Thứ bảy 24/10/2026 04:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập từ thực tiễn áp dụng quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả nêu lên một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, đồng thời đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả nêu lên một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, đồng thời đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật.

Abstract: In this paper, the author raises some difficulties in applying provisions on administrative violation handling in the customs area, and at the same time, proposes orientation of amendment, supplementation for law completion.

Ngày 15/10/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 127/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan. Sau một thời gian thực hiện, Nghị định này được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 45/2016/NĐ-CP (Nghị định số 127) vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc cần có hướng sửa đổi, bổ sung để tiếp tục hoàn thiện. Cụ thể:

Thứ nhất, về những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 127 quy định: “Nhầm lẫn trong quá trình nhập khẩu, gửi hàng hóa vào Việt Nam nhưng đã được người gửi hàng, người nhận hoặc người đại diện hợp pháp thông báo bằng văn bản tới Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi lưu giữ hàng hóa khi chưa đăng ký tờ khai hải quan; trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu là ma túy, vũ khí, tài liệu phản động, hóa chất độc Bảng I trong Công ước cấm vũ khí hóa học”.

Thực tế trong thời gian qua phát sinh rất nhiều trường hợp (đặc biệt là các container chứa hàng hóa cấm nhập khẩu): Khi hàng hóa về đến cảng thì người nhận hàng chỉ gửi thông báo từ chối nhận hàng đến hãng tàu đơn vị vận chuyển mà không thông báo đến cơ quan hải quan. Trong trường hợp này, người nhận hàng chưa nhận D/O (lệnh giao hàng), chưa mở tờ khai hải quan. Vậy, trường hợp này có xem xét trách nhiệm và xử phạt không và nếu xử phạt thì xử phạt theo quy định nào (vì nếu đối chiếu quy định pháp luật nêu trên, người nhận hàng phải gửi thông báo từ chối đến cơ quan hải quan thì mới thuộc trường hợp không xử phạt)?

Theo quan điểm của tác giả, trường hợp người nhận hàng khi có thông báo từ chối nhận hàng gửi hãng tàu vận chuyển, chưa nhận D/O và chưa mở tờ khai hải quan thì không có cơ sở xem xét trách nhiệm của người nhận hàng. Trách nhiệm này là của đơn vị vận chuyển phải thông báo lại cho cơ quan hải quan, nếu họ không thông báo lại cho cơ quan hải quan thì xem xét xử phạt theo hành vi quy định tại khoản 10 Điều 14 Nghị định số 127.

Thực tiễn xem xét xử lý vi phạm thì thông thường người nhận hàng khi nhận được yêu cầu đến lấy lệnh giao hàng của người vận chuyển, nếu thấy không phải hàng của mình, họ thường chuyển thông báo từ chối nhận hàng đơn vị vận chuyển và đơn vị vận chuyển thông báo lại cho cơ quan hải quan thì cũng không xem xét xử phạt theo quy định tại khoản 4 Điều 48 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ). Do đó, quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 127 cần được sửa đổi, bổ sung như sau: Nhầm lẫn trong quá trình nhập khẩu, gửi hàng hóa vào Việt Nam nhưng đã được người gửi hàng, người nhận hoặc người đại diện hợp pháp hoặc “người vận tải” thông báo bằng văn bản tới Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi lưu giữ hàng hóa khi chưa đăng ký tờ khai hải quan; trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu là ma túy, vũ khí, tài liệu phản động, hóa chất độc Bảng I trong Công ước cấm vũ khí hóa học.

Thứ hai, đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm tra hải quan, thanh tra, điểm a khoản 5 Điều 10 Nghị định số 127 quy định: “Sử dụng niêm phong hải quan giả mạo; sử dụng chứng từ, tài liệu giả mạo, không hợp pháp, không đúng với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để khai, nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan mà không phải là tội phạm”. Việc quy định như vậy dẫn đến cách hiểu, áp dụng không thống nhất: Trường hợp sử dụng niêm phong hải quan giả mạo; sử dụng chứng từ, tài liệu giả mạo, không hợp pháp nhưng lại “đúng” với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không phải là tội phạm thì có xử phạt hay không? Vì theo quy định trên thì có 02 hành vi vi phạm: (i) Sử dụng chứng từ, tài liệu giả, không hợp pháp; (ii) Vi phạm về khai hải quan: Không đúng với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Tác giả cho rằng, chỉ cần có hành vi “sử dụng niêm phong hải quan giả mạo; sử dụng chứng từ, tài liệu giả mạo, không hợp pháp” thì cơ quan hải quan xem xét xử phạt mà không phụ thuộc vào hành vi về khai hải quan. Do đó, cần sửa đổi quy định trên theo hướng: “Sử dụng niêm phong hải quan giả mạo; sử dụng chứng từ, tài liệu giả mạo để nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan mà không phải là tội phạm”.

Thứ ba, đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hải quan, điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định số 127 quy định: “Chứa chấp, mua bán, vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không có chứng từ hợp pháp trong địa bàn hoạt động hải quan mà không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 7, 8, 9, 13 và Điều 14 Nghị định này”.

Qua rà soát cho thấy, các Điều 7, 8, 9, 13, 14 Nghị định số 127 không quy định hành vi “không có hóa đơn chứng từ hợp pháp”. Do vậy, việc quy định theo phương pháp loại trừ như trên là không cần thiết.

Hiện nay, đối với hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu quy định về hóa đơn, chứng từ thực hiện theo Thông tư liên tịch số 64/2015/TTLT-BTC-BCT-BCA-BQP ngày 08/5/2015 của Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường. Tuy nhiên, đối với hàng hóa xuất khẩu thì chưa có quy định riêng nên có thể áp dụng theo quy định pháp luật về hóa đơn như điểm b khoản 1 Điều 16 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 25 Thông tư số 39/2014/TT-BTC quy định: “Người mua được sử dụng hóa đơn hợp pháp theo quy định pháp luật để chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ; hưởng chế độ khuyến mãi, chế độ hậu mãi, xổ số hoặc được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; được dùng để hạch toán kế toán hoạt động mua hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về kế toán; kê khai các loại thuế; đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu và để kê khai thanh toán vốn ngân sách nhà nước theo các quy định của pháp luật”.

Việc chưa có luật quy định riêng đối với hàng hóa khi vận chuyển đi xuất khẩu cần những hóa đơn, chứng từ, giấy tờ gì, dẫn đến khó khăn khi xử lý trong trường hợp cơ quan hải quan phát hiện hàng hóa xuất khẩu không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp trong địa bàn hoạt động hải quan.

Vì vậy, tác giả đề nghị sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định số 127 theo hướng: “Chứa chấp, mua bán, vận chuyển hàng hóa không có chứng từ hợp pháp trong địa bàn hoạt động hải quan”.

Thứ tư, chưa có hướng dẫn cụ thể về “hàng hóa không đáp ứng yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật” quy định tại một số điều khoản như Điều 10, điểm a khoản 5 Điều 11, khoản 7 Điều 14 Nghị định số 127 (đặc biệt trong việc xác định thời điểm doanh nghiệp phải đáp ứng là thời điểm nào? Thời điểm mở tờ khai hay thời điểm có chứng nhận đủ điều kiện, tiểu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật?).

Thực tế phát sinh các trường hợp như: Công ty A mở tờ khai nhập khẩu máy móc khai báo hàng mới 100%, phân luồng xanh. Do có thông tin vi phạm nên cơ quan hải quan đã tiến hành kiểm tra thực tế và kết quả là cơ quan hải quan phát hiện hàng hóa này đã qua sử dụng. Theo quy định về chính sách mặt hàng, đối với việc nhập khẩu máy móc qua sử dụng thì mức độ kiểm tra thấp nhất là luồng vàng và doanh nghiệp phải thực hiện kiểm tra chất lượng về hàng hóa theo Thông tư số 23/2015/TT-BKHCN ngày 13/11/2015 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng. Kết quả kiểm tra chất lượng xảy ra hai trường hợp: Hàng hóa đủ điều kiện nhập khẩu và hàng hóa không đủ điều kiện nhập khẩu. Nếu hàng hóa không đạt yêu cầu nhập khẩu thì xử phạt; nhưng nếu hàng hóa đạt yêu cầu nhập khẩu thì có bị xử phạt về hành vi nhập khẩu hàng hóa không đủ điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn hay không? Hoặc trường hợp hàng hóa nhập khẩu thuộc nhóm 2 (điện thoại di động, máy tính xách tay…), theo quy định thì chỉ phải nộp cho cơ quan hải quan bản đăng ký kiểm tra là đủ điều kiện thông quan hàng hóa (Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa). Trong trường hợp doanh nghiệp không nộp bản đăng ký trên thì có xử phạt về hành vi “hàng hóa không đáp ứng yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật” hay không?

Bên cạnh đó, điểm a khoản 1 Điều 33 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân trước khi nhập khẩu, quá cảnh vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật phải đăng ký, nộp hồ sơ cho cơ quan chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật ở trung ương để kiểm dịch”; khoản 2 Điều 37 Luật Thú Y năm 2015 quy định: “Động vật, sản phẩm động vật có trong Danh mục động vật, sản phẩm động vật trên cạn thuộc diện phải kiểm dịch trước khi xuất khẩu theo yêu cầu của nước nhập khẩu, của chủ hàng và trước khi nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển cửa khẩu, kho ngoại quan, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam phải được kiểm dịch”; điểm b.5 khoản 1 Điều 51 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính) quy định hồ sơ hải quan đối với hàng hóa quá cảnh yêu cầu: “Giấy thông báo miễn kiểm dịch hoặc thông báo kết quả kiểm dịch của cơ quan kiểm dịch đạt yêu cầu theo quy định của pháp luật về kiểm dịch hoặc chứng từ kiểm dịch do cơ quan kiểm dịch nước ngoài phát hành và được pháp luật về kiểm dịch công nhận đối với trường hợp hàng quá cảnh phải kiểm dịch: 01 bản chính. Trường hợp pháp luật chuyên ngành không quy định cụ thể bản chính hay bản chụp thì người khai hải quan được nộp bản chụp”.

Chính vì vậy, đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định trên theo hướng:

- Bổ sung hành vi: “Xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập - tái xuất, chuyển cửa khẩu, kho ngoại quan, quá cảnh hàng hóa thuộc danh mục phải kiểm tra chuyên ngành nhưng không đăng ký, kiểm tra theo quy định” tại Điều 10 về vi phạm quy định về kiểm tra hải quan, thanh tra Nghị định số 127.

- Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 14 như sau: “Xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa thuộc danh mục phải có giấy phép mà không có giấy phép; xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập - tái xuất, chuyển cửa khẩu, kho ngoại quan, quá cảnh hàng hóa không đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật”, điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không có nhãn hàng hóa theo quy định pháp luật thì bị xử phạt như sau…”.

Thứ năm, đối với hành vi quy định tại khoản 10 Điều 14 Nghị định số 127: “Xuất khẩu, nhập khẩu, đưa vào Việt Nam hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; hàng hóa thuộc diện tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu thì bị xử phạt như sau…”: Trường hợp hãng tàu A vận chuyển container vào Việt Nam (chứa hàng cấm). Thông tin trên vận đơn thể hiện người nhận hàng có thể là đơn vị giao nhận sau đó chuyển đến người nhận hàng đích thực hoặc người nhận hàng đích thực. Nếu số hàng trên chưa được đăng ký tờ khai hải quan, người nhận hàng đích thực từ chối nhận hàng thì sẽ xử lý như thế nào? Có xử phạt hãng tàu trong trường hợp này hay không? Có quan điểm cho rằng, không thể xử phạt được hãng tàu vận chuyển vì họ chỉ là đơn vị trung chuyển, hàng hóa được đóng trong các container còn nguyên dấu niêm phong. Theo tác giả, trường hợp này hoàn toàn có thể xử phạt được hãng vận chuyển để ngăn ngừa Việt Nam trở thành bãi rác, Nhà nước phải xử lý thay khi không tái xuất được.

Thứ sáu, về việc xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp vi phạm nhiều lần: Theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì “vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý”; điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, “một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm”; điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định tình tiết vi phạm hành chính nhiều lần là tình tiết tăng nặng. Thực tế trong thời gian qua, khi cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra sau thông quan, thanh tra chuyên ngành hoặc quá trình điều tra, xác minh vụ việc phát hiện doanh nghiệp mở nhiều tờ khai ở các thời điểm khác nhau và có cùng một hành vi vi phạm thì trường hợp này sẽ xử lý như thế nào? Xử lý vi phạm theo từng tờ khai vi phạm tại các thời điểm khác nhau hay xử lý về một hành vi áp dụng tình tiết tăng nặng?

Về vấn đề trên, Bộ Tài chính cũng đã có hướng dẫn tại Công văn số 15214/BTC-TCHQ ngày 23/10/2014 về việc vướng mắc xử phạt. Tuy nhiên, hướng dẫn này chỉ áp dụng đối với các hành vi vi phạm “không nộp đúng thời hạn các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan được chậm nộp”, “không nộp đúng thời hạn quy định để báo cáo thanh khoản, hoàn thuế...”, các hành vi vi phạm về thời phải thỏa mãn điều kiện là không phức tạp, không để lại hậu quả về tài chính và có lý do khách quan, hơn nữa văn bản này cũng chỉ dừng lại là văn bản hành chính nội bộ (không phải là văn bản quy phạm pháp luật). Vậy, đối với trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần nhưng vi phạm về chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, vi phạm chính về thuế thì sẽ xử lý như thế nào?

Thực tiễn xử lý thì vẫn xử phạt đối với trường hợp vi phạm liên quan đến chính sách quản lý hàng hóa, thuế theo từng tờ khai. Tuy nhiên, đối với một số vụ việc mà doanh nghiệp vi phạm lên đến vài trăm tờ khai, thậm chí có trường hợp hàng nghìn tờ khai thì việc xử lý mất rất nhiều thời gian do phải tách từng tờ khai thành các vụ việc riêng để trình xử phạt. Do đó, chúng ta cần phải nghiên cứu, xem xét để có hướng giải quyết cho trường hợp này.

Thứ bảy, xử lý vi phạm hành chính đối với các vụ việc bắt giữ ngoài địa bàn hoạt động hải quan: Trong thời gian qua, cơ quan hải quan phát hiện, bắt giữ một số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực hải quan hoặc nhận chuyển từ cơ quan khác các vi phạm trong lĩnh vực hải quan nhưng địa điểm bắt giữ vi phạm lại ở ngoài địa bàn hoạt động hải quan đã gây lúng túng trong công tác xử lý vi phạm.

Khoản 2 Điều 7 Luật Hải quan năm 2014 quy định: “Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan phù hợp với pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Một số ý kiến cho rằng, chỉ những vụ việc vi phạm phát hiện, bắt giữ trong địa bàn hải quan thì cơ quan hải quan mới chủ trì xử lý vi phạm, còn ngoài địa bàn hoạt động thì cơ quan hải quan không có thẩm quyền xử lý. Tuy nhiên, qua rà soát các quy định pháp luật (như Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn quy định thẩm quyền xử phạt theo lĩnh vực quản lý nhà nước thì không có quy định nào với nội dung là chỉ được xử phạt vi phạm hành chính phát hiện trong địa bàn hoạt động hải quan. Tuy nhiên, để áp dụng thống nhất trong toàn ngành thì cần quy định cụ thể, chi tiết vấn đề này khi sửa đổi Nghị định số 127.

Thứ tám, về thủ tục hải quan đối với hàng quá cảnh: Điểm b.5 khoản 1 Điều 51 Thông tư số 39/2018/TT-BTC có quy định đối với yêu cầu về hồ sơ hải quan, tuy nhiên, Nghị định số 127 chưa có quy định về xử phạt đối với hành vi quá cảnh khi hồ sơ không có giấy tờ theo yêu cầu. Do vậy, đề nghị cần nghiên cứu, bổ sung quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm này.

Tống Thị Hoa Quỳnh

Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: