Thứ hai 11/05/2026 19:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bên tách trà xuân, ngẫm về nguyên tắc suy đoán vô tội

Người ta đã bàn đến nhiều nguyên nhân có thể gây ra oan sai. Trong bài viết đầu xuân này, tôi chỉ xin nói một đôi điều về nguyên tắc suy đoán vô tội, mà theo thiển ý của tôi, do sự hiểu biết chưa đầy đủ, chưa đúng về điều cốt lõi của nguyên tắc này từ phía các cán bộ, các cơ quan tiến hành tố tụng là nguyên nhân dẫn đến những oan sai thật đau lòng…

Tôi có một thói quen cuối năm hay lặng ngồi suy ngẫm như là một sự kiểm lại cuộc đời, nghề nghiệp của mình trong mối liên hệ với các sự kiện xảy ra trong nhân tình thế thái. Cuộc đời cũng như nghề nghiệp đều có vui, có buồn. Nghề luật sư là một nghề gắn liền với số phận pháp lý của con người. Số phận đó có thể là một sinh mệnh, một danh dự hay một quyền lợi về tài sản bị xâm hại… Người luật sư vui vì sự cố gắng tận tụy của mình được đền đáp khi quyền lợi hợp pháp của thân chủ mình đã được pháp luật bảo vệ, người kêu oan đã được minh oan, người bị xâm hại về danh dự, tài sản… đã được khôi phục bằng một bản án thấu tình đạt lý. Buồn vì những điều mình nói có căn cứ lại không được Tòa án chấp nhận, nhưng lại không phân tích rõ lý do vì sao, ngoài một câu như là điệp khúc “nghĩ không có căn cứ chấp nhận” và oan sai cũng từ đó mà phát sinh. Người luật sư hành nghề không nhân danh một thứ quyền lực nào mà bằng chính sức mạnh của những lý luận được xây dựng trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan, bằng những kỹ năng hành nghề, với mục đích “phụng sự công lý”, bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như mục tiêu tốt đẹp mà Đảng đã đề ra.

Chúng ta đang cố gắng xây dựng một nền tư pháp trong sạch, nhất là trong tư pháp hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã cố gắng nỗ lực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm qua các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, đến truy tố, xét xử người phạm tội. Sự cố gắng đó đã đạt được những thành tựu nhất định, qua các con số thống kê của Tòa án. Nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, không phải lúc nào công lý cũng được hiển hiện ở chốn pháp đình. Oan sai vẫn còn đó khiến lòng mỗi người có lương tâm và trách nhiệm không khỏi nhức nhối, nhói đau. Những tháng gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng nổi lên vụ án Nguyễn Thanh Chấn, rồi kế tiếp theo đó là những tiếng kêu oan của Hàn Đức Long. Hai vụ án này đều xảy ra ở Bắc Giang, nơi được coi là có thành tích cao nhất trong việc khám phá, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Có thể nói, vụ án Nguyễn Thanh Chấn đã là hồi chuông cảnh báo oan sai có thật, thậm chí có nhiều, đang hiển hiện trong đời sống tư pháp hình sự nước nhà.

Người ta đã bàn đến nhiều nguyên nhân có thể gây ra oan sai. Trong bài viết đầu xuân này, tôi chỉ xin nói một đôi điều về nguyên tắc suy đoán vô tội, mà theo thiển ý của tôi, do sự hiểu biết chưa đầy đủ, chưa đúng về điều cốt lõi của nguyên tắc này từ phía các cán bộ, các cơ quan tiến hành tố tụng là nguyên nhân dẫn đến những oan sai thật đau lòng…

Thực ra nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được công nhận và quy định một cách chính thức trong luật thực định của nước ta, nhưng tinh thần của nó đã được thể hiện trong Điều 72, Chương V, Hiến pháp năm 1992: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Một điều vui mừng là vấn đề “Quyền con người” lần đầu tiên được hiến định trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 vừa được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, với tên gọi của Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội cũng được xác định một cách rõ hơn trong Điều 31 với 5 khoản, trong đó, khoản 1 quy định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Đó là một bước phát triển mới trong việc hiến định quyền con người trong lịch sử lập hiến của Nhà nước ta.

Đã có nhiều bài viết của các luật sư, luật gia và các nhà nghiên cứu pháp luật về nguyên tắc này đề cập đến lịch sử và vị trí, tầm quan trọng của nó trong tố tụng hình sự. Tôi không dám lạm bàn về những điều có ý nghĩa học thuật mà chỉ xin nói một cách nôm na cho gần gũi với đời thường.

Nguyên tắc suy đoán vô tội xác lập nghĩa vụ chứng minh việc phạm tội là thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, các điều tra viên, kiểm sát viên… Bị can, bị cáo có quyền chứ không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội. Vì họ không có nghĩa vụ chứng minh nên họ có quyền im lặng khi bị bắt, bị hỏi cung khi chưa có mặt của luật sư bào chữa cho họ. Tôi hiểu tinh thần của nguyên tắc này là: Khi tạm giữ, khởi tố điều tra, truy tố và xét xử một người bị tình nghi phạm tội, hoặc họ đã trở thành bị can, bị cáo trong vụ án thì trong tâm thức của những người tiến hành tố tụng phải coi họ là người không có tội và thực sự mong muốn họ là người không có tội, nhưng vì những chứng cứ thu thập được là những bằng chứng hoàn toàn chống lại họ, không có bất kỳ một chứng cứ nào cho thấy họ vô tội, nên buộc lòng phải kết luận và quyết định truy tố, xét xử họ về tội đã phạm. Việc kết tội là hệ quả của các bằng chứng rõ ràng về hành vi phạm tội của họ mà không thể nào khác được.

Tiếc rằng, nguyên tắc này lại không được thể hiện một cách đầy đủ, triệt để trong thực tiễn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Những người được phân công các nhiệm vụ này hình như lại bị chi phối bởi một suy nghĩ phải chứng minh cho được người bị tình nghi hoặc bị can, bị cáo đã phạm tội, chứ không phải chứng minh là họ có tội hay không. Từ nhận thức này nên các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đều nhằm mục đích chứng minh việc phạm tội của họ. Khi đã chứng minh được họ phạm tội thì coi như các cán bộ này đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, được tính thành tích, mà lẽ ra, khi bắt, khởi tố điều tra, truy tố và xét xử một người mà xác định người đó không có tội, mới là chỉ số tính thành tích cao nhất, tốt nhất của việc thực thi công lý, vì đã minh oan được cho số phận một con người. Điều này là cốt tử đối với những người đối diện với án tử mà thực ra là họ bị oan sai.

Chính vì không nhận thức đầy đủ nguyên tắc suy đoán vô tội nên một số điều tra viên, vì nôn nóng, bức xúc trước trách nhiệm điều tra được phân công, đã phải dùng đến những biện pháp vi phạm pháp luật tố tụng hình sự như mớm cung, dụ cung, bức cung, thậm chí cả nhục hình chỉ để lấy được lời khai nhận tội của bị can và kết thúc điều tra vụ án. Vì sợ hãi hay vì một lý do nào đó mà những người này buộc phải nhận tội để tránh những biện pháp đau đớn kia và mong muốn ra Tòa sẽ khai đúng sự thật. Nhưng đến Tòa cũng lại vấp phải cái tư duy của người xét xử về nghĩa vụ của bị cáo phải chứng minh là mình đã bị bức cung, nhục hình thì Tòa mới có cơ sở xem xét. Như vậy là tại pháp đình, Tòa án đã buộc bị cáo phải có nghĩa vụ chứng minh lời khai của mình về sự vô tội, trong khi đó, nghĩa vụ chứng minh lại không phải của họ.

Tôi chợt nhớ lần cùng Đoàn đại biểu của Liên đoàn Luật sư Việt Nam sang trao đổi về nghề nghiệp luật sư tranh tụng hình sự với Đại diện Tòa án tối cao Trung Quốc. Khi được hỏi về điều này, vị đại diện này đã mỉm cười và trả lời rất rõ rằng: Tòa án có quyền triệu tập điều tra viên đó đến Tòa để đối chất và anh ta phải có nghĩa vụ chứng minh là đã không bức cung và dùng nhục hình với bị cáo. Phương tiện chứng minh là các băng ghi hình, ghi âm, hoặc các bản cung có chữ ký của luật sư…

Thực tiễn xét xử ở nước ta từ trước đến nay gặp rất nhiều trường hợp hồ sơ vụ án bị Tòa án trả lại để điều tra bổ sung chỉ với lý do chưa đủ căn cứ để kết tội bị cáo. Điều này cho thấy, trong nhận thức của người được phân công xét xử đã coi bị cáo là người có tội, vì cơ quan công tố chưa chứng minh rõ được tội phạm của họ nên phải trả về để điều tra, củng cố thêm chứng cứ. Trong khi về nguyên tắc tố tụng, nếu hồ sơ chưa đủ căn cứ để kết tội, tức là cơ quan công tố đã không chứng minh được tội phạm của bị cáo thì Tòa án phải tuyên xử họ không có tội mới đúng nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh. Viết đến đây, tôi mới hiểu vì sao, ở một số nước tư bản, Tòa án khi xét xử một bị cáo, thấy không chứng minh được việc phạm tội của họ thì tuyên bố “Tội phạm không được thành lập”, chứ không phải tuyên bố là họ vô tội. Suy ra có phải là thế này: Thâm tâm, chúng tôi biết anh có tội đấy, nhưng vì không chứng minh được việc phạm tội của anh nên đành phải tuyên bố “tội phạm không được thành lập” đối với anh đó thôi?

Đầu xuân, trước thềm năm mới, mỗi người chuẩn bị cho mình một tâm thức đón chào cái mới, cái tốt tươi. Dành một vài phút suy ngẫm về những điều đó cũng có ý nghĩa giúp ta nhìn lại những thực trạng đang tồn tại, nói thật với nhau, để cùng nhau khắc phục và đón một mùa xuân vui tươi trong niềm lạc quan phấn khởi về một năm sẽ có nhiều dấu hiệu tốt lành.

Tôi có một niềm tin rằng, thực trạng oan sai đã cất lên tiếng nói ở nghị trường, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội, thì những suy ngẫm tản mạn trên đây của tôi về nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự nước nhà, sẽ có một ý nghĩa nào đó chăng?

Nguyễn Minh Tâm

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: