền tác phẩm do Chat GPT tạo ra”, https://lsvn.vn/chat-gpt-va-van-de-ve-quyen-tac-pham-do-chat-gpt-tao-ra-1675672734.html, truy cập ngày 05/10/2023.

[5]. Nguyễn Ngọc Hồng Khương (2022), “Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của trí tuệ nhân tạo”, https://tapchicongthuong. vn/bai-viet/bao-ve-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-cua-tri-tue-nhan-tao-89469.htm, truy cập ngày 10/10/2023.

[6]. Nguyễn Ngọc Hồng Khương (2022), ttđd.

[7]. Văn Toản (2023), “OpenAI đối mặt vụ kiện tập thể với cáo buộc đánh cắp dữ liệu người dùng”, https://nhandan.vn/openai-doi-mat-vu-kien-tap-the-voi-cao-buoc-danh-cap-du-lieu-nguoi-dung-post760359.html, truy cập ngày 10/8/2023.

[8]. Lưu Quý (2022), “Facebook thua kiện 90 triệu USD”, https://vnexpress.net/facebook-thua-kien-90-trieu-usd-4428019.html, truy cập ngày 16/10/2023.

[9]. Nghị định số 13/2023/NĐ-CP: Bảo vệ quyền dữ liệu cá nhân; ngăn chặn các hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-dinh-so-13-2023-nd-cp-bao-ve-quyen-du-lieu-ca-nhan-ngan-chan-cac-hanh-vi-xam-pham-du-lieu-ca-nhan-119230513100359528.htm, truy cập ngày 25/9/2023.

[10]. Ngô Ngọc Diễm và Chu Huyền My (2023), “Cơ sở pháp lý điều chỉnh những vấn đề liên quan đến phần mềm ChatGPT”, https://lsvn.vn/co-so-phap-ly-dieu-chinh-nhung-van-de-lien-quan-den-phan-mem-chatgpt-1677833521.html, truy cập ngày 12/9/2023.

[11]. Liên minh châu Âu (EU), Quy định về bảo vệ dữ liệu chung 2018 (General Data Protection Regulation - GDPR 2019).

[12]. Anh Vũ (2023), “Những rắc rối về pháp lý mà chatbot trí tuệ nhân tạo phải đối mặt”, https://laodong.vn/cong-nghe/nhung-rac-roi-ve-phap-ly-ma-chatbot-tri-tue-nhan-tao-phai-doi-mat-1188855.ldo, truy cập ngày 12/9/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: