Thứ năm 15/01/2026 10:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong việc định tội danh của một số tội thuộc Chương Các tội xâm phạm sở hữu khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản

Tóm tắt: Bài viết bàn về việc định tội danh của một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời, đưa ra một số đề xuất hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết bàn về việc định tội danh của một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời, đưa ra một số đề xuất hoàn thiện.

Abstract: The paper discusses the defining names of some crimes in the chapter: crimes against ownership, after having been administratively fined for asset appropriation in accordance with the provisions of the Criminal Code of 2015, and at the same time raises some completion suggestions.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018. Tuy nhiên, hiện nay, một số hướng dẫn thi hành trước đây không còn phù hợp với thực tế trong việc triển khai và áp dụng pháp luật nhưng chưa có văn bản mới thay thế, dẫn đến những khó khăn trong việc xử lý hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn về việc định tội danh một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, một số bất cập trong việc hướng dẫn xử lý hình sự, đồng thời, có một số đề xuất hoàn thiện việc văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Các tội xâm phạm sở hữu

So với Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) vẫn giữ nguyên các tội danh được thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu. Cụ thể, tại Chương XVI Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn bao gồm 13 tội danh từ Điều 168 đến Điều 180 quy định các tội có tính chất xâm phạm quyền sở hữu tài sản, điều khác biệt đó là thay đổi một số tình tiết định tội, định khung, mức hình phạt thể hiện nguyên tắc hình sự hóa và phi hình sự hóa theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta phù hợp với thực tế.

Trong số đó có 04 tội danh quy định tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” là tình tiết định tội quy định tại khoản 1 các Điều 172 (Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản); Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản); Điều 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 175 (Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản), khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó người thực hiện hành vi vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản. Cả 04 tội danh trên đều có một số dấu hiệu chung như:

- Khách thể bị xâm hại đều là quan hệ sở hữu đã được Hiến pháp ghi nhận và được luật hình sự bảo vệ khỏi hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao trách nhiệm quản lý tài sản.

- Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định. Tuy nhiên, cần chú ý căn cứ vào tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3, khoản 4 Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), còn đối với Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) nếu người thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Dấu hiệu về định lượng là yếu tố thuộc cấu thành cơ bản của các tội danh trên. Trong đó, đối với Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Tội trộm cắp tài sản (Điều 173), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 175) thì tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên, còn đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) là 4.000.000 đồng trở lên. Nếu tài sản bị xâm phạm dưới mức giá trị nêu trên thì phải thỏa mãn một trong các điều kiện như: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về một số tội quy định trong Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Trong đó có dấu hiệu chung là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”. Nghĩa là, người thực hiện một trong bốn hành vi nêu trên tuy chiếm đoạt tài sản dưới mức định lượng thuộc cấu thành cơ bản nhưng trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Bất cập trong việc hướng dẫn xử lý hình sự

Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành nhưng chưa có văn bản hướng dẫn mới về các tội xâm phạm sở hữu, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn đang áp dụng Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 hướng dẫn một số quy định các tội xâm phạm sở hữu (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 02) được áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, tại mục 1.3 phần I Thông tư liên tịch số 02 quy định: Bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” nếu trước đó đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi sau đây: a) Hành vi cướp tài sản; b) Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; c) hành vi cưỡng đoạt tài sản; d) Hành vi cướp giật tài sản; đ) Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản; e) Hành vi trộm cắp tài sản; g) hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; h) Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; i) Hành vi tham ô tài sản; k) Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Quy định trên được hiểu là khi một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một các hành vi nêu trên mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý nay lại thực hiện một trong thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức cơ bản mà điều luật đã quy định vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là đối với các hành vi cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản thì chỉ cần người nào thực hiện một trong số các hành vi đó là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, khoa học luật hình sự gọi đó là “tội phạm có cấu thành hình thức”. Tức là, người thực hiện hành vi phạm tội chỉ cần thực hiện một trong các hành vi nêu trên nhằm chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức khác là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, bất luận đó là tài sản gì có giá trị bao nhiêu chỉ còn là yếu tố để định khung hình phạt.

Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định: “Người từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Như vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi nêu trên chỉ đặt ra đối với trường hợp người thực hiện hành vi ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều …168, 169, 170, 171, 173,…”. Từ đó cho thấy, nếu người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản trong số các hành vi nêu trên nay lại thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì cũng không bị coi là tội phạm. Bởi lẽ, nếu khởi tố trong trường hợp này thì người thực hiện hành vi phạm tội chỉ có thể bị khởi tố theo khoản 1 của các điều luật có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng trong khi đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Chiếu theo các quy định nêu trên thì mặc dù trước đó trước đó một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d mục 1.3 phần I của Thông tư liên tịch số 02 mà lại tiếp tục thực hiện hành vi quy định tại các Điều 173, Điều 174, Điều 175 và Điều 176 nhưng tài sản bị chiếm đoạt dưới mức cấu thành cơ bản thì cũng sẽ không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, việc quy định đã bị đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt đối với hành vi tham ô tài sản, hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản cũng sẽ không hợp lý. Bởi vì, hành vi tham ô tài sản và và hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự được xếp ở chương các tội phạm về chức vụ, mục các tội phạm tham nhũng có tính chất khác với các hành vi chiếm đoạt tài sản thông thường quy định tại Chương các tội xâm phạm sở hữu cả về chủ thể thực hiện hành vi và mức độ nguy hiểm cho xã hội.

3. Đề xuất hoàn thiện

Để pháp luật được áp dụng thống nhất, theo tác giả cần sớm ban hành nghị quyết hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn việc áp dụng pháp luật đối với trường hợp “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm”. Theo quan điểm của tác giả, nên bỏ quy định đã bị xử xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt đối với các hành vi sau: Hành vi cướp tài sản; hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; hành vi cưỡng đoạt tài sản; hành vi cướp giật tài sản; hành vi tham ô tài sản; hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Chỉ xử lý hình sự nếu người nào đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý mà mà lại thực hiện một trong các hành vi: Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản; hành vi trộm cắp tài sản; hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Phạm Tuân

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: