Thứ năm 20/08/2026 03:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em - Thực trạng và giải pháp

Trẻ em là công dân đặc biệt, là nguồn nhân lực tương lai, nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Vì vậy, bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Tuy nhiên, trẻ em vẫn đang gặp phải những khó khăn, thách thức khi thực hiện các nhóm quyền cơ bản và cần phải có những giải pháp tạo lập một môi trường thuận lợi nhất cho trẻ em được phát triển toàn diện về mọi mặt.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là một phương hướng tích cực, nhân văn vì mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Với tinh thần trên, hoạt động bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em đã từng bước bảo đảm quyền của các em về học tập, chăm sóc sức khỏe, tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác này vẫn còn một số hạn chế. Vì vậy, để bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em ở Việt Nam, việc đánh giá thực trạng để đưa ra các giải pháp thích hợp cho thời gian tới là rất cần thiết.

2. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em

2.1. Khái niệm quyền trẻ em

Quyền trẻ em là những quyền cơ bản và thiết yếu của trẻ em, được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, nhằm bảo đảm cho trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và đạo đức.

Trong hệ thống pháp luật quốc tế, quyền trẻ em được chế định chủ yếu trong Công ước về quyền trẻ em năm 1989 và hai nghị định thư không bắt buộc, đó là: Nghị định thư không bắt buộc về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; Nghị định thư về việc lôi cuốn trẻ em tham gia xung đột vũ trang. Trên cơ sở Công ước về quyền trẻ em năm 1989, các điều ước quốc tế cũng như hệ thống pháp luật quốc gia, quyền trẻ em được xác định bao gồm bốn nhóm quyền sau:

- Nhóm quyền sống còn: Mọi trẻ em đều có quyền được sống. Các chủ thể cần phải làm tất cả những việc có thể để bảo đảm rằng trẻ em được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển như bảo đảm về dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ và có quyền được khai sinh.

- Nhóm quyền được phát triển: Trẻ em được chăm sóc, dạy dỗ, tạo điều kiện để phát triển toàn diện thông qua quá trình học tập, vui chơi, giải trí…

- Nhóm quyền được bảo vệ: Trẻ em được sống chung với cha mẹ và được bảo vệ chống lại các hình thức bóc lột lao động, xâm hại tình dục, đối xử vô nhân đạo…

- Nhóm quyền được tham gia: Trẻ em được phát huy vai trò tích cực trong cộng đồng, gia đình thông qua sự tự do thể hiện quan điểm, bày tỏ ý kiến cá nhân, tiếp cận thông tin liên quan đến bản thân[1].

2.2. Tầm quan trọng của bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em

Sự hình thành và phát triển của quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng phản ánh các mong ước cũng như nguyện vọng của con người trong từng thời kỳ. Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, là nguồn lực quý giá cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền, trẻ em sẽ có cơ hội phát triển toàn diện, trở thành những công dân có ích cho xã hội. Do vậy, việc bảo vệ và phát triển trẻ em thể hiện đòi hỏi cấp thiết trong xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững.

Có thể thấy, “bảo vệ” và “thúc đẩy” quyền trẻ em là hai khía cạnh thiết yếu, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình bảo đảm trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền lợi chính đáng. Bảo vệ quyền trẻ em tập trung vào việc thiết lập các khuôn khổ pháp lý và áp dụng các biện pháp chế tài để ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi xâm hại quyền trẻ em. Thúc đẩy quyền trẻ em có thể coi như một “bước tiến” xa hơn cho việc bảo đảm những quyền đã được ghi nhận thông qua những biện pháp cụ thể hơn, nhằm bảo đảm thực hiện quyền một cách tốt nhất trong thực tiễn. Bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em cần được thực hiện đồng bộ, song song và liên tục. Việc chỉ tập trung vào một khía cạnh sẽ không thể bảo đảm trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền lợi. Do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, gia đình, nhà trường và các chủ thể khác để thực hiện hiệu quả việc bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em. Mỗi cá nhân cũng cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ và tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện.

3. Thực trạng bảo đảm quyền trẻ em sau 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013

3.1. Đối với nhóm quyền sống còn

Hiến pháp năm 2013 coi quyền trẻ em là một bộ phận của quyền con người, cụ thể hóa quyền trẻ em phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện đất nước. Đơn cử Điều 19 Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Trên tinh thần đó, Luật Trẻ em năm 2016 đã dành các quy định từ Điều 12 đến Điều 15 để quy định về quyền sống, quyền được khai sinh và có quốc tịch, quyền được chăm sóc sức khoẻ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã ghi nhận quyền sống là quyền đặc thù và quan trọng của trẻ em thông qua hình sự hóa các hành vi xâm hại hoặc đe dọa tính mạng trẻ em cũng như quy định mức hình phạt đối với các tội xâm phạm quyền sống của trẻ em nhằm thể hiện tính răn đe, trừng trị nghiêm khắc, phòng ngừa. Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng từng bước hoàn thiện thể chế trong bảo đảm quyền đăng ký khai sinh trong đó có nội dung xác định quốc tịch của trẻ em. Đây là các cơ sở pháp lý cơ bản để các cơ quan nhà nước bố trí ngân sách, tổ chức chỉ đạo đồng bộ cũng như phối hợp với các cá nhân, tổ chức trong xã hội tham gia các chương trình, dự án như: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021 - 2030, Chính sách hỗ trợ phẫu thuật tim cho trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh, Quyết định số 1404/QĐ-BTP ngày 25/7/2023 của Bộ Tư pháp ban hành Đề án: “Thí điểm liên thông dữ liệu cấp Giấy chứng sinh, Giấy báo tử, thông tin tử vong để thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử trên môi trường điện tử”… Bên cạnh đó, nhận thức rõ những khó khăn mà trẻ em đang phải đối mặt, đặc biệt là sau dịch bệnh, thiên tai, các cơ quan, tổ chức đã tích cực vận động nguồn lực xã hội và triển khai hàng loạt hoạt động hỗ trợ thiết thực cho trẻ em như cung cấp nhu yếu phẩm, hệ thống nước sạch, dịch vụ chăm sóc sức khỏe,...

Theo Báo cáo: “Tình trạng Trẻ em trên thế giới năm 2023: Tiêm chủng cho mọi trẻ em” của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF), trong công tác bảo vệ và thúc đẩy nhóm quyền sống còn của trẻ em, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ. Từ năm 2000 đến 2021, tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 05 tuổi đã giảm đáng kể (từ 30 xuống 21 trẻ/1.000 ca sinh sống)[2], đối với trẻ từ 5 - 14 tuổi, tỷ lệ tử vong năm 2021 cũng giảm 2/3 so với năm 1990 (từ 10 xuống 03 trẻ/1.000 ca sinh sống). Tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được đăng ký khai sinh giai đoạn 2012 - 2021 là 88% (cao hơn mức trung bình thế giới là 72%)[3]. Tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em dưới 01 tuổi trong cả nước đạt kết quả như sau: Năm 2018: 94,8%; 2020: 96,8%; 2021: 87,1%; 2022 (tạm tính): 87,6%. Trẻ em dưới 06 tuổi được khám, chữa bệnh hoàn toàn miễn phí; đối với lứa tuổi lớn hơn thì Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn tình trạng trẻ em không được hưởng đầy đủ quyền của mình. Đơn cử như tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh dưới 01 tuổi, suy dinh dưỡng ở trẻ em còn khá cao, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi. Ước tính của Liên Hợp quốc, năm 2021, cứ 1.000 trẻ sinh ra ở Việt Nam thì có gần 10 trẻ sơ sinh tử vong[4]. Năm 2022, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi là 19,2%, tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều là 10,9% nghĩa là các em không được thực hiện hai trong số các quyền cơ bản về giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, hòa nhập xã hội, nước sạch và vệ sinh[5]. Mặt khác, tình trạng trẻ em không có giấy khai sinh do khuyết tật, mồ côi, gia đình khó khăn,… đã khiến cho các em không được hưởng các chính sách bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe và các chính sách phúc lợi khác mà các em xứng đáng được hưởng.

3.2. Đối với nhóm quyền được phát triển

Quyền được phát triển đóng vai trò điều kiện tiên quyết để trẻ em có thể phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Đây là nền tảng cho một tương lai tươi sáng, góp phần tạo nên những thế hệ công dân khỏe mạnh, hạnh phúc và cống hiến cho xã hội. Nội dung này đã được Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 37: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”. Cụ thể hóa nội dung của Hiến pháp năm 2013, quyền học tập của trẻ em được thể hiện ở cấp độ văn bản luật như: Luật Trẻ em năm 2016 và Luật Giáo dục năm 2019 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; xác định trách nhiệm của nhà nước, gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục thế hệ tương lai. Trong 10 năm giai đoạn 2011 - 2020, mức đầu tư cho giáo dục luôn đạt hơn 13% tổng chi ngân sách nhà nước[6]. Nhờ đó, trẻ em 05 tuổi và trẻ em ở lứa tuổi tiểu học được thụ hưởng chương trình giáo dục bắt buộc, không phải trả tiền học phí nếu học ở các trường công lập. Đến nay, 98,2% trẻ em ở Việt Nam đi học đúng tuổi bậc tiểu học[7]. Đặc biệt, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội giúp tăng cường hứng thú học tập của trẻ, tạo động lực cho giáo viên cũng như hạn chế tư tưởng “khoán trắng” của phụ huynh dành cho cơ sở giáo dục trong công tác giáo dục trẻ em.

Vui chơi, giải trí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển toàn diện của trẻ em, cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong thời đại công nghệ số, khi trẻ em tiếp xúc sớm với các ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến, việc vui chơi giải trí lành mạnh càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tại Việt Nam, quyền vui chơi, giải trí của trẻ em được luật hóa trong Luật Trẻ em năm 2016, là một trong 24 quyền cơ bản của trẻ em. Luật Đất đai năm 2024 quy định khuyến khích sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 79), trong đó trẻ em là đối tượng thụ hưởng. Với mục tiêu “Hoạt động vui chơi giải trí là một trong 05 lĩnh vực hoạt động chăm sóc trẻ em của chương trình hành động vì trẻ em”, ngày càng nhiều khu dân cư có khu vui chơi, giải trí cho trẻ em. Hệ thống cơ sở vui chơi cho trẻ em như: Cung thiếu nhi, Trung tâm văn hóa, thư viện, công viên, rạp chiếu phim,... được đầu tư xây dựng. Nhiều quận, huyện quan tâm quy hoạch đất đai để xây dựng điểm vui chơi tại cộng đồng.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, kết quả đã đạt được, vấn đề bảo đảm quyền được phát triển của trẻ em vẫn có những khó khăn, thách thức. Điều này thể hiện ở mức chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2013 - 2023 dành cho giáo dục vẫn không đạt chỉ tiêu tối thiểu theo 20% theo Luật Giáo dục năm 2019[8]. Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy, ở Việt Nam hiện có 8,3% trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng không đến trường; số lượng này tập trung chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, miền núi. Bên cạnh đó, thiếu điểm vui chơi là một vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Việc quy hoạch, đầu tư và quản lý các điểm vui chơi cho trẻ em chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến thiếu hụt về số lượng và chất lượng các sân chơi dành cho trẻ em.

3.3. Đối với nhóm quyền được bảo vệ

Trẻ em, những mầm non tương lại của đất nước, tuy chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, nhưng không vì thế mà các em không có khả năng cảm nhận được sự an toàn hay nguy hiểm. Do đó, tạo dựng một môi trường sống được bảo vệ cho trẻ là vô cùng quan trọng, góp phần cho sự phát triển toàn diện của các em. Cùng với việc từng bước nội luật hóa các điều ước quốc tế, Việt Nam đã sớm xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ trẻ em. Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Luật Trẻ em năm 2016 đã chỉ rõ 14 hành vi vi phạm quyền trẻ em bị nghiêm cấm, như: Cấm hành vi tước đoạt quyền sống của trẻ em; cấm hành vi bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em... (Điều 10). Bộ luật Hình sự năm 2015 dành riêng một Chương XII là những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm khẳng định: “xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” (khoản 1 Điều 91). Liên quan đến vấn đề này, để bảo đảm quyền của trẻ em được sống chung với cha mẹ, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền khởi kiện xác định cha, mẹ cho con là người chưa thành niên của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định cha, mẹ của trẻ em trong trường hợp các em bị thất lạc cha mẹ hoặc bị cha, mẹ chối bỏ (Điều 187). Mặt khác, Bộ luật Lao động năm 2019 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật về lao động, cụ thể trường hợp lao động chưa thành niên là người dưới 15 tuổi chỉ được phép tham gia các công việc phù hợp với sức khỏe, bảo đảm sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và nhân cách. Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc lao động chưa thành niên về mọi mặt, bao gồm cả điều kiện lao động, sức khỏe và học tập trong quá trình làm việc. Việc sử dụng lao động chưa thành niên cần có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp.

Bảo vệ trẻ em không chỉ đơn thuần là cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và can thiệp khi xảy ra vi phạm pháp luật, mà quan trọng hơn là phòng ngừa các hành vi vi phạm và bảo vệ trẻ em khỏi nguy cơ trở thành nạn nhân. Việt Nam đang thí điểm triển khai hệ thống bảo vệ trẻ em đa cấp độ, bao gồm: Phòng ngừa, can thiệp và hỗ trợ phục hồi. Mạng lưới phối hợp giữa các cơ quan chức năng và tổ chức xã hội trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em được từng bước hình thành và kiện toàn. Việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả đóng vai trò quan trọng, trong đó, các tổ chức hỗ trợ - bảo vệ trẻ em và các chuyên gia, nhà hoạt động xã hội đóng vai trò then chốt. Nhờ đó, các em được bảo vệ, phát triển toàn diện và có cơ hội tốt đẹp để trở thành những công dân có ích cho xã hội.

Mặc dù vậy, theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, mỗi năm trung bình cả nước có hơn 1.200 trẻ em bị xâm hại tình dục (chiếm hơn 60% số vụ xâm hại trẻ em - trong đó có những vụ bạo hành thể chất, tinh thần khác đối với các em)[9]; 72,4% trẻ em từng bị phạt bạo lực tại gia đình[10]. Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng lao động trẻ em tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước càng gia tăng; vì thiếu kinh nghiệm, học vấn nên lao động trẻ em được trả lương thấp, thậm chí bị hành hạ, bóc lột, ngược đãi. Mặt khác, tình trạng trẻ em không được sự chăm sóc trực tiếp của cha mẹ vẫn đang là vấn đề thách thức lớn trong công tác bảo vệ trẻ em, cụ thể 18,3% trẻ em có bố hoặc mẹ hoặc cả bố và mẹ cùng sống ở nơi khác[11], đặc biệt đại dịch Covid-19 đã làm 4.461 trẻ em Việt Nam rơi vào cảnh mồ côi, không nơi nương tựa[12].

3.4. Đối với nhóm quyền được tham gia

Quyền được tham gia là một trong bốn nhóm quyền cơ bản của trẻ em. Quyền được tham gia giúp trẻ em đóng vai trò chủ động và tích cực trong cuộc sống của mình. Thực hiện quyền được tham gia của trẻ em là thực hiện nội dung mà Hiến pháp năm 2013 quy định tại khoản 1 Điều 37, trẻ em “được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”, thực hiện một số quyền của trẻ em theo Luật Trẻ em năm 2016 như: Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội (Điều 33); Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp (Điều 34). Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận nguyên tắc giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trẻ em từ đủ 07 tuổi có quyền được bày tỏ ý kiến mong muốn được sống chung với cha hoặc mẹ trong trường hợp cha mẹ ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 81). Với tinh thần “lắng nghe trẻ em nói”, các diễn đàn trẻ em, các cuộc gặp gỡ trẻ em đã được tổ chức để các em được bày tỏ những ý kiến, quan điểm và đối thoại với lãnh đạo đại diện cơ quan Nhà nước, Ủy ban của Quốc hội... về các chủ đề mà mình quan tâm như vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ an toàn cho trẻ em trên môi trường mạng, bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột và xâm hại, sức khỏe tâm thần của trẻ, quyền trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS...[13]. Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, các cơ sở dữ liệu quốc gia cũng như sự bùng nổ của internet đã hỗ trợ tích cực cho trẻ em trong tiếp cận thông tin, tìm đến các nền tảng tri thức hữu ích.

Tuy nhiên, tình trạng trẻ em tiếp cận các thông tin xấu, độc trên internet như các hình ảnh bạo lực, nội dung lừa đảo, cá độ,… đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách của các em. Thậm chí, vì nhiều lý do khác nhau, thông tin cá nhân của trẻ em bị lộ trên không gian mạng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền bí mật đời sống riêng tư của các em, như hình ảnh bị sử dụng để quảng cáo các sản phẩm không phù hợp, bị bắt cóc, bị chế giễu, kỳ thị,…

4. Một số giải pháp tiếp tục bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em trong giai đoạn hiện nay

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, dân số nước ta đạt 98.506.193 người vào năm 2021. Trong đó, trẻ em chiếm một tỷ lệ đáng kể với hơn 26 triệu em, đóng vai trò chủ chốt trong cơ cấu dân số. Do vậy, việc quan tâm đến thế hệ tương lai này là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em vẫn còn một số hạn chế và nguyên nhân đến từ sự thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật, sự thiếu nhận thức của các chủ thể trong xã hội, sự phối hợp của các thiết chế và trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức làm công tác liên quan đến quyền trẻ em vẫn còn hạn chế. Cùng với đó, là tình trạng thiếu hụt nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất dành cho trẻ em. Do vậy, muốn quyền trẻ em được bảo đảm và thúc đẩy tốt hơn trong giai đoạn hiện nay, cần thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục đánh giá, hoàn thiện hệ thống pháp luật về trẻ em.

Trước hết, nghiên cứu nâng mức trần độ tuổi được xác định là trẻ em từ 16 lên 18 tuổi để tương thích với hệ thống pháp luật quốc tế cũng như bảo đảm sự quan tâm của xã hội đối với quá trình từng bước trưởng thành về thể chất, tinh thần của trẻ em. Bổ sung quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc “kiểm tra, giám sát” hoạt động bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến bạo lực học đường, xâm hại tình dục, bắt nạt trực tuyến,… Sớm thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên để áp dụng các biện pháp “xử lý chuyển hướng” nhằm thay thế các hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với hành vi xâm hại sức khỏe, nhân phẩm bằng biện pháp nhân văn, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc và tính nghiêm minh của pháp luật.

Thứ hai, nâng cao nhận thức của mọi chủ thể trong xã hội về bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em.

Cần tăng cường tuyên truyền về các chế độ, chính sách liên quan đến quyền trẻ em cũng như mối quan hệ giữa việc bảo đảm quyền trẻ em đối với quá trình phát triển của từng gia đình cũng như cả cộng đồng. Đặc biệt, chú trọng tổ chức các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức về giáo dục, bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bảo đảm an toàn cho trẻ em; xây dựng chuyên trang, chuyên mục trên các báo, đài; ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tuyên truyền, tư vấn đối với gia đình và cộng đồng. Từ đó, kịp thời tuyên truyền các điển hình tiên tiến, các tấm gương người tốt, việc tốt, phê phán, lên án các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em.

Thứ ba, đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động các thiết chế trong bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em ở Việt Nam.

Củng cố, kiện toàn hệ thống các cơ quan giám sát việc thi hành các chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền trẻ em. Phát huy tinh thần trách nhiệm của gia đình, nhà trường, chủ động tạo ra những mối quan hệ phối hợp với các chủ thể khác trong tiếp nhận các thông tin, kiến nghị, ý kiến của trẻ em cũng như xác minh kịp thời, nhanh chóng đối với các hành vi xâm phạm quyền trẻ em.

Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền trẻ em.

Tăng cường tập huấn, trang bị kiến thức pháp luật về các nội dung liên quan đến quyền trẻ em. Từ đó, hướng tới mục tiêu xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vừa hồng, vừa chuyên, thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và giảm thiểu nguy cơ xâm phạm quyền của trẻ em. Mặt khác, cần tổ chức rà soát, điều chỉnh và thực hiện tốt quy hoạch phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu về chất lượng, số lượng. Đặc biệt, cần quan tâm đến đội ngũ cán bộ bảo vệ trẻ em tại cộng đồng để nâng cao tinh thần trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong bảo đảm quyền cho người dưới 16 tuổi.

Thứ năm, đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất trong bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em.

Phân bổ ngân sách hợp lý cũng như huy động và đa dạng hóa các nguồn viện trợ để phát triển các cơ sở chăm sóc y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội, vui chơi, giải trí dành cho trẻ em. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù chăm lo giáo dục, đào tạo, y tế, tạo sinh kế phát triển bền vững tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số nhằm giúp cho trẻ em tại đây có cơ hội được học tập, được chăm sóc sức khỏe, được phát triển toàn diện và có cuộc sống tốt đẹp hơn.

5. Kết luận

Hiến pháp năm 2013 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các quy định về quyền trẻ em được ghi nhận và thực thi trên thực tế. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong công tác bảo vệ và thúc đẩy các nhóm quyền sống còn, phát triển, bảo vệ và tham gia của trẻ em. Đây là vấn đề cần được đặt ra cho toàn bộ hệ thống chính trị cũng như các tổ chức, cá nhân trong giai đoạn tới nhằm nâng cao hơn nữa năng lực những chủ nhân tương lai của đất nước trong thời gian sắp tới./.

Lại Sơn Tùng

Học viện Chính trị khu vực I

[1].https://giadinh.bvhttdl.gov.vn/quyen-va-bon-phan-cua-tre-em/#:~:text=Nh%C3%B3m%20quy%E1%BB%81n%20s%E1%BB%91ng%20c%C3%B2n%3A%20Tr%E1%BA%BB,kh%E1%BB%8Fe%20khi%20b%E1%BB%8B%20%E1%BB%91m%20%C4%91au

[2]. UNICEF (2023), The State of the World’s Children 2023: For every child, vaccination, UNICEF Innocenti - Global Office of Research and Foresight, Florence, tr. 139.

[3]. UNICEF (2023), The State of the World’s Children 2023: For every child, vaccination, UNICEF Innocenti - Global Office of Research and Foresight, Florence, tr. 182.

[4]. Nhật (2023), Cứ 1.000 trẻ sinh ra ở Việt Nam thì có gần 10 trẻ sơ sinh tử vong, https://daibieunhandan.vn/suc-khoe/cu-1-000-tre-sinh-ra-o-viet-nam-thi-co-gan-10-tre-so-sinh-tu-vong-i343536/, truy cập ngày 11/8/2024.

[5]. UNICEF (2022), Chương trình Trẻ em Việt Nam, https://www.unicef.org/vietnam/vi/tre-em-viet-nam, truy cập ngày 11/8/2024.

[6]. Dương Xuân Thành (2024), Bức tranh ngân sách giáo dục qua những con số, https://giaoduc.net.vn/buc-tranh-ngan-sach-giao-duc-qua-nhung-con-so-1-post240816.gd, truy cập ngày 11/8/2024.

[7]. Tổng cục Thống kê Việt Nam và UNICEF (2021), Báo cáo kết quả Điều tra các mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2020 - 2021.

[8]. Quý Hiên - Tuệ Nguyễn (2023), Ngân sách cho giáo dục chưa đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, https://thanhnien.vn/ngan-sach-cho-giao-duc-chua-dat-toi-thieu-20-tong-chi-ngan-sach-nha-nuoc-18523121409434821.htm, truy cập ngày 11/8/2024.

[9]. Vũ Thị Phượng (2017), Bảo vệ trẻ em bằng pháp luật và sự chung tay của nhiều chủ thể, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20 (348) tháng 10/2017.

[10]. Tổng cục thống kê Việt Nam (2023), Niên giám thống kê năm 2022, Nxb. Thống kê, Hà Nội.

[11]. Tổng cục Thống kê Việt Nam và UNICEF (2021), Báo cáo kết quả Điều tra các mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2020 - 2021, tr. 99.

12]. Xuân Đức (2022), Việt Nam có hơn 4.400 trẻ em mồ côi do Covid-19, https://nhandan.vn/viet-nam-co-hon-4400-tre-em-mo-coi-do-covid-19-post703582.html, truy cập ngày 11/8/2024.

[13]. Hướng Dương (2022), Quyền tham gia của trẻ em trong hoạt động cộng đồng, https://treemvietnam.net.vn/quyen-tham-gia-cua-tre-em-trong-hoat-dong-cong-dong-d521.html, truy cập ngày 11/8/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 411), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: