Thứ sáu 23/10/2026 09:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập của các quy định về thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết làm rõ những bất cập của các quy định về thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết làm rõ những bất cập của các quy định về thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: This article focuses on clarifying the shortcomings of regulations on liquidation procedure for bankrupt enterprises and co-operatives, and from there, makes some recommendations to improve the legal regulations on this issue.

Luật Phá sản năm 2014 được ban hành với mục tiêu quan trọng là tạo một cơ chế phù hợp, khoa học, có hiệu quả cho việc duy trì hoặc tổ chức lại doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây viết tắt là DN, HTX) có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi DN, HTX không có khả năng phục hồi thì việc thanh lý tài sản của DN, HTX, giải quyết quyền lợi cho các chủ nợ cũng như các chủ thể có liên quan và cho DN, HTX rút khỏi thị trường là điều cần thiết. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản còn nhiều bất cập, cụ thể:

1. Một số bất cập của quy định về trình tự, thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

1.1. Xác định tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

So với Luật Phá sản năm 2004, Điều 64 Luật Phá sản năm 2014 quy định về tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán rộng hơn, phù hợp hơn với thực tiễn. Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 quy định tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản là chưa đầy đủ, đã bỏ qua tài sản và quyền về tài sản mà DN, HTX có được tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hay các tài sản mà DN, HTX được tặng cho sau khi Toà án thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Theo quy định của Luật Phá sản năm 2004, sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản thì mọi hoạt động kinh doanh của DN, HTX vẫn được tiến hành bình thường. Vì vậy, việc DN, HTX có thêm tài sản và quyền tài sản sau ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2004 không quy định tài sản này trong khối tài sản của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản. Khắc phục hạn chế đó, Luật Phá sản năm 2014 đã bổ sung những tài sản và quyền tài sản này trong danh mục tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, tương tự như Luật Phá sản năm 2004, Luật Phá sản năm 2014 chưa quy định về tài sản được miễn trừ trách nhiệm. Đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh là hai tổ chức kinh tế có chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Thực tiễn thi hành tại một số địa phương gặp vướng mắc trong việc thu hồi toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh để thanh toán nợ mà không tính đến việc ngoại trừ những tài sản thiết yếu, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của họ[1].

1.2. Kiểm kê xác định tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

Kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản còn lại của DN, HTX bị phá sản là một công việc quan trọng trong quá trình thanh lý tài sản. Theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 16 Luật Phá sản năm 2014, chủ thể có trách nhiệm lập bảng kê tài sản là quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Tuy nhiên, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không phải là chủ thể trực tiếp thực hiện việc kiểm kê tài sản mà công việc này được giao cho DN, HTX mất khả năng thanh toán (khoản 1 Điều 65 Luật Phá sản năm 2014). Quy định như vậy là hợp lý, bởi vì trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản, tài sản của DN, HTX vẫn thuộc quyền sở hữu của DN, HTX. Bên cạnh đó, nhằm tránh trường hợp DN, HTX không trung thực khi thực hiện việc kiểm kê tài sản, Luật Phá sản năm 2014 quy định: Trường hợp xét thấy việc kiểm kê, xác định giá trị tài sản của DN, HTX là không chính xác thì Tòa án yêu cầu quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức kiểm kê, xác định lại giá trị một phần hoặc toàn bộ tài sản của DN, HTX. Tuy nhiên, hiện nay xác định thế nào là “không chính xác”, không chính xác ở mức độ nào sẽ tiến hành kiểm kê, xác định lại giá trị tài sản của DN, HTX thì pháp luật chưa quy định cụ thể. Ngoài ra, việc gửi bảng kiểm kê tài sản trên thực tế còn bất cập. Bởi vì, theo khoản 3 Điều 65 Luật Phá sản năm 2014, thì bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị phải gửi ngay cho Tòa án tiến hành thủ tục phá sản. Việc quy định “gửi ngay” mà không xác định một thời hạn cụ thể gây ra sự lúng túng trong việc áp dụng trên thực tế.

1.3. Thu hồi tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

So với Luật Phá sản năm 2004, Điều 50 và Điều 115 Luật Phá sản năm 2014 đã bổ sung quy định về ủy thác tư pháp trong việc giải quyết phá sản và xử lý trường hợp có tranh chấp tài sản trong quá trình thi hành quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản. Tuy nhiên, trên thực tế việc thu hồi nợ của doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Một số cá nhân không có địa chỉ cụ thể, rõ ràng hoặc có địa chỉ nhưng khi xác minh thì không còn ở địa phương hoặc đã bỏ đi nơi khác. Đối với con nợ là tổ chức, doanh nghiệp thì họ chỉ công nhận nợ mà không có phương án trả nợ, có trường hợp đưa ra lý do gặp khó khăn về kinh tế nên xin được trả dần, nhưng vẫn chây ỳ không trả nợ[2]. Tồn tại thực trạng trên bởi vì pháp luật chưa có quy định rõ ràng về việc trả nợ cho chủ nợ là DN, HTX phá sản, đồng thời chưa có chế tài xử lý đối với các hành vi nêu trên. Điều này gây nên sự chậm trễ trong việc thu hồi tài sản của DN, HTX phá sản, thậm chí nhiều trường hợp DN, HTX không thể thu hồi được nợ.

1.4. Định giá tài sản

Định giá tài sản là một trong những nội dung bắt buộc của hoạt động thanh lý tài sản nhằm xác định được đúng giá trị thực của tài sản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Phá sản năm 2014 thì quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hoàn toàn chủ động trong việc định giá tài sản mà không phụ thuộc vào việc cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án hoặc chấp hành viên có văn bản yêu cầu hay không. Tuy nhiên, theo Điều 121 Luật này thì quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản, trong đó bao gồm việc định giá tài sản sau khi nhận được văn bản yêu cầu của chấp hành viên. Có thể thấy, quy định về thời điểm quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá tài sản chưa có sự thống nhất.

Bên cạnh đó, ngoài quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thì pháp luật còn cho phép tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp có thẩm quyền định giá tài sản. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc quy định khi ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá thì quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không được ký hợp đồng thẩm định giá với cá nhân, tổ chức mà mình có quyền, lợi ích liên quan, mà chưa có quy định cụ thể trường hợp nào phải có sự tham gia của các tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp vào việc định giá tài sản.

1.5. Định giá lại tài sản

Nếu như định giá tài sản là một nội dung bắt buộc khi tiến hành hoạt động thanh lý tài sản thì việc định giá lại tài sản chỉ được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định về định giá tài sản dẫn đến sai lệch kết quả. Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, chủ thể có thẩm quyền quyết định về việc định giá lại tài sản cũng có sự khác nhau:

- Thẩm phán quyết định định giá lại đối với trường hợp quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được Tòa án giao việc bán một số tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán để bảo đảm chi phí phá sản.

- Chấp hành viên quyết định định giá lại đối với trường hợp thanh lý tài sản.

Trong khi đó, Điều 99 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp: “a) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; b) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản”. Như vậy, Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại so với Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Luật Phá sản năm 2014 không quy định quyền yêu cầu định giá lại của các chủ nợ (người được thi hành án). Do đó, trên thực tế, các chủ nợ không thể thực hiện quyền yêu cầu định giá lại tài sản. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành chưa có quy định về định giá lại tài sản khi tài sản bị hao mòn, giảm giá trị do tổ chức đấu giá nhiều lần mà chưa tìm ra được người mua tài sản[3].

1.6. Bán tài sản

Điều 124 Luật Phá sản năm 2014 đã phân tách các loại tài sản và quy định các phương thức bán tài sản khác nhau nhằm đảm bảo việc xử lý tài sản được nhanh chóng và hiệu quả. Cụ thể là, tài sản được bán theo hình thức bán đấu giá và bán không thông qua thủ tục đấu giá. Trong quá trình triển khai thực hiện quy định về bán tài sản của DN, HTX bị phá sản đã nảy sinh một số bật cập, cụ thể là:

Thứ nhất, chưa có hướng xử lý trong trường hợp bán đấu giá tài sản không thành. Theo quy định hiện hành, chấp hành viên sẽ quyết định việc thanh lý tài sản trong trường hợp bán đấu giá tài sản không thành[4]. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đều không quy định cụ thể chấp hành viên quyết định việc thanh lý tài sản thì chấp hành viên phải làm thủ tục gì? Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản bán đấu giá hay phải chuyển giao tài sản cho chấp hành viên thanh lý, có tổ chức đấu giá lại với tài sản đó không, đấu giá lại bao nhiêu lần, đấu giá nhiều lần mà không bán được tài sản thì xử lý như thế nào?... Điều này gây khó khăn trong việc xử lý tài sản đã bán đấu giá mà không thành.

Thứ hai, thời hạn bán đầu giá đối với tài sản ở nước ngoài là chưa hợp lý. Điều 124 Luật Phá sản năm 2014 quy định thời hạn bán đấu giá đối với động sản là 30 ngày, bất động sản là 45 ngày cho cả tài sản ở trong nước và tài sản ở nước ngoài. Trong khi đó, thời hạn này chỉ hợp lý khi áp dụng đối với những tài sản đang ở Việt Nam.

Ngoài ra, nhằm tránh trường hợp việc thanh lý tài sản DN, HTX phá sản kéo dài, khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản năm 2014 đã quy định tài sản không thực hiện được việc thanh lý sau 02 năm kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của chấp hành viên thì quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải chấm dứt việc thanh lý tài sản và bàn giao toàn bộ giấy tờ, tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý, thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật là Luật Phá sản hay Luật Thi hành án dân sự?

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

Thứ nhất, cần bổ sung quy định về tài sản được miễn trừ trách nhiệm. Theo thông lệ của các nước, thì các tài sản, quyền về tài sản được miễn trừ bao gồm các đồ vật phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày mang tính chất tối thiểu của cá nhân và các khoản trợ cấp cho cá nhân do không còn khả năng lao động, do bệnh tật, do mất việc làm[5]... Như vậy, xét ở khía cạnh nhân đạo và phù hợp với thông lệ quốc tế thì đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, pháp luật cần quy định các tài sản miễn trừ trách nhiệm đối với họ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu. Quy định như vậy cũng phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bởi Luật này đã có quy định về tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân.

Thứ hai, cần giải thích cụ thể thế nào là “không chính xác” để tiến hành kiểm kê, xác định lại giá trị tài sản của DN, HTX cũng như làm rõ thời hạn gửi bảng kiểm kê tài sản.

Thứ ba, cần quy định rõ thời gian trả nợ của cá nhân, tổ chức đối với chủ nợ là DN, HTX phá sản và hậu quả pháp lý đối với việc trả nợ. Quá thời hạn quy định, nếu con nợ không trả nợ được thì cần tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật. Cần có phương án giải quyết thống nhất đối với DN, HTX sau khi bán hết tài sản mà vẫn còn một số nợ chưa đòi được, cơ quan thi hành án tiếp tục việc thu hồi nợ theo quy định và sẽ phân chia cho các chủ nợ theo tỷ lệ đã có tại quyết định phân chia tài sản ban đầu[6]. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể chế tài xử lý đối với hành vi của những cá nhân, tổ chức không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với DN, HTX phá sản.

Thứ tư, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định về định giá tài sản, cụ thể là: (i) Quy định thống nhất về thời điểm quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá tài sản. Theo tác giả, pháp luật cần quy định quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá tài sản sau khi nhận được văn bản yêu cầu của chấp hành viên. Điều này là hợp lý bởi quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chỉ thực hiện việc thanh lý tài sản trong đó có định giá tài sản khi nhận được văn bản yêu cầu của chấp hành viên. (ii) Cần quy định cụ thể các trường hợp phải có sự tham gia của tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp vào việc định giá tài sản. Đối với các tài sản đặc biệt như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công nghiệp… thì sự tham gia của tổ chức định giá chuyên nghiệp là cần thiết, tránh tình trạng tài sản được định giá thiếu chính xác gây thiệt hại cho chủ nợ cũng như DN, HTX phá sản. (iii) Bổ sung quy định về việc bồi dưỡng kiến thức bắt buộc đối với quản tài viên và có mức độ phù hợp với từng đối tượng. Trong tố tụng phá sản nói chung và việc thanh lý tài sản nói riêng, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có vai trò rất quan trọng. Đối với việc định giá tài sản, quản tài viên không chỉ cần hiểu biết về pháp luật mà còn phải am hiểu về lĩnh vực kinh tế, tài chính… Vì vậy, cần chú trọng hơn nữa đến việc trang bị, bồi dưỡng kiến thức cho quản tài viên góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của quản tài viên trong việc định giá tài sản nói riêng và việc quản lý, thanh lý tài sản nói chung.

Thứ năm, cần quy định thống nhất về quyền yêu cầu định giá lại tài sản giữa Luật Phá sản và Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, Luật Phá sản năm 2014 cần quy định bổ sung quyền yêu cầu định giá lại tài sản của các chủ nợ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bên cạnh đó, cần quy định về trường hợp định giá lại tài sản khi tài sản bị hao mòn, giảm giá trị do tổ chức đấu giá nhiều lần mà chưa tìm ra được người mua tài sản.

Thứ sáu, quy định cụ thể cách thức xử lý tài sản trong trường hợp bán đấu giá không thành. Theo tác giả, nên quy định trường hợp bán đấu giá tài sản không thành thì tiếp tục tổ chức bán đấu giá lại, quy định cụ thể mức giảm giá tài sản trong trường hợp đấu giá lại, số lần đấu giá lại cũng như cách xử lý trong trường hợp đấu giá nhiều lần mà không có người mua. Bên cạnh đó, cần quy định về bán đấu giá tài sản đối với tài sản ở nước ngoài nhằm đảm bảo mục tiêu thu hồi được toàn bộ tài sản, bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ.

Thứ bảy, cần quy định rõ việc cơ quan thi hành án dân sự xử lý, thanh lý tài sản trong trường hợp tài sản không thực hiện được việc thanh lý sau 02 năm kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của chấp hành viên thì theo quy định của Luật Phá sản hay Luật Thi hành án dân sự.

Qua quá trình nghiên cứu, có thể thấy rằng, Luật Phá sản năm 2014 đã có những quy định phù hợp hơn so với Luật Phá sản năm 2004 về thủ tục thanh lý tài sản của DN, HTX bị phá sản. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, các quy định của Luật Phá sản năm 2014 vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Vì vậy, trong thời gian tới các quy định về thủ tục thanh lý tài sản của DN, HTX bị phá sản cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thi hành quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản.

ThS. Lê Ngọc Anh

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, “Một số vấn đề vướng mắc nảy sinh trong quá trình giải quyết các yêu cầu về tuyên bố phá sản trong doanh nghiệp và ý kiến đề xuất”, Chuyên đề hội thảo “Luật Phá sản, thực tiễn, vướng mắc và kiến nghị” tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, 2006.

[2].Http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_ details=1&item_id=18109080.

[3]. Http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=296.

[4]. Xem khoản 2 Điều 17 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản.

[5]. Báo cáo số 44/BC-TANDTC ngày 09/9/2013 của Tòa án nhân dân tối cao tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004.

[6]. Http://tapchitoaan.vn/bai-viet/thao-go/thanh-ly-tai-san-cua-doanh-nghiep-mat-kha-nang-thanh-toan-no-den-han.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: