Thứ năm 19/03/2026 11:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân trong việc sử dụng công cụ ChatGPT

ChatGPT đang là phần mềm trí tuệ nhân tạo được quan tâm hàng đầu không chỉ tại Việt Nam mà còn trên khắp thế giới, song cũng dẫn đến nhiều vấn đề rủi ro pháp lý trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân của người dùng. Bài viết này mang đến cái nhìn tổng quan về ChatGPT và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Vào tháng 11/2022, một ứng dụng ChatGPT sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) do Công ty khởi nghiệp OpenAI phát triển đã xuất hiện và nhanh chóng trở thành xu hướng toàn cầu[1]. Với các tính năng của mình, ChatGPT trở thành trợ lý đắc lực cho người dùng trong các lĩnh vực của đời sống. Tuy có nhiều lợi ích tiềm năng nhưng việc sử dụng công cụ ChatGPT dưới góc độ pháp lý vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, trong đó có việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu cá nhân.

1. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong sử dụng công cụ ChatGPT

Hiện nay, người dùng sẽ nhận được câu trả lời trực tiếp từ ChatGPT khi đưa ra bất kỳ câu hỏi nào, tạo cảm giác như đang trò chuyện. Bên cạnh việc trả lời những câu hỏi ngắn, ChatGPT còn có khả năng sáng tạo tác phẩm, viết bài, sáng tạo nội dung, đặt ra yêu cầu xác định quyền tác giả của ChatGPT và của người sử dụng công cụ này.

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022), chủ thể của quyền tác giả chỉ bao gồm cá nhân và tổ chức. Vậy ChatGPT có được xem là “chủ sở hữu quyền tác giả” hay không? Pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể nên hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này[2]:

Quan điểm 1: ChatGPT được xem là chủ sở hữu quyền tác giả vì đây là thực thể sáng tạo ra tác phẩm dựa vào trí tuệ của chính nền tảng này chứ không phải dựa trên trí tuệ, nguồn kiến thức của người sử dụng.

Quan điểm 2: ChatGPT không được xem là chủ sở hữu quyền tác giả vì nhiệm vụ của ứng dụng này là tạo ra sản phẩm theo yêu cầu, mệnh lệnh từ người sử dụng, do đó, ChatGPT không thể tự tạo ra tác phẩm mà phải cần người dùng gợi ý. Khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022) quy định: “Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Như vậy, việc người sử dụng giao nhiệm vụ sáng tạo sản phẩm cho ChatGPT theo yêu cầu của mình thì người đó có thể được công nhận là chủ sở hữu quyền tác giả.

Quan điểm 3: Tiếp thu đồng thời cả hai quan điểm trên thì ChatGPT và người dùng đều sẽ được xác định là đồng chủ sở hữu quyền tác giả đối với sản phẩm mà người dùng giao cho ChatGPT sáng tạo ra. Trong đó, ChatGPT có vai trò là tác giả sáng tạo nên tác phẩm còn người sử dụng là bên thuê để tác giả tạo ra tác phẩm.

Hiện nay, vấn đề quyền tác giả của AI phần lớn chưa được các nước trên thế giới và Việt Nam công nhận, điều này cũng đồng nghĩa rằng, những tác phẩm do AI tạo ra không được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trừ pháp luật sở hữu trí tuệ tại một số nước, vùng lãnh thổ như Ấn Độ, Hồng Kông, Anh, New Zealand hay Ireland trao quyền tác giả cho những lập trình viên tạo ra các chương trình AI. Tại Vương Quốc Anh, bảo hộ tác phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 9 Đạo luật Bản quyền, Kiểu dáng và Bằng sáng chế năm 1988 (CDPA): “Trong trường hợp tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc hay nghệ thuật được tạo ra từ máy tính, tác giả sẽ là người sắp xếp cần thiết cho việc tạo ra tác phẩm được thực hiện”.

Có thể thấy, việc xem xét đưa AI trở thành chủ thể có quyền tác giả đã được một số nước tiếp cận khá sớm và rộng mở. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi, bàn luận và hoài nghi liệu việc công nhận quyền tác giả cho trí tuệ nhân tạo có thật sự công bằng cho các tác giả khác hay không, vì chính những tác giả cũng đang sử dụng trí tuệ của mình để sáng tạo ra các tác phẩm thật sự3. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã đề nghị các quốc gia trên thế giới tham vấn về tác động của AI đối với cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ. Trong đó, WIPO đã đưa ra một số vấn đề cần quan tâm, bao gồm: Loại công nghệ trí tuệ nhân tạo nào cần được xem xét để được bảo hộ bằng sáng chế; thẩm định và xây dựng các tiêu chí đánh giá công nghệ trí tuệ nhân tạo được bảo hộ bằng sáng chế; cần ban hành luật và sửa đổi luật để phù hợp với sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo...

Tại Việt Nam, vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm và sáng chế do AI tạo ra đang đối mặt với một số rào cản pháp lý như:

Thứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ chỉ được áp dụng đối với những sản phẩm trí tuệ do con người tạo ra. Trong trường hợp này, các sản phẩm trí tuệ nhân tạo không được bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ dẫn đến việc cá nhân hoặc tổ chức khác có thể sử dụng một cách tự ý mà không cần xin phép chủ sở hữu. Khi có tranh chấp xảy ra về quyền sở hữu hay có vi phạm pháp luật, cơ chế xử lý không thể xác định được khi đối tượng được bảo vệ chưa được pháp luật điều chỉnh.

Thứ hai, công cụ như ChatGPT cung cấp thông tin nhưng không ghi rõ nguồn thông tin và danh tính của tác giả. Người tiếp cận có khả năng sử dụng các loại thông tin mà không xác định được tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khi các vấn đề vi phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra, trách nhiệm thuộc về người sử dụng thông tin hay trí tuệ nhân tạo hiện nay vẫn còn là một thách thức. Vì thế, việc xây dựng khung pháp lý để đáp ứng các thách thức của trí tuệ nhân tạo trong việc quản lý quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng và các bên liên quan.

Có thể thấy, khi tạo ra bất kỳ một tác phẩm nào, tác giả luôn tốn rất nhiều thời gian, công sức, thậm chí là tiền bạc. Tuy nhiên, hiện nay, ChatGPT nói riêng và nhiều ứng dụng AI khác nói chung đã có thể thực hiện được việc sáng tạo này một cách đơn giản thông qua việc người dùng đưa ra câu lệnh, vì vậy, đặt ra vấn đề về công nhận quyền tác giả của sản phẩm AI[4].

Tác giả đồng ý với quan điểm cần xem xét công nhận chủ thể của quyền tác giả là AI nói chung, ChatGPT nói riêng và chủ thể tạo ra, vận hành AI, vì, để có một tác phẩm, ứng dụng phải có nguồn cung cấp dữ liệu do các lập trình viên thông qua các thuật toán để tạo nên cũng như con người khi sáng tạo tác phẩm cũng phải tham khảo qua nhiều nguồn dữ liệu khác nhau[5]. Nên quy định rõ ràng về quyền sở hữu trí tuệ đối với những tác phẩm được tạo ra bởi ChatGPT hoặc bất kỳ AI khác. Có thể tham khảo pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Ấn Độ, Hồng Kông, Anh, New Zealand hay Ireland quy định các lập trình viên xây dựng nền tảng ChatGPT hay bất kỳ trí tuệ nhân tạo khác tạo ra tác phẩm sẽ chính là tác giả. Người sử dụng nguồn thông tin chỉ được phép thực hiện một phần quyền tác giả, bao gồm quyền biểu diễn trước công chúng, sao chép, phân phối, cho thuê chứ không phải tác giả gốc[6].

Ngoài ra, xét về điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật hay pháp luật Việt Nam quy định quyền tác giả được bảo hộ khi nó đáp ứng được ba yêu cầu sau: Phải thể hiện dưới một hình thức xác định; là kết quả của hoạt động sáng tạo tinh thần và phải chứa đựng tính nguyên gốc. Nếu tác phẩm có sự hỗ trợ của AI hoặc ChatGPT, quyền tác giả chỉ được bảo hộ khi tác phẩm đó vẫn phải bảo đảm ba tiêu chí này. Trong trường hợp người sử dụng hoàn toàn thông qua AI để tạo ra tác phẩm mà không chứng minh được sự đóng góp sáng tạo và kỹ năng của bản thân, thì sẽ không được coi là tác giả. Tuy nhiên, ranh giới xác định mức độ đóng góp của bản thân tác giả trong việc tạo ra tác phẩm có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo là không đơn giản. Do đó, pháp luật sở hữu trí tuệ trong tương lai cần phải xây dựng các tiêu chí để đánh giá sự đóng góp của tác giả nguyên gốc trong tác phẩm có sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo mang tính chất hỗ trợ và cơ chế thủ tục đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm có sự đóng góp của AI.

2. Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong sử dụng ChatGPT

ChatGPT có thể đưa ra câu trả lời trực tiếp cho các câu hỏi mà người dùng đặt ra, nhưng nguồn dữ liệu ChatGPT đã thu thập từ đâu và có mức độ tin cậy như thế nào thì vẫn đang là vấn đề người dùng phải cân nhắc. ChatGPT hoạt động trên cơ sở thu thập và phân tích dữ liệu, ứng dụng này cần con người cung cấp dữ liệu, thông tin, nhưng nguồn dữ liệu lớn nhất mà ChatGPT có thể khai thác được là từ internet. Theo đó, có nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra đối với việc có nguy cơ các dữ liệu cá nhân sẽ bị ứng dụng này thu thập trái phép nhằm mục đích khai thác và trục lợi.

Vấn đề lo ngại này tương tự như ở sự việc trước đây về một vụ kiện tập thể với 16 nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án Liên bang California với mức bồi thường thiệt hại là 3 tỷ USD từ OpenAI và Microsoft. Họ cho rằng, hai công ty này đã sử dụng trái phép dữ liệu cá nhân từ hàng trăm triệu người dùng internet, bao gồm cả trẻ em, để huấn luyện các công cụ AI như GPT 3.5 và 4.0, Dall-E và Vall-E. Nguyên đơn yêu cầu các công ty này áp dụng các biện pháp bổ sung để bảo vệ quyền riêng tư của người dùng, bao gồm việc làm rõ thông tin thu thập và đền bù cho dữ liệu đã bị lấy cắp, cũng như cho phép người dùng từ chối thu thập dữ liệu và ngừng việc thu thập dữ liệu bất hợp pháp[7]. Bên cạnh đó, đã từng xảy ra vụ việc Facebook chấp nhận thua kiện và bồi thường do sử dụng cookie và một chương trình mở rộng trên trình duyệt để thu thập trái phép thông tin về việc truy cập của người dùng đến các trang website khác[8].

Có thể thấy, vấn đề về an toàn bảo mật thông tin và dữ liệu cá nhân trong thời đại công nghệ phát triển vượt trội như ngày nay rất được quan tâm. Hầu hết các ứng dụng khi đăng nhập hoặc sử dụng, người dùng đều phải cung cấp thông tin, dữ liệu cá nhân, do đó, không thể kiểm soát hết được tình trạng thông tin cá nhân của người dùng bị khai thác trái phép.

Tại Việt Nam, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân chưa được quy định tập trung và chi tiết. Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình... Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”. Điều 17 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định về thu thập và sử dụng thông tin cá nhân, theo đó, tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân có trách nhiệm sau đây: (a) Tiến hành thu thập thông tin cá nhân sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó; (b) Chỉ sử dụng thông tin cá nhân đã thu thập vào mục đích khác mục đích ban đầu sau khi có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân; (c) Không được cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân mà mình đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân đó hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, tại Điều 159 và Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa có chế tài hình sự về “dữ liệu cá nhân” mà chỉ đề cập đến hành vi xâm phạm “thông tin cá nhân”[9] với hình phạt tù cao nhất là 07 năm. Đặc biệt, chủ thể ở đây mà pháp luật công nhận, nhắc đến vẫn chỉ là các cá nhân, tổ chức và không hề có quy định về các đối tượng khác như AI nói chung[10].

Ngày 17/4/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định số 13/2023/NĐ-CP), tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng tại Điều 1 Nghị định này quy định là “cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan”. Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật này cũng chưa đề cập đến chủ thể là trí tuệ nhân tạo AI. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 26 Nghị định số 13/2023 NĐ-CP cũng quy định về các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân bao gồm: Biện pháp quản lý, biện pháp kỹ thuật, biện pháp do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện và biện pháp điều tra, tố tụng. Theo tác giả, ngoài các biện pháp trên, Việt Nam còn có thể thực hiện biện pháp quản lý tự động các chương trình AI, dùng chính AI để đưa ra cảnh báo cho người dùng, tránh tình trạng người dùng sử dụng nguồn dữ liệu trái phép.

Để bảo vệ dữ liệu cá nhân, pháp luật Việt Nam cần có quy định cụ thể về hoạt động tiếp nhận dữ liệu, thu thập thông tin và khi sử dụng một phần mềm, ứng dụng về trí tuệ nhân tạo nói chung, ChatGPT nói riêng và phải thực hiện đúng cam kết về bảo mật thông tin người dùng theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng. Hiện nay, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân chỉ mới được quy định tại Nghị định số 13/2023/NĐ-CP. Tuy nhiên, văn bản này chỉ là văn bản dưới luật mang tính hướng dẫn của Chính phủ, hiệu lực pháp lý chưa cao. Do đó, cần luật hóa vấn đề này trong một văn bản luật cụ thể. Điều này có thể tham khảo từ Luật Bảo vệ dữ liệu chung châu Âu (GDPR) ban hành vào tháng 5/2018. GDPR đã chọn cách tiếp cận quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân là một quyền độc lập bên cạnh các quyền khác như quyền riêng tư. Cụ thể, GDPR không giới hạn về vị trí địa lý, được áp dụng với cả người quản lý và người xử lý dữ liệu, người bảo vệ dữ liệu. GDPR bảo vệ các quyền cơ bản của cá nhân, bao gồm: Quyền được thông báo, quyền được truy cập, quyền chỉnh sửa, quyền xóa, quyền giới hạn/ngừng xử lý, quyền trích xuất dữ liệu, quyền phản đối, quyền từ chối các xử lý phân nhóm và tự động ra quyết định, quy định về cơ quan giám sát và bảo vệ dữ liệu cá nhân và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể[11]. Điều này đã hình thành một cơ chế bảo vệ mạnh mẽ cho việc thực thi quyền bảo vệ thông tin cá nhân tại châu Âu. GDPR được xem là đã tạo ra cơ chế bảo vệ thông tin cá nhân nghiêm ngặt nhất thế giới hiện nay và còn thành lập cơ quan bảo vệ dữ liệu ở cấp liên minh.

Việt Nam cũng cần xây dựng một cơ quan giám sát và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Một số quốc gia trong Liên minh châu Âu đã xây dựng các cơ quan chuyên trách để bảo vệ dữ liệu như: Pháp thành lập Ủy ban quốc gia về tin học và tự do, Latvia thành lập Cơ quan thanh tra nhà nước về dữ liệu, Bỉ thành lập Ủy ban bảo mật dữ liệu, Tây Ban Nha thành lập Cơ quan bảo vệ dữ liệu. Ngày 31/3/2023, Cơ quan bảo vệ dữ liệu của Ý đã chỉ ra bốn vi phạm của OpenAI với quy định GDPR, cụ thể: Công ty cho phép ChatGPT cung cấp thông tin không chính xác hoặc gây hiểu lầm; không báo cáo cho người dùng về các hoạt động thu thập dữ liệu của hệ thống, không đáp ứng bất kỳ yêu cầu nào trong sáu quy định có thể có để xử lý dữ liệu cá nhân và không ngăn chặn trẻ em dưới 13 tuổi sử dụng dịch vụ. Vì thế, OpenAI bị yêu cầu ngay lập tức chấm dứt sử dụng thông tin cá nhân được thu thập từ các công dân tại Ý trong cơ sở dữ liệu của ChatGPT[12]. Theo tác giả, có thể tham khảo khi xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh về vấn đề này tại Việt Nam.

Sự xuất hiện của ChatGPT là một cột mốc đáng ghi nhận cho sự phát triển của thời đại công nghệ mang lại nhiều lợi ích vượt bậc cho con người. Tuy nhiên, đây là một hiện tượng mới phát sinh và sẽ có những rủi ro tiềm tàng cho người sử dụng. Do đó, việc xây dựng các quy định pháp luật quốc gia để thích ứng nhanh chóng với các điều kiện mới là điều cần thiết. Một số kiến nghị hoàn thiện vấn đề pháp lý đã được nêu ra vừa bảo đảm sự an toàn của ứng dụng công nghệ này trên thực tế, khuyến khích sự sáng tạo của con người, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực đến xã hội.

ThS. Lê Hồ Trung Hiếu

ThS. Luật sư Vũ Thị Bích Hải

Trường Đại học Văn Lang

[1]. Nguyễn Công Minh (2023), “Chat GPT - Sự đột phá về công nghệ ứng dụng trí tuệ nhân tạo”, https://tapchinganhang. gov.vn/chat-gpt-su-dot-pha-ve-cong-nghe-ung-dung-tri-tue-nhan-tao.htm, truy cập ngày 10/9/2023.

[2]. Lê Hoàng Oanh (2023), “Tác phẩm do Chat GPT tạo ra có thuộc bản quyền của người dùng hay không?”, https://vienthonglaw.vn/tac-pham-do-chat-gpt-tao-ra-co-thuoc-ban-quyen-cua-nguoi-dung-hay-khong/, truy cập ngày 22/9/2023.

[3]. Văn Chiến (2023), “Công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) nhìn từ góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ một số nước trên thế giới và Việt Nam”, https://phaply.net.vn/cong-nghe-tri-tue-nhan-tao-ai-nhin-tu-goc-do-phap-luat-so-huu-tri-tue-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-va-viet-nam-a256438.html, truy cập ngày 17/9/2023.

[4]. Lê Nguyên Hòa (2023), “Chat GPT và vấn đề về quyền tác phẩm do Chat GPT tạo ra”, https://lsvn.vn/chat-gpt-va-van-de-ve-quyen-tac-pham-do-chat-gpt-tao-ra-1675672734.html, truy cập ngày 05/10/2023.

[5]. Nguyễn Ngọc Hồng Khương (2022), “Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của trí tuệ nhân tạo”, https://tapchicongthuong. vn/bai-viet/bao-ve-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-cua-tri-tue-nhan-tao-89469.htm, truy cập ngày 10/10/2023.

[6]. Nguyễn Ngọc Hồng Khương (2022), ttđd.

[7]. Văn Toản (2023), “OpenAI đối mặt vụ kiện tập thể với cáo buộc đánh cắp dữ liệu người dùng”, https://nhandan.vn/openai-doi-mat-vu-kien-tap-the-voi-cao-buoc-danh-cap-du-lieu-nguoi-dung-post760359.html, truy cập ngày 10/8/2023.

[8]. Lưu Quý (2022), “Facebook thua kiện 90 triệu USD”, https://vnexpress.net/facebook-thua-kien-90-trieu-usd-4428019.html, truy cập ngày 16/10/2023.

[9]. Nghị định số 13/2023/NĐ-CP: Bảo vệ quyền dữ liệu cá nhân; ngăn chặn các hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-dinh-so-13-2023-nd-cp-bao-ve-quyen-du-lieu-ca-nhan-ngan-chan-cac-hanh-vi-xam-pham-du-lieu-ca-nhan-119230513100359528.htm, truy cập ngày 25/9/2023.

[10]. Ngô Ngọc Diễm và Chu Huyền My (2023), “Cơ sở pháp lý điều chỉnh những vấn đề liên quan đến phần mềm ChatGPT”, https://lsvn.vn/co-so-phap-ly-dieu-chinh-nhung-van-de-lien-quan-den-phan-mem-chatgpt-1677833521.html, truy cập ngày 12/9/2023.

[11]. Liên minh châu Âu (EU), Quy định về bảo vệ dữ liệu chung 2018 (General Data Protection Regulation - GDPR 2019).

[12]. Anh Vũ (2023), “Những rắc rối về pháp lý mà chatbot trí tuệ nhân tạo phải đối mặt”, https://laodong.vn/cong-nghe/nhung-rac-roi-ve-phap-ly-ma-chatbot-tri-tue-nhan-tao-phai-doi-mat-1188855.ldo, truy cập ngày 12/9/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: