Thứ năm 12/03/2026 17:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bầu cử dân chủ - Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động

Quyền lực chính trị của nhân dân lao động là ý chí chung của mọi tầng lớp lao động, thể hiện khả năng thực hiện được những lợi ích cơ bản của người lao động, được thực hiện bằng quyền lực nhà nước, bằng hoạt động của các đoàn thể quần chúng và bằng quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân hoặc gián tiếp thông qua cơ quan đại diện dân cử, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản cầm quyền.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Để giành lấy thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất”[1]. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1999) đã nhấn mạnh: “Nhân dân là nguồn gốc của mọi quyền lực. Quyền độc lập dân tộc và quyền làm chủ của Nhân dân lao động được tổ chức thành quyền lực chính trị. Đó là Nhà nước”. Khi quyền lực chính trị của nhân dân được tổ chức thành Nhà nước thì ý chí chung của nhân dân là sức mạnh, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước.

1. Về cơ chế thực hiện quyền lực chính trị

Từ thực tiễn thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta, có thể thấy, ở mức độ tổng quát, cơ chế thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động là: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Cơ chế này đã được Đảng ta nêu ra từ Đại hội IV (1976). Thực chất cơ chế này là xác định vai trò, chức năng và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

- Đảng lãnh đạo: Trước hết là đưa ra đường lối đúng đắn, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn, làm định hướng và quy tụ sức mạnh của toàn dân tạo nên sức mạnh của quyền lực nhân dân. Đồng thời, Đảng còn đào tạo, rèn luyện một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất để tập hợp và tổ chức nhân dân thực hiện được quyền lực chính trị của mình thông qua cơ quan đại diện của mình là Nhà nước.

- Nhà nước quản lý: Trước tiên là thể chế hóa các mục tiêu chính trị đã được xác định thành pháp luật, tức là thành ý chí của toàn dân mang tính pháp lý. Đồng thời, bằng hệ thống các cơ quan hành pháp, tư pháp, Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động thông qua việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước - quyền lực do nhân dân ủy quyền thông qua bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

- Nhân dân làm chủ: Khẳng định vị thế chủ thể quyền lực thuộc về nhân dân, đồng thời cũng xác định nhân dân chính là nguồn gốc tạo nên sức mạnh của quyền lực. Như vậy, trong cơ chế này, nhân dân là chủ thể quyền lực; Nhà nước là công cụ chủ yếu thực hiện quyền lực của nhân dân; Đảng là người lãnh đạo đảm bảo Nhà nước là “của dân, do dân, vì dân”.

2. Các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động

Thứ nhất, để nhân dân lao động có quyền lực chính trị phải có cơ sở kinh tế thích ứng đảm bảo - đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Không có cơ sở kinh tế đó, không thể nói tới quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Lê nin nói: “Pháp quyền không bao giờ có thể cao hơn chế độ kinh tế và trình độ phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế quyết định”[2]. Do đó, phải kiên trì tiến hành nhiệm vụ “quan trọng nhất và khó khăn nhất” là công cuộc xây dựng kinh tế. Vấn đề là trong điều kiện nước ta, đó chính là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước - hay mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đại hội IX, X, XI, XII của Đảng đã khái quát.

Thứ hai, phải xây dựng Đảng cầm quyền thực sự là chính đảng của giai cấp công nhân, thực sự đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động. Đảng phải tập trung, hội tụ được những tinh hoa trí tuệ, phẩm chất của giai cấp, của dân tộc, xứng đáng là đội tiên phong, bộ tham mưu lãnh đạo nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình. Đây là một điều kiện có ý nghĩa cốt lõi đảm bảo quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Tuy nhiên, Đảng phải luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, đổi mới không ngừng để nâng cao uy tín của Đảng đối với nhân dân, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng - Nhân dân, khẳng định vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân.

Thứ ba, cần xây dựng được Nhà nước thật sự “của dân, do dân, vì dân”. Đó là Nhà nước của chính những người lao động, do chính những người lao động cử ra và hoạt động của Nhà nước đó nhằm đảm bảo lợi ích của những người lao động, phục vụ lợi ích của đa số người lao động. Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đồng thời “quy định nhiệm vụ cho tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”[3]. Đội ngũ cán bộ, công chức phải thực sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, xứng đáng là những “công bộc” của dân, có đủ năng lực hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, có phẩm chất trong sạch, không tham ô, tham nhũng, không quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân.

Thứ tư, nhân dân lao động chỉ có quyền lực thực sự khi bản thân những người lao động phải có nhận thức đúng đắn, phải có ý thức và năng lực thực hiện quyền lực của mình nghĩa là phải có “vốn liếng chính trị”. Do vậy, đòi hỏi phải không ngừng nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hóa chính trị của quảng đại quần chúng.

Thứ năm, đẩy mạnh và mở rộng dân chủ hóa đời sống xã hội, nhằm tạo lập được môi trường xã hội thuận lợi, tạo sự “đồng thuận” và “niềm tin” trong xã hội để thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Một môi trường dân chủ thực sự là người dân làm chủ trên thực tế mọi mặt của đời sống xã hội. Trong quá trình mở rộng dân chủ, dân chủ hóa đời sống xã hội, cần kiên quyết đấu tranh chống lại các khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ tư sản, dân chủ hình thức. Dân chủ phải gắn với kỷ cương và trên cơ sở luật pháp.

3. Bầu cử và quyền con người theo quy định của Hiến pháp và pháp luật

Trong lịch sử lập hiến của nhân loại, tư duy về chính trị và vấn đề quyền con người, quyền công dân luôn là nội dung cốt lõi của lịch sử lập hiến. Các quốc gia đều coi quyền con người, quyền công dân là nội dung cơ bản, trụ cột không thể thiếu của Hiến pháp. Trong đó ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền con người là sứ mệnh “thiêng liêng” của Hiến pháp, là mục tiêu, nhiệm vụ của Hiến pháp của mỗi quốc gia. Hiến pháp là “văn bản ủy quyền” của nhân dân cho Nhà nước, trao cho Nhà nước hệ thống quyền lực thực chất của nhân dân, ấn định việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và các nguyên tắc và phương pháp thực thi quyền lực nhà nước cũng như ghi nhận và xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Theo nghĩa đó, một bản Hiến pháp bất luận được thông qua bằng cách thức nào, cũng là cơ sở pháp lý để thiết lập nên Nhà nước, bộ máy nhà nước chứ không phải ngược lại: Nhà nước thiết lập nên Hiến pháp. Càng ngày, vấn đề chính quyền và vấn đề nhân quyền càng gắn bó mật thiết với nhau, tạo nên chế độ chính trị của mối quốc gia hiện đại. Không thể nói rằng, chế độ dân chủ mà lại không bảo đảm nhân quyền, quyền con người, cũng như không có Hiến pháp[4]. Điều 6 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Những quy định trên cho thấy, quyền con người cần phải được ghi nhận, đảm bảo thực hiện trên những nền tảng của chế độ dân chủ và chủ quyền nhân dân. Thiếu vắng dân chủ và chủ quyền nhân dân thì những ghi nhận về quyền con người, quyền bầu cử khó có thể đi vào hiện thực, phát huy giá trị của dân chủ và giá trị xã hội của pháp luật bầu cử trong thực tiễn.

Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân có vai trò quyết định trong việc hình thành nên cơ quan đại diện: Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân - sản phẩm của bầu cử, là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội của đất nước và trong phạm vi từng địa phương “thành phần cơ cấu của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phản ánh tính mặt trận dân tộc thống nhất như Quốc hội mà nền tảng là liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Sự thảo luận tại nghị trường và quyết định tại các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân là hình ảnh “thu nhỏ” của việc chia sẻ và cùng nhau tìm ra những điểm tương đồng của lực lượng, các nhóm xã hội. Khi Quốc hội, Hội đồng nhân dân - cơ quan đại diện của nhân dân quyết định một vấn đề nào đó, điều đó có nghĩa là thay mặt cả nhân dân để quyết định. Do vậy, có thể nói rằng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân - cơ quan đại diện là “bức tranh phản ánh hình ảnh Nhân dân cả nước và ở địa phương”. Những quyết định của cơ quan đại diện là “sự đồng thuận trong đa dạng”, phản ánh ý chí chung của nhân dân.

Bên cạnh đó, pháp luật về bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân có vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của xã hội vào hoạt động bầu cử. Sự tham gia chính trị, sự quan tâm của cử tri đối với việc bầu cử phản ánh bầu không khí chính trị của đất nước, địa phương qua mỗi kỳ bầu cử, thông qua bầu cử, có thể thấy được trách nhiệm, ý thức chính trị của người dân đối với Nhà nước, đây là yếu tố rất quan trọng, mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử và cả hệ thống chính trị - xã hội. Bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân được coi là cơ chế tham gia dân chủ có tính hiện thực của Nhà nước ta. Pháp luật về bầu cử còn là công cụ quan trọng để giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước. Việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đã được quy định ở các điều khoản của Hiến pháp. Mới đây, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 35 và Nghị quyết số 85 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, đây là bước tiến quan trọng về pháp luật bầu cử đại biểu dân cử ở Việt Nam. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân là vấn đề chưa được nghiên cứu, làm rõ cụ thể :

Một là, việc tuyển chọn ứng cử viên là công đoạn rất quan trọng trong một cuộc bầu cử, bởi lẽ đây là giai đoạn “sơ tuyển” trước khi nhân dân trực tiếp lựa chọn. Từ năm 1980 đến nay, pháp luật bầu cử nước ta quy định hiệp thương là thủ tục bắt buộc. Theo Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003, “Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tham gia giám sát việc bầu cử đại Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 6)”. Từ năm 1980 đến nay, hiệp thương chính là hình thức tuyển chọn ứng cử viên trong chế độ bầu cử nước ta. Trừ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946, nhìn chung, số lượng ứng cử viên tự ứng cử không đáng kể; những cuộc bầu cử gần đây, số lượng có tăng lên, nhưng tỉ lệ tự ứng cử trúng cử rất thấp[5]. Như vậy, có thể nói rằng “không gian” cho những người tự ứng cử trong pháp luật bầu cử ở nước ta còn khá chật hẹp.

Hai là, quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu được các Luật bầu cử quy định tổ chức qua ba Hội nghị hiệp thương, nhưng trong các cuộc bầu cử, Mặt trận Tổ quốc thường hướng dẫn quy trình hiệp thương theo năm bước. Các bước hiệp thương vô hình chung làm hạn chế quyền tự do ứng cử, làm giảm ý nghĩa quyền bầu cử trực tiếp của công dân. Quá trình lựa chọn, hiệp thương giới thiệu đại biểu, còn gò ép, nhiều nơi Mặt trận Tổ quốc rất lúng túng, sai sót, bỏ qua quy trình[6]. Trong điều kiện nước ta hiện nay, khi mặt bằng dân trí chưa cao, việc Mặt trận Tổ quốc được giao trọng trách chủ trì công tác hiệp thương để tuyển chọn các ứng cử viên nhằm mục đích đảm bảo tính cân đối về cơ cấu đại biểu trong các giai tầng, các ngành, các giới. Do vậy, rất cần cải tiến mạnh mẽ quy trình hiệp thương giới thiệu ứng viên trong thời gian tới.

Ba là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực bằng pháp luật bầu cử chưa được thực sự chặt chẽ, bắt đầu từ khâu “đầu vào”; nghĩa là, pháp luật bầu cử vẫn còn “khoảng trống” trong việc thẩm định, kiểm tra, đánh giá tư cách ứng cử viên trước khi họ tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Đặc biệt là việc kê khai tài sản, lý lịch tư pháp của ứng cử viên, cơ chế kiểm soát cam kết chính trị của ứng cử viên và đại biểu khi tham gia ứng cử. Đồng thời, quy định về việc “từ chức” của Nghị viên theo quy định của Điều 41, Điều 61 Hiến pháp năm 1946 cũng chưa được kế thừa, nghiên cứu thể chế hóa trong các bản Hiến pháp và Luật bầu cử hiện nay.

4. Một số giải pháp nâng cao nhận thức chính trị, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền con người và kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật bầu cử

Báo cáo chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân. Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra...”[7]. Trong đó cần quan tâm đến các nội dung, giải pháp cơ bản là:

Thứ nhất, vấn đề trao quyền cho cơ quan đại diện của mình (ủy quyền) bằng cách nào? và quyền lực cần được kiểm soát như thế nào? Trước tiên phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Đó không phải là khẩu hiệu, mà phải được thấm sâu trong hệ thống chính trị và trong cộng đồng nhân dân. Người dân phải ý thức rõ ràng và đầy đủ về quan điểm ấy, thường xuyên thể hiện bằng hành động thực tế. Bảo đảm việc lập hiến là của toàn dân “thông qua cử tri toàn quốc”, nhân dân phải trực tiếp quyết định những vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Phải trưng cầu dân ý đối với những vấn đề quan trọng của đất nước.

Thứ hai, kiểm soát bằng chính quyền lực nhà nước: Quyền lực phải được kiểm soát bằng chính quyền lực nhà nước, phương pháp tiếp cận của nước ta lâu nay đối với vấn đề này chưa phải đã tốt, quyền lực nhìn chung chưa được kiểm soát chặt chẽ, trên thực tế, việc lạm dụng quyền lực khá phổ biến. Vì vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực rất cần nghiên cứu một cách thật nghiêm túc; đặc biệt là sự phân công và kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận trong cùng một nhánh, nhất là hành pháp và tư pháp; nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 và hiến định quy định về việc “từ chức” của đại biểu theo tinh thần quy định của Điều 41, Điều 61 Hiến pháp năm 1946.

Thứ ba, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc thực thi rộng rãi quyền dân chủ: Bao gồm hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; thông qua chế độ tranh cử, đề bạt và miễn nhiệm cán bộ; minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tổ chức và cá nhân được giao quyền lực; sự giám sát của công luận, của Nhân dân; tự do tư tưởng và tự do ngôn luận để thể hiện chính kiến của những con người tham gia làm chủ đất nước. Nhân dân có quyền chất vấn, yêu cầu cơ quan nhà nước phải giải trình; có quyền phản đối những việc làm mà nhân dân cho là sai trái; có quyền yêu cầu cán bộ từ chức hoặc bị cách chức… Các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm lắng nghe, điều tra xác minh, tiếp thu, trả lời, giải trình.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế vận động bầu cử: Công tác cán bộ lâu nay, bên cạnh những mặt làm được, nhìn chung trong hệ thống chính trị chưa tuyển chọn và sử dụng được nhân tài. Cách làm công tác cán bộ chủ yếu là sắp đặt theo ý chí và cách tư duy còn nhiều chủ quan của người lãnh đạo. Công tác cán bộ chưa có được một cơ chế khoa học để tuyển chọn và sử dụng được nhân tài, tư tưởng phong kiến còn ảnh hưởng nặng nề và những năm gần đây lại cộng với mặt trái của cơ chế thị trường và sự tha hóa quyền lực. Cần đổi mới mạnh mẽ và căn bản công tác cán bộ theo hướng thật sự tôn trọng ứng cử tự do và đề cử của các tổ chức chính trị - xã hội; người vận động bầu cử phải có chương trình, kế hoạch hành động rõ ràng, đó là “cam kết chính trị” trước cử tri và nhân dân và định kỳ báo cáo trước cử tri và nhân dân về kết quả thực hiện. Đó cũng là cách để nhân dân và đông đảo cán bộ tham gia giám sát quyền lực trong việc giao quyền lực cho cán bộ. Lựa chọn những người có năng lực và bản lĩnh làm đại biểu chân chính và xứng đáng của nhân dân, dám nói tiếng nói trung trực đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhân dân.

Thứ năm, thực hành dân chủ trong bầu cử cần chú trọng: (i) Phải khắc phục tình trạng dân chủ hình thức; (ii) Vừa phải mở rộng dân chủ, vừa phải giữ vững kỷ luật, kỷ cương; (iii) Phải khắc phục triệt để bệnh quan liêu, cửa quyền, hống hách, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, lợi ích nhóm… nhằm củng cố lòng tin của nhân dân; (iv) Hoàn thiện pháp luật bầu cử theo hướng người dân phải thật sự dân chủ, tự do, công bằng trong bầu cử, thực sự tham gia vào việc quản lý nhà nước; (v) Củng cố “niềm tin” và “sự đồng thuận xã hội” thông qua bầu cử dân chủ là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hành dân chủ ở Việt Nam. Xu hướng xã hội càng phát triển, thì nhu cầu dân chủ ngày càng lớn, dân chủ trực tiếp sẽ là xu thế tất yếu trong xã hội hiện đại. Dân chủ, bình đẳng, chống độc quyền trong việc tiếp nhận thông tin là một trong những cách tốt nhất để tạo sự đồng thuận xã hội và phòng ngừa tiêu cực trong bầu cử.

ThS. Đào Đoan Hùng

Ban Dân vận Trung ương



Tài liệu tham khảo:

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 6, tr. 283.

[2]. V.I. Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Matxcova, 1976, tập 33, tr. 223.

[3]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 9, tr. 591.

[4]. Nguyễn Như Phát - Nguyễn Đăng Dung: Quyền con người theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB Lao động xã hội, Hà nội, 2014, tr. 172.

[5]. Ví dụ: Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016, số người tự ứng cử và trúng cử thấp. Cấp tỉnh 02 người= 0,05%. Cấp huyện không có. Cấp xã: 43 người= 0,01%). Trong cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 số người tự ứng cử đạt tỷ lệ: Đại biểu Quốc hội: Đại biểu tự ứng cử: 2 người= 0,4%. Cấp tỉnh: Tự ứng cử đạt = 8,72%. Cấp huyện: Tự ứng cử = 0,2%. Cấp xã: Tự ứng cử = 0,10%).

[6]. PGS. TSKH. Phan Xuân Sơn: Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2003, tr 228- 229.

[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 169, 170.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: