Thứ bảy 07/03/2026 06:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập của pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm không khí

Bài viết phân tích những bất cập của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và kiến nghị hoàn thiện.

Cùng với quá trình phát triển kinh tế, tình trạng ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường ngày càng gia tăng, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế nước ta. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường không khí quốc gia năm 2013 và Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 - 2015[1] thì môi trường không khí của Việt Nam đang đối diện với nhiều vấn đề: Ô nhiễm rác thải, ô nhiễm bụi, ô nhiễm mùi, ô nhiễm khói... Có thể thấy, từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới mở cửa phát triển kinh tế đến nay, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nhà nước ta cũng luôn quan tâm ngăn chặn, hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến môi trường. Cụ thể, Nhà nước Việt Nam đã thông qua, sửa đổi, bổ sung, thay thế nhiều chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó có các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, như: Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, tiếp đó là Luật Bảo vệ môi trường 2005 và hiện nay là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cũng như các văn bản hướng dẫn theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, xuất phát từ hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay, chính sách pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cho thấy, các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí vẫn còn nhiều thiếu sót, bất cập, gây ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam. Cụ thể:


Thứ nhất, pháp luật hiện hành còn thiếu quy định về khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Như chúng ta đã biết, bảo vệ môi trường gắn với phát triển bền vững, lấy con người làm trung tâm đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” (Điều 43). Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã đưa ra khái niệm về kiểm soát ô nhiễm môi trường, nhưng môi trường không khí mang tính đặc thù, đòi hỏi phải có cách hiểu vừa bao quát vừa phải có tính cụ thể thì lại chưa có quy định về vấn đề này. Điều 64 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí bằng cách đưa ra nghĩa vụ cho các đối tượng phát thải ra môi trường nhưng rất chung chung. Nếu hiểu về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí theo quy định tại Điều 64, tác giả cho rằng sẽ không thể bao quát hết nội hàm của kiểm soát ô nhiễm. Hơn nữa, hiện nay chưa có văn bản dưới luật nào hướng dẫn cụ thể vấn đề này nên rất khó thực hiện.

Thứ hai, quy định về thông tin tình hình môi trường không khí chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển. Với các thông tin mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công bố thì Nhà nước cung cấp thông tin gì thì người dân biết thông tin đó và thực tế cho thấy thông tin từ kênh này chưa nhiều và chưa kịp thời, chưa đáp ứng được mong mỏi của người dân[2]. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ thể sản xuất kinh doanh phải cung cấp thông tin về tình hình môi trường, nhưng cá nhân lại không có quyền trực tiếp thực hiện quyền này mà phải thông qua tổ chức hoặc đại diện cộng đồng dân cư[3]. Tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, tổ chức quốc tế phi chính phủ, cộng đồng dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nhưng không thể phủ nhận quyền chủ động tiếp cận thông tin của từng cá nhân riêng lẻ bởi bảo vệ môi trường trước hết phải từ mỗi cá nhân. Thêm vào đó, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã phần nào ghi nhận trách nhiệm của các tổ chức, nhưng chưa có những quy định cụ thể nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò các chủ thể này vào giám sát, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Pháp luật môi trường hiện hành chưa thể hiện được vai trò của tổ chức xã hội cộng đồng dân cư trong tham vấn về đánh giá tác động môi trường, trong giám sát việc thực hiện pháp luật môi trường. Đặc biệt, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa dành quyền giám sát các cơ quan nhà nước, các chủ thể có thẩm quyền quản lý nhà nước về môi trường cho các đối tượng này. Theo đó, pháp luật nên xác định bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân và tiếp cận thông tin là điều kiện cần để thực hiện điều này. Muốn vậy, cần bổ sung một điều khoản riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia giám sát hoạt động bảo vệ môi trường và nêu rõ trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị. Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí đang là chủ đề nóng tại các diễn đàn trong nước và thế giới, cần phải được lồng ghép trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương vì điều này ảnh hưởng đến quyền được thông tin, đến đời sống, sản xuất của người dân. Hiện nay, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã có hiệu lực, tuy nhiên, với những quy định chưa rõ về những trường hợp nhà nước hạn chế quyền cung cấp thông tin và cơ quan nhà nước có thể từ chối cung cấp thông tin trong trường hợp cho rằng việc cung cấp thông tin đó có thể ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, thì vẫn còn nhiều vấn đề cần phải được cụ thể hóa để Luật này thực sự trở thành cơ sở vững chắc cho người dân trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Thứ ba, về trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường không khí đô thị Việt Nam, vẫn có sự chưa rõ ràng, thiếu nhất quán trong các quy định và thực hiện chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà nước. Cụ thể, quy định về thanh tra môi trường trong luật bảo vệ môi trường, trong đó có bảo vệ môi trường không khí còn tản mạn, phân tán, chưa có sự thống nhất so với Luật Thanh tra năm 2010. Bên cạnh đó, ngoài Thanh tra Bộ Tài nguyên và môi trường, Thanh tra Tổng cục Môi trường, Thanh tra Sở Tài nguyên và môi trường theo Luật Thanh tra năm 2010, thì Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định các Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, Thủ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp cũng có quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về môi trường. Về thực tiễn hoạt động, thanh tra môi trường vẫn còn chồng chéo, thiếu phối hợp giữa Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục và Thanh tra Sở và hoạt động thanh tra có chính quyền địa phương, vẫn có những tiêu cực trong quá trình thành tra ảnh hưởng đến xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Không những thế, tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường không khí cũng còn nhiều bất cập.

Việt Nam có một hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường khá đồ sộ từ trung ương đến địa phương, từ Cục Kiểm soát ô nhiễm môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Khí tượng thủy văn và ứng phó với biến đổi khí hậu, Vụ Môi trường (Bộ Giao thông vận tải), Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia,… nhưng chưa có cơ quan chuyên trách về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Hơn nữa, chính việc nhiều cơ quan tham gia quản lý thực tiễn cho thấy không hiệu quả dẫn tới hiện tượng “cha chung không ai khóc”, còn môi trường không khí vẫn bị ô nhiễm trầm trọng[4]. Ví dụ: Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm soát các hoạt động ô nhiễm xung quanh và nhà kính; Bộ Giao thông vận tải chủ trì các hoạt động kiểm soát ô nhiễm không khí đô thị bao gồm cả hoạt động kiểm soát lượng khí thải của phương tiện giao thông đường bộ, cũng như xây dựng ban hành công bố quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe cơ giới; Bộ Công thương cũng có trách nhiệm tham gia quản lý khí thải tại các khu công nghiệp,… Có thể thấy, việc phân công quản lý theo ngành, lĩnh vực như trên dẫn tới hậu quả là không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về quản lý chất lượng không khí gây khó khăn trong công tác quản lý. Mặt khác, hiện nay, Việt Nam đang thiếu các quy định về thu thập và chia sẻ số liệu kiểm soát ô nhiễm không khí giữa các bộ và địa phương. Điều này cũng cản trở việc hợp tác cũng như kết nối giữa các cơ quan, gây lãng phí do tiến hành các hoạt động trùng lặp hoặc không có sự kế thừa, mục tiêu bảo vệ môi trường gắn liền với phát triển bền vững gần như khó thực hiện.

Thứ tư, quy định và thực hiện đánh giá tác động môi trường liên quan đến môi trường không khí còn mang tính hình thức. Hội đồng thẩm định báo cáo nhiều trường hợp do chính cơ quan phê duyệt dự án thành lập đã dẫn tới hiện tượng cha chung không ai khóc, việc kiểm soát thực hiện các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường còn chưa hiệu quả, cơ chế tiền kiểm và hậu kiểm chưa thực sự chặt chẽ. Đặc biệt, khoản 2 Điều 64 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 yêu cầu đánh giá tác động môi trường cần dựa vào sức chịu tải của môi trường, nhưng chưa quy định rõ việc xác định sức chịu tải của môi trường như thế nào.

Thứ năm, quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường không khí còn hạn chế, nằm rải rác trong các văn bản luật khác nhau. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có thiết kế một chương riêng về bồi thường thiệt hại nhưng chưa có quy định cụ thể về xác định thiệt hại về môi trường không khí, phục hồi hiện trạng môi trường không khí. Kể cả Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính phủ về xác định thiệt hại môi trường cũng chưa quy định về xác định thiệt hại môi trường không khí nên khó áp dụng trên thực tiễn. Các chế tài xử lý khác được quy định trong các văn bản luật khác cũng còn nhiều bất cập. Có thể kể đến như về trách nhiệm hình sự, tội gây ô nhiễm môi trường được quy định trong Bộ luật Hình sự từ năm 1999 đến nay. Theo quy định của Bộ luật Hình sựa 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) thì tội này cấu thành vật chất tức là phải có hậu quả nghiêm trọng xảy ra mới bị truy cứu nên cũng gây khó khăn cho quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm bởi thực tế cho thấy việc xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường không khí gây ra là không dễ dàng, đặc biệt là khó xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường không khí và thiệt hại xảy ra. Do vậy, đến nay chưa có một cá nhân nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội gây ô nhiễm môi trường có điểm mới là chuyển sang cấu thành hình thức (tức là chỉ cần có hành vi nguy hiểm cho xã hội là đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Mặc dù vậy, tội này vẫn chỉ áp dụng với hành vi thải khí và bụi, mà chưa quy định đối với hành vi vi phạm pháp luật môi trường về mùi. Hơn nữa, theo quy định thì hành vi xả thải phải đạt một tải lượng nhất định thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, quy định này khó ở chỗ việc xác định tải lượng này với môi trường không khí là không hề dễ dàng. Về trách nhiệm kỷ luật với cán bộ, công chức quản lý nhà nước về môi trường cũng chưa được quy định rõ ràng và thực tiễn áp dụng chưa thật khách quan, công khai, minh bạch. Về xử phạt hành chính với hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí ngày càng hoàn thiện hơn nhưng mức xử phạt với một hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân làm ô nhiễm môi trường nói chung, trong đó có môi trường không khí vẫn còn thấp, mức xử phạt cao nhất áp dụng với một hành vi vi phạm pháp luật môi trường của tổ chức là 02 tỷ đồng, còn cá nhân là 01 tỷ đồng. Thực tiễn cho thấy, cũng chưa chủ nguồn thải nào phải chịu mức phạt cao nhất này nên chưa đảm bảo tính răn đe, thậm chí có trường hợp cá nhân, pháp nhân chấp nhận nộp phạt để vi phạm. Pháp luật bảo vệ môi trường chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải trong ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí từ nguồn thải di động cũng như nguồn thải cố định mà chỉ có quy định về ngăn chặn sự cố môi trường. Trong 10 năm tới, nếu GDP của Việt Nam tăng gấp đôi mà không quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ môi trường thì ô nhiễm môi trường sẽ tăng lên 3 lần, đến năm 2025 có thể gấp 4 - 5 lần. Trung bình GDP cứ tăng 1% thì thiệt hại do ô nhiễm môi trường sẽ làm mất đi 3% GDP[5]. Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức về quản lý và kiểm soát khí thải nếu không có các chế tài xử lý vi phạm mạnh tay hơn. Thực trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta đang ở mức báo động, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn biến phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng. Nguyên nhân của tình trạng này do chế tài xử phạt còn chung chung, mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Do vậy, cần bổ sung chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cụ thể hơn.

Thực tiễn hiện nay cũng cho thấy đầu tư cho hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường không khí chưa đáp ứng được yêu cầu; hoạt động trồng cây gây rừng, trồng cây xanh ở các đô thị giữ vai trò quan trọng trong duy trì một môi trường không khí trong lành, nhưng việc thực hiện lại chưa được hiệu quả; hoạt động đào tạo, nghiên cứu các cơ chế, giải pháp về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí chưa phù hợp; truyền thông, nâng cao nhận thức cho mọi người về tầm quan trọng của môi trường không khí, các hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí, cách phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, ô nhiễm môi trường chưa tốt (chưa có chương trình riêng, người dân ít biết, các cấp lãnh đạo chưa có sự quan tâm thích đáng); sự tham gia của mọi người, của cộng đồng, của truyền thông chia sẻ thông tin còn nhiều hạn chế, bất cập; ý thức của doanh nghiệp trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí còn thấp, doanh nghiệp chưa nhận thức được đây không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Qua đó tác giả cho rằng, để nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam trong tổng thể các giải pháp, trước mắt cần nghiên cứu bổ sung, chỉnh sửa, những thiếu sót của quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí như trình bày ở trên. Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cũng có các chính sách, các quy định về bảo vệ phát triển rừng, về trồng cây xanh đô thị. Còn về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng Luật Không khí sạch ở Việt Nam để có điều chỉnh toàn diện góp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, thúc đẩy phát triển bền vững.

ThS. Tạ Thị Thùy Trang

Đại học Thương mại Hà Nội


[1] Báo cáo này được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố ngày 29/9/2016.

[2] Khoản 20 Điều 3 và Điều 131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[3] Điều 145, Điều 146 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Nghị định số 19/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[4] Nguồn: Http://www.baoquangninh.com.vn/doi-song/moi-truong/201204/Nhung-bat-cap-trong-cong-tac-quan-ly-bao-ve-moi-truong-2166185/.

[5] Http://enternews.vn/khong-khi-sach-de-phat-trien-ben-vung-102201.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: