Thứ tư 07/10/2026 12:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân trong việc sử dụng công cụ ChatGPT

ChatGPT đang là phần mềm trí tuệ nhân tạo được quan tâm hàng đầu không chỉ tại Việt Nam mà còn trên khắp thế giới, song cũng dẫn đến nhiều vấn đề rủi ro pháp lý trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân của người dùng. Bài viết này mang đến cái nhìn tổng quan về ChatGPT và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Vào tháng 11/2022, một ứng dụng ChatGPT sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) do Công ty khởi nghiệp OpenAI phát triển đã xuất hiện và nhanh chóng trở thành xu hướng toàn cầu[1]. Với các tính năng của mình, ChatGPT trở thành trợ lý đắc lực cho người dùng trong các lĩnh vực của đời sống. Tuy có nhiều lợi ích tiềm năng nhưng việc sử dụng công cụ ChatGPT dưới góc độ pháp lý vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, trong đó có việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân.

1. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong sử dụng công cụ ChatGPT

Hiện nay, người dùng sẽ nhận được câu trả lời trực tiếp từ ChatGPT khi đưa ra bất kỳ câu hỏi nào, tạo cảm giác như đang trò chuyện. Bên cạnh việc trả lời những câu hỏi ngắn, ChatGPT còn có khả năng sáng tạo tác phẩm, viết bài, sáng tạo nội dung, đặt ra yêu cầu xác định quyền tác giả của ChatGPT và của người sử dụng công cụ này.

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022), chủ thể của quyền tác giả chỉ bao gồm cá nhân và tổ chức. Vậy ChatGPT có được xem là “chủ sở hữu quyền tác giả” hay không? Pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể nên hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này[2]:

Quan điểm 1: ChatGPT được xem là chủ sở hữu quyền tác giả vì đây là thực thể sáng tạo ra tác phẩm dựa vào trí tuệ của chính nền tảng này chứ không phải dựa trên trí tuệ, nguồn kiến thức của người sử dụng.

Quan điểm 2: ChatGPT không được xem là chủ sở hữu quyền tác giả vì nhiệm vụ của ứng dụng này là tạo ra sản phẩm theo yêu cầu, mệnh lệnh từ người sử dụng, do đó, ChatGPT không thể tự tạo ra tác phẩm mà phải cần người dùng gợi ý. Khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022) quy định: “Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Như vậy, việc người sử dụng giao nhiệm vụ sáng tạo sản phẩm cho ChatGPT theo yêu cầu của mình thì người đó có thể được công nhận là chủ sở hữu quyền tác giả.

Quan điểm 3: Tiếp thu đồng thời cả hai quan điểm trên thì ChatGPT và người dùng đều sẽ được xác định là đồng chủ sở hữu quyền tác giả đối với sản phẩm mà người dùng giao cho ChatGPT sáng tạo ra. Trong đó, ChatGPT có vai trò là tác giả sáng tạo nên tác phẩm còn người sử dụng là bên thuê để tác giả tạo ra tác phẩm.

Hiện nay, vấn đề quyền tác giả của AI phần lớn chưa được các nước trên thế giới và Việt Nam công nhận, điều này cũng đồng nghĩa rằng, những tác phẩm do AI tạo ra không được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trừ pháp luật sở hữu trí tuệ tại một số nước, vùng lãnh thổ như Ấn Độ, Hồng Kông, Anh, New Zealand hay Ireland trao quyền tác giả cho những lập trình viên tạo ra các chương trình AI. Tại Vương Quốc Anh, bảo hộ tác phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 9 Đạo luật Bản quyền, Kiểu dáng và Bằng sáng chế năm 1988 (CDPA): “Trong trường hợp tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc hay nghệ thuật được tạo ra từ máy tính, tác giả sẽ là người sắp xếp cần thiết cho việc tạo ra tác phẩm được thực hiện”.

Có thể thấy, việc xem xét đưa AI trở thành chủ thể có quyền tác giả đã được một số nước tiếp cận khá sớm và rộng mở. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi, bàn luận và hoài nghi liệu việc công nhận quyền tác giả cho trí tuệ nhân tạo có thật sự công bằng cho các tác giả khác hay không, vì chính những tác giả cũng đang sử dụng trí tuệ của mình để sáng tạo ra các tác phẩm thật sự3. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã đề nghị các quốc gia trên thế giới tham vấn về tác động của AI đối với cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ. Trong đó, WIPO đã đưa ra một số vấn đề cần quan tâm, bao gồm: Loại công nghệ trí tuệ nhân tạo nào cần được xem xét để được bảo hộ bằng sáng chế; thẩm định và xây dựng các tiêu chí đánh giá công nghệ trí tuệ nhân tạo được bảo hộ bằng sáng chế; cần ban hành luật và sửa đổi luật để phù hợp với sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo...

Tại Việt Nam, vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm và sáng chế do AI tạo ra đang đối mặt với một số rào cản pháp lý như:

Thứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ chỉ được áp dụng đối với những sản phẩm trí tuệ do con người tạo ra. Trong trường hợp này, các sản phẩm trí tuệ nhân tạo không được bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ dẫn đến việc cá nhân hoặc tổ chức khác có thể sử dụng một cách tự ý mà không cần xin phép chủ sở hữu. Khi có tranh chấp xảy ra về quyền sở hữu hay có vi phạm pháp luật, cơ chế xử lý không thể xác định được khi đối tượng được bảo vệ chưa được pháp luật điều chỉnh.

Thứ hai, công cụ như ChatGPT cung cấp thông tin nhưng không ghi rõ nguồn thông tin và danh tính của tác giả. Người tiếp cận có khả năng sử dụng các loại thông tin mà không xác định được tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khi các vấn đề vi phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra, trách nhiệm thuộc về người sử dụng thông tin hay trí tuệ nhân tạo hiện nay vẫn còn là một thách thức. Vì thế, việc xây dựng khung pháp lý để đáp ứng các thách thức của trí tuệ nhân tạo trong việc quản lý quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng và các bên liên quan.

Có thể thấy, khi tạo ra bất kỳ một tác phẩm nào, tác giả luôn tốn rất nhiều thời gian, công sức, thậm chí là tiền bạc. Tuy nhiên, hiện nay, ChatGPT nói riêng và nhiều ứng dụng AI khác nói chung đã có thể thực hiện được việc sáng tạo này một cách đơn giản thông qua việc người dùng đưa ra câu lệnh, vì vậy, đặt ra vấn đề về công nhận quyền tác giả của sản phẩm AI[4].

Tác giả đồng ý với quan điểm cần xem xét công nhận chủ thể của quyền tác giả là AI nói chung, ChatGPT nói riêng và chủ thể tạo ra, vận hành AI, vì, để có một tác phẩm, ứng dụng phải có nguồn cung cấp dữ liệu do các lập trình viên thông qua các thuật toán để tạo nên cũng như con người khi sáng tạo tác phẩm cũng phải tham khảo qua nhiều nguồn dữ liệu khác nhau[5]. Nên quy định rõ ràng về quyền sở hữu trí tuệ đối với những tác phẩm được tạo ra bởi ChatGPT hoặc bất kỳ AI khác. Có thể tham khảo pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Ấn Độ, Hồng Kông, Anh, New Zealand hay Ireland quy định các lập trình viên xây dựng nền tảng ChatGPT hay bất kỳ trí tuệ nhân tạo khác tạo ra tác phẩm sẽ chính là tác giả. Người sử dụng nguồn thông tin chỉ được phép thực hiện một phần quyền tác giả, bao gồm quyền biểu diễn trước công chúng, sao chép, phân phối, cho thuê chứ không phải tác giả gốc[6].

Ngoài ra, xét về điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật hay pháp luật Việt Nam quy định quyền tác giả được bảo hộ khi nó đáp ứng được ba yêu cầu sau: Phải thể hiện dưới một hình thức xác định; là kết quả của hoạt động sáng tạo tinh thần và phải chứa đựng tính nguyên gốc. Nếu tác phẩm có sự hỗ trợ của AI hoặc ChatGPT, quyền tác giả chỉ được bảo hộ khi tác phẩm đó vẫn phải bảo đảm ba tiêu chí này. Trong trường hợp người sử dụng hoàn toàn thông qua AI để tạo ra tác phẩm mà không chứng minh được sự đóng góp sáng tạo và kỹ năng của bản thân, thì sẽ không được coi là tác giả. Tuy nhiên, ranh giới xác định mức độ đóng góp của bản thân tác giả trong việc tạo ra tác phẩm có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo là không đơn giản. Do đó, pháp luật sở hữu trí tuệ trong tương lai cần phải xây dựng các tiêu chí để đánh giá sự đóng góp của tác giả nguyên gốc trong tác phẩm có sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo mang tính chất hỗ trợ và cơ chế thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm có sự đóng góp của AI.

2. Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong sử dụng ChatGPT

ChatGPT có thể đưa ra câu trả lời trực tiếp cho các câu hỏi mà người dùng đặt ra, nhưng nguồn dữ liệu ChatGPT đã thu thập từ đâu và có mức độ tin cậy như thế nào thì vẫn đang là vấn đề người dùng phải cân nhắc. ChatGPT hoạt động trên cơ sở thu thập và phân tích dữ liệu, ứng dụng này cần con người cung cấp dữ liệu, thông tin, nhưng nguồn dữ liệu lớn nhất mà ChatGPT có thể khai thác được là từ internet. Theo đó, có nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra đối với việc có nguy cơ các dữ liệu cá nhân sẽ bị ứng dụng này thu thập trái phép nhằm mục đích khai thác và trục lợi.

Vấn đề lo ngại này tương tự như ở sự việc trước đây về một vụ kiện tập thể với 16 nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án Liên bang California với mức bồi thường thiệt hại là 3 tỷ USD từ OpenAI và Microsoft. Họ cho rằng, hai công ty này đã sử dụng trái phép dữ liệu cá nhân từ hàng trăm triệu người dùng internet, bao gồm cả trẻ em, để huấn luyện các công cụ AI như GPT 3.5 và 4.0, Dall-E và Vall-E. Nguyên đơn yêu cầu các công ty này áp dụng các biện pháp bổ sung để bảo vệ quyền riêng tư của người dùng, bao gồm việc làm rõ thông tin thu thập và đền bù cho dữ liệu đã bị lấy cắp, cũng như cho phép người dùng từ chối thu thập dữ liệu và ngừng việc thu thập dữ liệu bất hợp pháp[7]. Bên cạnh đó, đã từng xảy ra vụ việc Facebook chấp nhận thua kiện và bồi thường do sử dụng cookie và một chương trình mở rộng trên trình duyệt để thu thập trái phép thông tin về việc truy cập của người dùng đến các trang website khác[8].

Có thể thấy, vấn đề về an toàn bảo mật thông tin và dữ liệu cá nhân trong thời đại công nghệ phát triển vượt trội như ngày nay rất được quan tâm. Hầu hết các ứng dụng khi đăng nhập hoặc sử dụng, người dùng đều phải cung cấp thông tin, dữ liệu cá nhân, do đó, không thể kiểm soát hết được tình trạng thông tin cá nhân của người dùng bị khai thác trái phép.

Tại Việt Nam, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa được quy định tập trung và chi tiết. Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình... Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”. Điều 17 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định về thu thập và sử dụng thông tin cá nhân, theo đó, tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân có trách nhiệm sau đây: (a) Tiến hành thu thập thông tin cá nhân sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó; (b) Chỉ sử dụng thông tin cá nhân đã thu thập vào mục đích khác mục đích ban đầu sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân; (c) Không được cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân mà mình đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, tại Điều 159 và Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa có chế tài hình sự về “dữ liệu cá nhân” mà chỉ đề cập đến hành vi xâm phạm “thông tin cá nhân”[9] với hình phạt tù cao nhất là 07 năm. Đặc biệt, chủ thể ở đây mà pháp luật công nhận, nhắc đến vẫn chỉ là các cá nhân, tổ chức và không hề có quy định về các đối tượng khác như AI nói chung[10].

Ngày 17/4/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định số 13/2023/NĐ-CP), tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng tại Điều 1 Nghị định này quy định là “cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan”. Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật này cũng chưa đề cập đến chủ thể là trí tuệ nhân tạo AI. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 26 Nghị định số 13/2023 NĐ-CP cũng quy định về các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân bao gồm: Biện pháp quản lý, biện pháp kỹ thuật, biện pháp do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện và biện pháp điều tra, tố tụng. Theo tác giả, ngoài các biện pháp trên, Việt Nam còn có thể thực hiện biện pháp quản lý tự động các chương trình AI, dùng chính AI để đưa ra cảnh báo cho người dùng, tránh tình trạng người dùng sử dụng nguồn dữ liệu trái phép.

Để bảo vệ dữ liệu cá nhân, pháp luật Việt Nam cần có quy định cụ thể về hoạt động tiếp nhận dữ liệu, thu thập thông tin và khi sử dụng một phần mềm, ứng dụng về trí tuệ nhân tạo nói chung, ChatGPT nói riêng và phải thực hiện đúng cam kết về bảo mật thông tin người dùng theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng. Hiện nay, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân chỉ mới được quy định tại Nghị định số 13/2023/NĐ-CP. Tuy nhiên, văn bản này chỉ là văn bản dưới luật mang tính hướng dẫn của Chính phủ, hiệu lực pháp lý chưa cao. Do đó, cần luật hóa vấn đề này trong một văn bản luật cụ thể. Điều này có thể tham khảo từ Luật Bảo vệ dữ liệu chung châu Âu (GDPR) ban hành vào tháng 5/2018. GDPR đã chọn cách tiếp cận quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân là một quyền độc lập bên cạnh các quyền khác như quyền riêng tư. Cụ thể, GDPR không giới hạn về vị trí địa lý, được áp dụng với cả người quản lý và người xử lý dữ liệu, người bảo vệ dữ liệu. GDPR bảo vệ các quyền cơ bản của cá nhân, bao gồm: Quyền được thông báo, quyền được truy cập, quyền chỉnh sửa, quyền xóa, quyền giới hạn/ngừng xử lý, quyền trích xuất dữ liệu, quyền phản đối, quyền từ chối các xử lý phân nhóm và tự động ra quyết định, quy định về cơ quan giám sát và bảo vệ dữ liệu cá nhân và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể[11]. Điều này đã hình thành một cơ chế bảo vệ mạnh mẽ cho việc thực thi quyền bảo vệ thông tin cá nhân tại châu Âu. GDPR được xem là đã tạo ra cơ chế bảo vệ thông tin cá nhân nghiêm ngặt nhất thế giới hiện nay và còn thành lập cơ quan bảo vệ dữ liệu ở cấp liên minh.

Việt Nam cũng cần xây dựng một cơ quan giám sát và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Một số quốc gia trong Liên minh châu Âu đã xây dựng các cơ quan chuyên trách để bảo vệ dữ liệu như: Pháp thành lập Ủy ban quốc gia về tin học và tự do, Latvia thành lập Cơ quan thanh tra nhà nước về dữ liệu, Bỉ thành lập Ủy ban bảo mật dữ liệu, Tây Ban Nha thành lập Cơ quan bảo vệ dữ liệu. Ngày 31/3/2023, Cơ quan bảo vệ dữ liệu của Ý đã chỉ ra bốn vi phạm của OpenAI với quy định GDPR, cụ thể: Công ty cho phép ChatGPT cung cấp thông tin không chính xác hoặc gây hiểu lầm; không báo cáo cho người dùng về các hoạt động thu thập dữ liệu của hệ thống, không đáp ứng bất kỳ yêu cầu nào trong sáu quy định có thể có để xử lý dữ liệu cá nhân và không ngăn chặn trẻ em dưới 13 tuổi sử dụng dịch vụ. Vì thế, OpenAI bị yêu cầu ngay lập tức chấm dứt sử dụng thông tin cá nhân được thu thập từ các công dân tại Ý trong cơ sở dữ liệu của ChatGPT[12]. Theo tác giả, có thể tham khảo khi xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh về vấn đề này tại Việt Nam.

Sự xuất hiện của ChatGPT là một cột mốc đáng ghi nhận cho sự phát triển của thời đại công nghệ mang lại nhiều lợi ích vượt bậc cho con người. Tuy nhiên, đây là một hiện tượng mới phát sinh và sẽ có những rủi ro tiềm tàng cho người sử dụng. Do đó, việc xây dựng các quy định pháp luật quốc gia để thích ứng nhanh chóng với các điều kiện mới là điều cần thiết. Một số kiến nghị hoàn thiện vấn đề pháp lý đã được nêu ra vừa bảo đảm sự an toàn của ứng dụng công nghệ này trên thực tế, khuyến khích sự sáng tạo của con người, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực đến xã hội.

ThS. Lê Hồ Trung Hiếu

ThS. Luật sư Vũ Thị Bích Hải

Trường Đại học Văn Lang

[1]. Nguyễn Công Minh (2023), “Chat GPT - Sự đột phá về công nghệ ứng dụng trí tuệ nhân tạo”, https://tapchinganhang. gov.vn/chat-gpt-su-dot-pha-ve-cong-nghe-ung-dung-tri-tue-nhan-tao.htm, truy cập ngày 10/9/2023.

[2]. Lê Hoàng Oanh (2023), “Tác phẩm do Chat GPT tạo ra có thuộc bản quyền của người dùng hay không?”, https://vienthonglaw.vn/tac-pham-do-chat-gpt-tao-ra-co-thuoc-ban-quyen-cua-nguoi-dung-hay-khong/, truy cập ngày 22/9/2023.

[3]. Văn Chiến (2023), “Công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) nhìn từ góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ một số nước trên thế giới và Việt Nam”, https://phaply.net.vn/cong-nghe-tri-tue-nhan-tao-ai-nhin-tu-goc-do-phap-luat-so-huu-tri-tue-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-va-viet-nam-a256438.html, truy cập ngày 17/9/2023.

[4]. Lê Nguyên Hòa (2023), “Chat GPT và vấn đề về quyền tác phẩm do Chat GPT tạo ra”, https://lsvn.vn/chat-gpt-va-van-de-ve-quyen-tac-pham-do-chat-gpt-tao-ra-1675672734.html, truy cập ngày 05/10/2023.

[5]. Nguyễn Ngọc Hồng Khương (2022), “Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của trí tuệ nhân tạo”, https://tapchicongthuong. vn/bai-viet/bao-ve-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-cua-tri-tue-nhan-tao-89469.htm, truy cập ngày 10/10/2023.

[6]. Nguyễn Ngọc Hồng Khương (2022), ttđd.

[7]. Văn Toản (2023), “OpenAI đối mặt vụ kiện tập thể với cáo buộc đánh cắp dữ liệu người dùng”, https://nhandan.vn/openai-doi-mat-vu-kien-tap-the-voi-cao-buoc-danh-cap-du-lieu-nguoi-dung-post760359.html, truy cập ngày 10/8/2023.

[8]. Lưu Quý (2022), “Facebook thua kiện 90 triệu USD”, https://vnexpress.net/facebook-thua-kien-90-trieu-usd-4428019.html, truy cập ngày 16/10/2023.

[9]. Nghị định số 13/2023/NĐ-CP: Bảo vệ quyền dữ liệu cá nhân; ngăn chặn các hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-dinh-so-13-2023-nd-cp-bao-ve-quyen-du-lieu-ca-nhan-ngan-chan-cac-hanh-vi-xam-pham-du-lieu-ca-nhan-119230513100359528.htm, truy cập ngày 25/9/2023.

[10]. Ngô Ngọc Diễm và Chu Huyền My (2023), “Cơ sở pháp lý điều chỉnh những vấn đề liên quan đến phần mềm ChatGPT”, https://lsvn.vn/co-so-phap-ly-dieu-chinh-nhung-van-de-lien-quan-den-phan-mem-chatgpt-1677833521.html, truy cập ngày 12/9/2023.

[11]. Liên minh châu Âu (EU), Quy định về bảo vệ dữ liệu chung 2018 (General Data Protection Regulation - GDPR 2019).

[12]. Anh Vũ (2023), “Những rắc rối về pháp lý mà chatbot trí tuệ nhân tạo phải đối mặt”, https://laodong.vn/cong-nghe/nhung-rac-roi-ve-phap-ly-ma-chatbot-tri-tue-nhan-tao-phai-doi-mat-1188855.ldo, truy cập ngày 12/9/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: