Thứ sáu 13/03/2026 12:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong việc định tội danh của một số tội thuộc Chương Các tội xâm phạm sở hữu khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản

Tóm tắt: Bài viết bàn về việc định tội danh của một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời, đưa ra một số đề xuất hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết bàn về việc định tội danh của một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời, đưa ra một số đề xuất hoàn thiện.

Abstract: The paper discusses the defining names of some crimes in the chapter: crimes against ownership, after having been administratively fined for asset appropriation in accordance with the provisions of the Criminal Code of 2015, and at the same time raises some completion suggestions.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018. Tuy nhiên, hiện nay, một số hướng dẫn thi hành trước đây không còn phù hợp với thực tế trong việc triển khai và áp dụng pháp luật nhưng chưa có văn bản mới thay thế, dẫn đến những khó khăn trong việc xử lý hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn về việc định tội danh một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, một số bất cập trong việc hướng dẫn xử lý hình sự, đồng thời, có một số đề xuất hoàn thiện việc văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Các tội xâm phạm sở hữu

So với Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) vẫn giữ nguyên các tội danh được thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu. Cụ thể, tại Chương XVI Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn bao gồm 13 tội danh từ Điều 168 đến Điều 180 quy định các tội có tính chất xâm phạm quyền sở hữu tài sản, điều khác biệt đó là thay đổi một số tình tiết định tội, định khung, mức hình phạt thể hiện nguyên tắc hình sự hóa và phi hình sự hóa theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta phù hợp với thực tế.

Trong số đó có 04 tội danh quy định tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” là tình tiết định tội quy định tại khoản 1 các Điều 172 (Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản); Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản); Điều 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 175 (Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản), khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó người thực hiện hành vi vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản. Cả 04 tội danh trên đều có một số dấu hiệu chung như:

- Khách thể bị xâm hại đều là quan hệ sở hữu đã được Hiến pháp ghi nhận và được luật hình sự bảo vệ khỏi hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao trách nhiệm quản lý tài sản.

- Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định. Tuy nhiên, cần chú ý căn cứ vào tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3, khoản 4 Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), còn đối với Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) nếu người thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Dấu hiệu về định lượng là yếu tố thuộc cấu thành cơ bản của các tội danh trên. Trong đó, đối với Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Tội trộm cắp tài sản (Điều 173), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 175) thì tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên, còn đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) là 4.000.000 đồng trở lên. Nếu tài sản bị xâm phạm dưới mức giá trị nêu trên thì phải thỏa mãn một trong các điều kiện như: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về một số tội quy định trong Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Trong đó có dấu hiệu chung là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”. Nghĩa là, người thực hiện một trong bốn hành vi nêu trên tuy chiếm đoạt tài sản dưới mức định lượng thuộc cấu thành cơ bản nhưng trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Bất cập trong việc hướng dẫn xử lý hình sự

Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành nhưng chưa có văn bản hướng dẫn mới về các tội xâm phạm sở hữu, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn đang áp dụng Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 hướng dẫn một số quy định các tội xâm phạm sở hữu (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 02) được áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, tại mục 1.3 phần I Thông tư liên tịch số 02 quy định: Bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” nếu trước đó đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi sau đây: a) Hành vi cướp tài sản; b) Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; c) hành vi cưỡng đoạt tài sản; d) Hành vi cướp giật tài sản; đ) Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản; e) Hành vi trộm cắp tài sản; g) hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; h) Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; i) Hành vi tham ô tài sản; k) Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Quy định trên được hiểu là khi một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một các hành vi nêu trên mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý nay lại thực hiện một trong thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức cơ bản mà điều luật đã quy định vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là đối với các hành vi cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản thì chỉ cần người nào thực hiện một trong số các hành vi đó là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, khoa học luật hình sự gọi đó là “tội phạm có cấu thành hình thức”. Tức là, người thực hiện hành vi phạm tội chỉ cần thực hiện một trong các hành vi nêu trên nhằm chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức khác là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, bất luận đó là tài sản gì có giá trị bao nhiêu chỉ còn là yếu tố để định khung hình phạt.

Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định: “Người từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Như vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi nêu trên chỉ đặt ra đối với trường hợp người thực hiện hành vi ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều …168, 169, 170, 171, 173,…”. Từ đó cho thấy, nếu người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản trong số các hành vi nêu trên nay lại thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì cũng không bị coi là tội phạm. Bởi lẽ, nếu khởi tố trong trường hợp này thì người thực hiện hành vi phạm tội chỉ có thể bị khởi tố theo khoản 1 của các điều luật có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng trong khi đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Chiếu theo các quy định nêu trên thì mặc dù trước đó trước đó một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d mục 1.3 phần I của Thông tư liên tịch số 02 mà lại tiếp tục thực hiện hành vi quy định tại các Điều 173, Điều 174, Điều 175 và Điều 176 nhưng tài sản bị chiếm đoạt dưới mức cấu thành cơ bản thì cũng sẽ không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, việc quy định đã bị đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt đối với hành vi tham ô tài sản, hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản cũng sẽ không hợp lý. Bởi vì, hành vi tham ô tài sản và và hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự được xếp ở chương các tội phạm về chức vụ, mục các tội phạm tham nhũng có tính chất khác với các hành vi chiếm đoạt tài sản thông thường quy định tại Chương các tội xâm phạm sở hữu cả về chủ thể thực hiện hành vi và mức độ nguy hiểm cho xã hội.

3. Đề xuất hoàn thiện

Để pháp luật được áp dụng thống nhất, theo tác giả cần sớm ban hành nghị quyết hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn việc áp dụng pháp luật đối với trường hợp “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm”. Theo quan điểm của tác giả, nên bỏ quy định đã bị xử xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt đối với các hành vi sau: Hành vi cướp tài sản; hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; hành vi cưỡng đoạt tài sản; hành vi cướp giật tài sản; hành vi tham ô tài sản; hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Chỉ xử lý hình sự nếu người nào đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý mà mà lại thực hiện một trong các hành vi: Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản; hành vi trộm cắp tài sản; hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Phạm Tuân

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: