Thứ tư 26/08/2026 08:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bầu cử dân chủ - Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động

Quyền lực chính trị của nhân dân lao động là ý chí chung của mọi tầng lớp lao động, thể hiện khả năng thực hiện được những lợi ích cơ bản của người lao động, được thực hiện bằng quyền lực nhà nước, bằng hoạt động của các đoàn thể quần chúng và bằng quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân hoặc gián tiếp thông qua cơ quan đại diện dân cử, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản cầm quyền.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Để giành lấy thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất”[1]. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1999) đã nhấn mạnh: “Nhân dân là nguồn gốc của mọi quyền lực. Quyền độc lập dân tộc và quyền làm chủ của Nhân dân lao động được tổ chức thành quyền lực chính trị. Đó là Nhà nước”. Khi quyền lực chính trị của nhân dân được tổ chức thành Nhà nước thì ý chí chung của nhân dân là sức mạnh, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước.

1. Về cơ chế thực hiện quyền lực chính trị

Từ thực tiễn thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta, có thể thấy, ở mức độ tổng quát, cơ chế thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động là: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Cơ chế này đã được Đảng ta nêu ra từ Đại hội IV (1976). Thực chất cơ chế này là xác định vai trò, chức năng và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

- Đảng lãnh đạo: Trước hết là đưa ra đường lối đúng đắn, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn, làm định hướng và quy tụ sức mạnh của toàn dân tạo nên sức mạnh của quyền lực nhân dân. Đồng thời, Đảng còn đào tạo, rèn luyện một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất để tập hợp và tổ chức nhân dân thực hiện được quyền lực chính trị của mình thông qua cơ quan đại diện của mình là Nhà nước.

- Nhà nước quản lý: Trước tiên là thể chế hóa các mục tiêu chính trị đã được xác định thành pháp luật, tức là thành ý chí của toàn dân mang tính pháp lý. Đồng thời, bằng hệ thống các cơ quan hành pháp, tư pháp, Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động thông qua việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước - quyền lực do nhân dân ủy quyền thông qua bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

- Nhân dân làm chủ: Khẳng định vị thế chủ thể quyền lực thuộc về nhân dân, đồng thời cũng xác định nhân dân chính là nguồn gốc tạo nên sức mạnh của quyền lực. Như vậy, trong cơ chế này, nhân dân là chủ thể quyền lực; Nhà nước là công cụ chủ yếu thực hiện quyền lực của nhân dân; Đảng là người lãnh đạo đảm bảo Nhà nước là “của dân, do dân, vì dân”.

2. Các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động

Thứ nhất, để nhân dân lao động có quyền lực chính trị phải có cơ sở kinh tế thích ứng đảm bảo - đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Không có cơ sở kinh tế đó, không thể nói tới quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Lê nin nói: “Pháp quyền không bao giờ có thể cao hơn chế độ kinh tế và trình độ phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế quyết định”[2]. Do đó, phải kiên trì tiến hành nhiệm vụ “quan trọng nhất và khó khăn nhất” là công cuộc xây dựng kinh tế. Vấn đề là trong điều kiện nước ta, đó chính là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước - hay mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đại hội IX, X, XI, XII của Đảng đã khái quát.

Thứ hai, phải xây dựng Đảng cầm quyền thực sự là chính đảng của giai cấp công nhân, thực sự đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động. Đảng phải tập trung, hội tụ được những tinh hoa trí tuệ, phẩm chất của giai cấp, của dân tộc, xứng đáng là đội tiên phong, bộ tham mưu lãnh đạo nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình. Đây là một điều kiện có ý nghĩa cốt lõi đảm bảo quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Tuy nhiên, Đảng phải luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, đổi mới không ngừng để nâng cao uy tín của Đảng đối với nhân dân, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng - Nhân dân, khẳng định vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân.

Thứ ba, cần xây dựng được Nhà nước thật sự “của dân, do dân, vì dân”. Đó là Nhà nước của chính những người lao động, do chính những người lao động cử ra và hoạt động của Nhà nước đó nhằm đảm bảo lợi ích của những người lao động, phục vụ lợi ích của đa số người lao động. Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đồng thời “quy định nhiệm vụ cho tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”[3]. Đội ngũ cán bộ, công chức phải thực sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, xứng đáng là những “công bộc” của dân, có đủ năng lực hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, có phẩm chất trong sạch, không tham ô, tham nhũng, không quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân.

Thứ tư, nhân dân lao động chỉ có quyền lực thực sự khi bản thân những người lao động phải có nhận thức đúng đắn, phải có ý thức và năng lực thực hiện quyền lực của mình nghĩa là phải có “vốn liếng chính trị”. Do vậy, đòi hỏi phải không ngừng nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hóa chính trị của quảng đại quần chúng.

Thứ năm, đẩy mạnh và mở rộng dân chủ hóa đời sống xã hội, nhằm tạo lập được môi trường xã hội thuận lợi, tạo sự “đồng thuận” và “niềm tin” trong xã hội để thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Một môi trường dân chủ thực sự là người dân làm chủ trên thực tế mọi mặt của đời sống xã hội. Trong quá trình mở rộng dân chủ, dân chủ hóa đời sống xã hội, cần kiên quyết đấu tranh chống lại các khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ tư sản, dân chủ hình thức. Dân chủ phải gắn với kỷ cương và trên cơ sở luật pháp.

3. Bầu cử và quyền con người theo quy định của Hiến pháp và pháp luật

Trong lịch sử lập hiến của nhân loại, tư duy về chính trị và vấn đề quyền con người, quyền công dân luôn là nội dung cốt lõi của lịch sử lập hiến. Các quốc gia đều coi quyền con người, quyền công dân là nội dung cơ bản, trụ cột không thể thiếu của Hiến pháp. Trong đó ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền con người là sứ mệnh “thiêng liêng” của Hiến pháp, là mục tiêu, nhiệm vụ của Hiến pháp của mỗi quốc gia. Hiến pháp là “văn bản ủy quyền” của nhân dân cho Nhà nước, trao cho Nhà nước hệ thống quyền lực thực chất của nhân dân, ấn định việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và các nguyên tắc và phương pháp thực thi quyền lực nhà nước cũng như ghi nhận và xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Theo nghĩa đó, một bản Hiến pháp bất luận được thông qua bằng cách thức nào, cũng là cơ sở pháp lý để thiết lập nên Nhà nước, bộ máy nhà nước chứ không phải ngược lại: Nhà nước thiết lập nên Hiến pháp. Càng ngày, vấn đề chính quyền và vấn đề nhân quyền càng gắn bó mật thiết với nhau, tạo nên chế độ chính trị của mối quốc gia hiện đại. Không thể nói rằng, chế độ dân chủ mà lại không bảo đảm nhân quyền, quyền con người, cũng như không có Hiến pháp[4]. Điều 6 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Những quy định trên cho thấy, quyền con người cần phải được ghi nhận, đảm bảo thực hiện trên những nền tảng của chế độ dân chủ và chủ quyền nhân dân. Thiếu vắng dân chủ và chủ quyền nhân dân thì những ghi nhận về quyền con người, quyền bầu cử khó có thể đi vào hiện thực, phát huy giá trị của dân chủ và giá trị xã hội của pháp luật bầu cử trong thực tiễn.

Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân có vai trò quyết định trong việc hình thành nên cơ quan đại diện: Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân - sản phẩm của bầu cử, là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội của đất nước và trong phạm vi từng địa phương “thành phần cơ cấu của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phản ánh tính mặt trận dân tộc thống nhất như Quốc hội mà nền tảng là liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Sự thảo luận tại nghị trường và quyết định tại các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân là hình ảnh “thu nhỏ” của việc chia sẻ và cùng nhau tìm ra những điểm tương đồng của lực lượng, các nhóm xã hội. Khi Quốc hội, Hội đồng nhân dân - cơ quan đại diện của nhân dân quyết định một vấn đề nào đó, điều đó có nghĩa là thay mặt cả nhân dân để quyết định. Do vậy, có thể nói rằng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân - cơ quan đại diện là “bức tranh phản ánh hình ảnh Nhân dân cả nước và ở địa phương”. Những quyết định của cơ quan đại diện là “sự đồng thuận trong đa dạng”, phản ánh ý chí chung của nhân dân.

Bên cạnh đó, pháp luật về bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân có vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của xã hội vào hoạt động bầu cử. Sự tham gia chính trị, sự quan tâm của cử tri đối với việc bầu cử phản ánh bầu không khí chính trị của đất nước, địa phương qua mỗi kỳ bầu cử, thông qua bầu cử, có thể thấy được trách nhiệm, ý thức chính trị của người dân đối với Nhà nước, đây là yếu tố rất quan trọng, mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử và cả hệ thống chính trị - xã hội. Bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân được coi là cơ chế tham gia dân chủ có tính hiện thực của Nhà nước ta. Pháp luật về bầu cử còn là công cụ quan trọng để giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước. Việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đã được quy định ở các điều khoản của Hiến pháp. Mới đây, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 35 và Nghị quyết số 85 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, đây là bước tiến quan trọng về pháp luật bầu cử đại biểu dân cử ở Việt Nam. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân là vấn đề chưa được nghiên cứu, làm rõ cụ thể :

Một là, việc tuyển chọn ứng cử viên là công đoạn rất quan trọng trong một cuộc bầu cử, bởi lẽ đây là giai đoạn “sơ tuyển” trước khi nhân dân trực tiếp lựa chọn. Từ năm 1980 đến nay, pháp luật bầu cử nước ta quy định hiệp thương là thủ tục bắt buộc. Theo Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, “Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tham gia giám sát việc bầu cử đại Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 6)”. Từ năm 1980 đến nay, hiệp thương chính là hình thức tuyển chọn ứng cử viên trong chế độ bầu cử nước ta. Trừ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946, nhìn chung, số lượng ứng cử viên tự ứng cử không đáng kể; những cuộc bầu cử gần đây, số lượng có tăng lên, nhưng tỉ lệ tự ứng cử trúng cử rất thấp[5]. Như vậy, có thể nói rằng “không gian” cho những người tự ứng cử trong pháp luật bầu cử ở nước ta còn khá chật hẹp.

Hai là, quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu được các Luật bầu cử quy định tổ chức qua ba Hội nghị hiệp thương, nhưng trong các cuộc bầu cử, Mặt trận Tổ quốc thường hướng dẫn quy trình hiệp thương theo năm bước. Các bước hiệp thương vô hình chung làm hạn chế quyền tự do ứng cử, làm giảm ý nghĩa quyền bầu cử trực tiếp của công dân. Quá trình lựa chọn, hiệp thương giới thiệu đại biểu, còn gò ép, nhiều nơi Mặt trận Tổ quốc rất lúng túng, sai sót, bỏ qua quy trình[6]. Trong điều kiện nước ta hiện nay, khi mặt bằng dân trí chưa cao, việc Mặt trận Tổ quốc được giao trọng trách chủ trì công tác hiệp thương để tuyển chọn các ứng cử viên nhằm mục đích đảm bảo tính cân đối về cơ cấu đại biểu trong các giai tầng, các ngành, các giới. Do vậy, rất cần cải tiến mạnh mẽ quy trình hiệp thương giới thiệu ứng viên trong thời gian tới.

Ba là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực bằng pháp luật bầu cử chưa được thực sự chặt chẽ, bắt đầu từ khâu “đầu vào”; nghĩa là, pháp luật bầu cử vẫn còn “khoảng trống” trong việc thẩm định, kiểm tra, đánh giá tư cách ứng cử viên trước khi họ tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Đặc biệt là việc kê khai tài sản, lý lịch tư pháp của ứng cử viên, cơ chế kiểm soát cam kết chính trị của ứng cử viên và đại biểu khi tham gia ứng cử. Đồng thời, quy định về việc “từ chức” của Nghị viên theo quy định của Điều 41, Điều 61 Hiến pháp năm 1946 cũng chưa được kế thừa, nghiên cứu thể chế hóa trong các bản Hiến pháp và Luật bầu cử hiện nay.

4. Một số giải pháp nâng cao nhận thức chính trị, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền con người và kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật bầu cử

Báo cáo chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân. Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra...”[7]. Trong đó cần quan tâm đến các nội dung, giải pháp cơ bản là:

Thứ nhất, vấn đề trao quyền cho cơ quan đại diện của mình (ủy quyền) bằng cách nào? và quyền lực cần được kiểm soát như thế nào? Trước tiên phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Đó không phải là khẩu hiệu, mà phải được thấm sâu trong hệ thống chính trị và trong cộng đồng nhân dân. Người dân phải ý thức rõ ràng và đầy đủ về quan điểm ấy, thường xuyên thể hiện bằng hành động thực tế. Bảo đảm việc lập hiến là của toàn dân “thông qua cử tri toàn quốc”, nhân dân phải trực tiếp quyết định những vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Phải trưng cầu dân ý đối với những vấn đề quan trọng của đất nước.

Thứ hai, kiểm soát bằng chính quyền lực nhà nước: Quyền lực phải được kiểm soát bằng chính quyền lực nhà nước, phương pháp tiếp cận của nước ta lâu nay đối với vấn đề này chưa phải đã tốt, quyền lực nhìn chung chưa được kiểm soát chặt chẽ, trên thực tế, việc lạm dụng quyền lực khá phổ biến. Vì vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực rất cần nghiên cứu một cách thật nghiêm túc; đặc biệt là sự phân công và kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận trong cùng một nhánh, nhất là hành pháp và tư pháp; nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 và hiến định quy định về việc “từ chức” của đại biểu theo tinh thần quy định của Điều 41, Điều 61 Hiến pháp năm 1946.

Thứ ba, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc thực thi rộng rãi quyền dân chủ: Bao gồm hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; thông qua chế độ tranh cử, đề bạt và miễn nhiệm cán bộ; minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tổ chức và cá nhân được giao quyền lực; sự giám sát của công luận, của Nhân dân; tự do tư tưởng và tự do ngôn luận để thể hiện chính kiến của những con người tham gia làm chủ đất nước. Nhân dân có quyền chất vấn, yêu cầu cơ quan nhà nước phải giải trình; có quyền phản đối những việc làm mà nhân dân cho là sai trái; có quyền yêu cầu cán bộ từ chức hoặc bị cách chức… Các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm lắng nghe, điều tra xác minh, tiếp thu, trả lời, giải trình.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế vận động bầu cử: Công tác cán bộ lâu nay, bên cạnh những mặt làm được, nhìn chung trong hệ thống chính trị chưa tuyển chọn và sử dụng được nhân tài. Cách làm công tác cán bộ chủ yếu là sắp đặt theo ý chí và cách tư duy còn nhiều chủ quan của người lãnh đạo. Công tác cán bộ chưa có được một cơ chế khoa học để tuyển chọn và sử dụng được nhân tài, tư tưởng phong kiến còn ảnh hưởng nặng nề và những năm gần đây lại cộng với mặt trái của cơ chế thị trường và sự tha hóa quyền lực. Cần đổi mới mạnh mẽ và căn bản công tác cán bộ theo hướng thật sự tôn trọng ứng cử tự do và đề cử của các tổ chức chính trị - xã hội; người vận động bầu cử phải có chương trình, kế hoạch hành động rõ ràng, đó là “cam kết chính trị” trước cử tri và nhân dân và định kỳ báo cáo trước cử tri và nhân dân về kết quả thực hiện. Đó cũng là cách để nhân dân và đông đảo cán bộ tham gia giám sát quyền lực trong việc giao quyền lực cho cán bộ. Lựa chọn những người có năng lực và bản lĩnh làm đại biểu chân chính và xứng đáng của nhân dân, dám nói tiếng nói trung trực đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhân dân.

Thứ năm, thực hành dân chủ trong bầu cử cần chú trọng: (i) Phải khắc phục tình trạng dân chủ hình thức; (ii) Vừa phải mở rộng dân chủ, vừa phải giữ vững kỷ luật, kỷ cương; (iii) Phải khắc phục triệt để bệnh quan liêu, cửa quyền, hống hách, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, lợi ích nhóm… nhằm củng cố lòng tin của nhân dân; (iv) Hoàn thiện pháp luật bầu cử theo hướng người dân phải thật sự dân chủ, tự do, công bằng trong bầu cử, thực sự tham gia vào việc quản lý nhà nước; (v) Củng cố “niềm tin” và “sự đồng thuận xã hội” thông qua bầu cử dân chủ là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hành dân chủ ở Việt Nam. Xu hướng xã hội càng phát triển, thì nhu cầu dân chủ ngày càng lớn, dân chủ trực tiếp sẽ là xu thế tất yếu trong xã hội hiện đại. Dân chủ, bình đẳng, chống độc quyền trong việc tiếp nhận thông tin là một trong những cách tốt nhất để tạo sự đồng thuận xã hội và phòng ngừa tiêu cực trong bầu cử.

ThS. Đào Đoan Hùng

Ban Dân vận Trung ương



Tài liệu tham khảo:

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 6, tr. 283.

[2]. V.I. Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Matxcova, 1976, tập 33, tr. 223.

[3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 9, tr. 591.

[4]. Nguyễn Như Phát - Nguyễn Đăng Dung: Quyền con người theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB Lao động xã hội, Hà nội, 2014, tr. 172.

[5]. Ví dụ: Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016, số người tự ứng cử và trúng cử thấp. Cấp tỉnh 02 người= 0,05%. Cấp huyện không có. Cấp xã: 43 người= 0,01%). Trong cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 số người tự ứng cử đạt tỷ lệ: Đại biểu Quốc hội: Đại biểu tự ứng cử: 2 người= 0,4%. Cấp tỉnh: Tự ứng cử đạt = 8,72%. Cấp huyện: Tự ứng cử = 0,2%. Cấp xã: Tự ứng cử = 0,10%).

[6]. PGS. TSKH. Phan Xuân Sơn: Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2003, tr 228- 229.

[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 169, 170.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: