Chủ nhật 14/06/2026 17:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong việc định tội danh của một số tội thuộc Chương Các tội xâm phạm sở hữu khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản

Tóm tắt: Bài viết bàn về việc định tội danh của một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời, đưa ra một số đề xuất hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết bàn về việc định tội danh của một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời, đưa ra một số đề xuất hoàn thiện.

Abstract: The paper discusses the defining names of some crimes in the chapter: crimes against ownership, after having been administratively fined for asset appropriation in accordance with the provisions of the Criminal Code of 2015, and at the same time raises some completion suggestions.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018. Tuy nhiên, hiện nay, một số hướng dẫn thi hành trước đây không còn phù hợp với thực tế trong việc triển khai và áp dụng pháp luật nhưng chưa có văn bản mới thay thế, dẫn đến những khó khăn trong việc xử lý hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn về việc định tội danh một số tội thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu khi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, một số bất cập trong việc hướng dẫn xử lý hình sự, đồng thời, có một số đề xuất hoàn thiện việc văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Các tội xâm phạm sở hữu

So với Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) vẫn giữ nguyên các tội danh được thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu. Cụ thể, tại Chương XVI Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn bao gồm 13 tội danh từ Điều 168 đến Điều 180 quy định các tội có tính chất xâm phạm quyền sở hữu tài sản, điều khác biệt đó là thay đổi một số tình tiết định tội, định khung, mức hình phạt thể hiện nguyên tắc hình sự hóa và phi hình sự hóa theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta phù hợp với thực tế.

Trong số đó có 04 tội danh quy định tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” là tình tiết định tội quy định tại khoản 1 các Điều 172 (Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản); Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản); Điều 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 175 (Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản), khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó người thực hiện hành vi vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản. Cả 04 tội danh trên đều có một số dấu hiệu chung như:

- Khách thể bị xâm hại đều là quan hệ sở hữu đã được Hiến pháp ghi nhận và được luật hình sự bảo vệ khỏi hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao trách nhiệm quản lý tài sản.

- Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định. Tuy nhiên, cần chú ý căn cứ vào tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3, khoản 4 Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), còn đối với Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) nếu người thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Dấu hiệu về định lượng là yếu tố thuộc cấu thành cơ bản của các tội danh trên. Trong đó, đối với Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Tội trộm cắp tài sản (Điều 173), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 175) thì tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên, còn đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) là 4.000.000 đồng trở lên. Nếu tài sản bị xâm phạm dưới mức giá trị nêu trên thì phải thỏa mãn một trong các điều kiện như: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về một số tội quy định trong Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Trong đó có dấu hiệu chung là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”. Nghĩa là, người thực hiện một trong bốn hành vi nêu trên tuy chiếm đoạt tài sản dưới mức định lượng thuộc cấu thành cơ bản nhưng trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Bất cập trong việc hướng dẫn xử lý hình sự

Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành nhưng chưa có văn bản hướng dẫn mới về các tội xâm phạm sở hữu, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn đang áp dụng Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 hướng dẫn một số quy định các tội xâm phạm sở hữu (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 02) được áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, tại mục 1.3 phần I Thông tư liên tịch số 02 quy định: Bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” nếu trước đó đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi sau đây: a) Hành vi cướp tài sản; b) Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; c) hành vi cưỡng đoạt tài sản; d) Hành vi cướp giật tài sản; đ) Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản; e) Hành vi trộm cắp tài sản; g) hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; h) Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; i) Hành vi tham ô tài sản; k) Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Quy định trên được hiểu là khi một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một các hành vi nêu trên mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý nay lại thực hiện một trong thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức cơ bản mà điều luật đã quy định vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là đối với các hành vi cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản thì chỉ cần người nào thực hiện một trong số các hành vi đó là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, khoa học luật hình sự gọi đó là “tội phạm có cấu thành hình thức”. Tức là, người thực hiện hành vi phạm tội chỉ cần thực hiện một trong các hành vi nêu trên nhằm chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức khác là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, bất luận đó là tài sản gì có giá trị bao nhiêu chỉ còn là yếu tố để định khung hình phạt.

Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định: “Người từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Như vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi nêu trên chỉ đặt ra đối với trường hợp người thực hiện hành vi ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều …168, 169, 170, 171, 173,…”. Từ đó cho thấy, nếu người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản trong số các hành vi nêu trên nay lại thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì cũng không bị coi là tội phạm. Bởi lẽ, nếu khởi tố trong trường hợp này thì người thực hiện hành vi phạm tội chỉ có thể bị khởi tố theo khoản 1 của các điều luật có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng trong khi đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Chiếu theo các quy định nêu trên thì mặc dù trước đó trước đó một người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d mục 1.3 phần I của Thông tư liên tịch số 02 mà lại tiếp tục thực hiện hành vi quy định tại các Điều 173, Điều 174, Điều 175 và Điều 176 nhưng tài sản bị chiếm đoạt dưới mức cấu thành cơ bản thì cũng sẽ không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, việc quy định đã bị đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt đối với hành vi tham ô tài sản, hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản cũng sẽ không hợp lý. Bởi vì, hành vi tham ô tài sản và và hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự được xếp ở chương các tội phạm về chức vụ, mục các tội phạm tham nhũng có tính chất khác với các hành vi chiếm đoạt tài sản thông thường quy định tại Chương các tội xâm phạm sở hữu cả về chủ thể thực hiện hành vi và mức độ nguy hiểm cho xã hội.

3. Đề xuất hoàn thiện

Để pháp luật được áp dụng thống nhất, theo tác giả cần sớm ban hành nghị quyết hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn việc áp dụng pháp luật đối với trường hợp “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm”. Theo quan điểm của tác giả, nên bỏ quy định đã bị xử xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt đối với các hành vi sau: Hành vi cướp tài sản; hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; hành vi cưỡng đoạt tài sản; hành vi cướp giật tài sản; hành vi tham ô tài sản; hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Chỉ xử lý hình sự nếu người nào đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý mà mà lại thực hiện một trong các hành vi: Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản; hành vi trộm cắp tài sản; hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Phạm Tuân

Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: