Thứ tư 15/04/2026 04:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo quy định của pháp luật hiện hành và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết dưới đây sẽ phân tích và nêu rõ các đặc điểm của biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới, thay đổi tên gọi của biện pháp này, góp phần bảo đảm tính hiệu quả của việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

1. Khái niệm biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Bình đẳng giới là việc nam, nữ được ghi nhận và bảo đảm các quyền con người như nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình mà không bị phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính, xu hướng tính dục hay bản dạng giới. Bình đẳng giới được xác định là một trong những tiêu chí căn bản để đánh giá công bằng xã hội cũng như nền văn minh của nhân loại. Vì vậy, bình đẳng giới luôn là vấn đề mang tính thời sự được cộng đồng quốc tế cũng như mỗi quốc gia đặc biệt quan tâm.

Mặc dù đã có nhiều công ước quốc tế về quyền con người quy định rõ về quyền bình đẳng nam, nữ trong các lĩnh vực chính trị, dân sự nhưng trên thực tế, cho đến những năm 70 của thế kỷ XX, tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ vẫn diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Vì vậy, năm 1979, Liên Hợp quốc đã ban hành Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Đây là một văn bản pháp lý quốc tế chuyên biệt về quyền của phụ nữ mà trọng tâm vấn đề được giải quyết là xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ. CEDAW đã nhận diện được nguyên nhân gây ra tình trạng phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng là do có sự phân biệt trên cơ sở giới tính. Công ước xác định rõ, các quốc gia thành viên phải tiến hành tất cả những biện pháp thích hợp kể cả pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa để bảo đảm sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ vì mục đích bảo đảm cho họ thực hiện và được hưởng những quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới[1]. Vì vậy, cho đến nay, CEDAW vẫn được đánh giá là một công ước đầy đủ và toàn diện nhất về quyền con người của phụ nữ. CEDAW không chỉ nhận diện được nguyên nhân gây ra tình trạng phụ nữ không được hưởng đầy đủ các quyền con người trên thực tế mà còn chỉ rõ cách thức mà các quốc gia thành viên phải tiến hành nhằm bảo đảm bình đẳng giới.

Như vậy, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới là cách thức mà các quốc gia tiến hành nhằm đạt được bình đẳng giới. Biện pháp này được xây dựng căn cứ vào thực tế vấn đề bình đẳng giới của mỗi quốc gia. Mặt khác, mỗi quốc gia, tùy theo tình hình thực tế ở mỗi thời kỳ sẽ tiến hành những cách thức phù hợp để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

Là thành viên của nhiều công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có CEDAW, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực chuyển hóa tinh thần của các công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia. Vì vậy, trước khi có Luật Bình đẳng giới, nhiều biện pháp thích hợp đã được Việt Nam cụ thể hóa trong pháp luật và chính sách về bình đẳng giới. Việc áp dụng các biện pháp này đã mang lại những hiệu ứng khá tích cực, quyền của phụ nữ được bảo đảm, vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội được coi trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, định kiến giới vẫn còn tồn tại, sự phát triển của đời sống xã hội trong bối cảnh mới, bạo lực trên cơ sở giới, sự tác động của việc biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường… đã tác động sâu sắc đến bình đẳng giới, kết quả là phụ nữ vẫn chưa được bình đẳng trên thực tế. Với tinh thần đó, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua vào ngày 29/11/2006. Lần đầu tiên, các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới được quy định một cách đầy đủ và hệ thống trong một điều luật cụ thể. Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới bao gồm: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới[2]; biện pháp bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật; biện pháp lồng ghép giới trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới; biện pháp bảo đảm nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới.

Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới có mối liên hệ với nhau, tạo thành một hệ thống các cách thức phải thực hiện để đạt được bình đẳng giới. Vì vậy, để bảo đảm bình đẳng giới phải tiến hành đồng bộ tất cả các biện pháp này. Biện pháp bảo đảm bình đẳng giới theo đó cũng yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình buộc phải thực hiện để đạt được mục tiêu bình đẳng giới.

Biện pháp bảo đảm bình đẳng giới được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích các vấn đề giới, căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam cũng như các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Biện pháp bảo đảm bình đẳng giới có thể thay đổi cho phù hợp với thực trạng bình đẳng giới. Vì vậy, các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới không mang tính bất di, bất dịch mà có thể được xem xét để thay đổi cho phù hợp với thực tế bảo đảm bình đẳng giới.

Là một biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp đặc biệt hay còn gọi là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng thực chất. Theo cách hiểu thông thường, thúc đẩy là việc kích thích tiến lên[3]. Với cách hiểu này, thúc đẩy được xem là việc thực hiện các giải pháp tăng cường nhằm bảo đảm cho kết quả của một hoạt động cụ thể sẽ tốt như mong đợi. Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ, thúc đẩy bình đẳng giới được hiểu là việc tăng cường các giải pháp để đạt được bình đẳng giới.

Dưới góc độ khoa học về giới, các nhà nghiên cứu về giới cho rằng, giới chỉ đặc điểm xã hội của nam và nữ. Giới mang tính tập nhiễm, do học hỏi, bắt chước mà có nhưng các khuôn mẫu giới được hình thành xuất phát từ chính sự khác biệt về giới tính. Vì vậy, sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới cũng hình thành các khuôn mẫu giới. Khuôn mẫu giới là sự khái quát hóa giản đơn về đặc điểm, tính cách, vai trò của các cá nhân hoặc nhóm người dựa trên giới tính của họ[4]. Khuôn mẫu giới có ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới. Bởi vì, các khuôn mẫu giới mang định kiến giới sẽ làm cho nam, nữ không được bình đẳng thực sự như những gì mà pháp luật ghi nhận. Từ đó, các nhà nghiên cứu về giới đã đặt nền tảng về mặt lý luận để giải quyết các vấn đề giới một cách khoa học. Quan điểm Giới và phát triển (GAD) là một phương pháp tiếp cận, theo đó, quan điểm GAD giải quyết vấn đề giới trong mối tương quan giữa nam và nữ mà không chỉ xem xét và giải quyết vấn đề phụ nữ một cách riêng biệt. GAD xem phụ nữ như là chủ thể của quá trình biến đổi mà không coi phụ nữ như nhóm đối tượng thụ hưởng bị động. Phương thức thực hiện là thông qua trao quyền, tăng cường sức mạnh nội tại của phụ nữ, thực hiện năng lực cải tạo xã hội của phụ nữ. Vì vậy, GAD coi trọng việc tạo điều kiện, cơ hội cho nam hoặc nữ để bảo đảm rằng, nam, nữ thực sự được bình đẳng về vị trí, vai trò, cơ hội trên thực tế. Với cách tiếp cận này, để bảo đảm bình đẳng thực chất, khi có sự chênh lệch lớn về khoảng cách, việc áp dụng biện pháp cần thiết để tăng cường cơ hội cho nam hoặc nữ nhằm thu hẹp khoảng cách giới để bảo đảm bình đẳng giới trên thực tế là điều cần phải đặt ra. Đây cũng là phương châm để các nhà hoạch định chính sách cần quan tâm để giải quyết tốt các vấn đề giới.

Như vậy, dưới góc độ giới, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được hiểu như một phương pháp tiếp cận để giải quyết triệt để vấn đề bất bình đẳng giới nhằm tạo ra cơ hội để nam hoặc nữ tham gia một cách bình đẳng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Dưới góc độ pháp lý, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được hiểu là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được[5]. Với cách giải thích này, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được quy định trong pháp luật là nhằm mục đích bảo đảm bình đẳng giới thực chất, biện pháp này chỉ được áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện được quy định trong pháp luật và chỉ được áp dụng đến khi khoảng cách giới được thu hẹp. Do vậy, đây còn gọi là biện pháp đặc biệt tạm thời. Bởi vì, biện pháp này sẽ bị gỡ bỏ khi không còn sự chênh lệch lớn về khoảng cách giữa nam và nữ về cơ hội và sự thụ hưởng.

Như vậy, có thể định nghĩa biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới như sau: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp bảo đảm bình đẳng giới nhằm tăng cơ hội cho nam hoặc nữ để thu hẹp khoảng cách giới, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này.

2. Đặc điểm của biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Thứ nhất, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp bảo đảm bình đẳng thực chất. Bởi vì, biện pháp này tiếp cận và giải quyết vấn đề giới theo mô hình bình đẳng thực chất. Áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới thì vấn đề giới mới được giải quyết một cách triệt để. Vì biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới yêu cầu phải xây dựng các quy phạm pháp luật và nhóm chính sách thể hiện tính “ưu đãi” khi cần thiết để thu hẹp khoảng cách giới. Do đó, nam và nữ mới được bình đẳng trên thực tế.

Thứ hai, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp bảo đảm bình đẳng giới do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là tạo ra “sự phân biệt đối xử”, bởi vì, để thu hẹp khoảng cách giới thì phải xây dựng nhóm chính sách “ưu đãi” cho nam hoặc nữ. Vì thế, một trong những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới đã nêu rõ, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới “không bị coi là phân biệt đối xử về giới”. Như vậy, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới phải do cơ quan có thẩm quyền ban hành, các cơ quan, tổ chức không được tự ý quy định việc áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Ví dụ, hiện nay, Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định, áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, trên cơ sở này, các chính sách ưu đãi nhằm rút ngắn khoảng cách giới sẽ được cơ quan có thẩm quyền ban hành phù hợp với quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức không có thẩm quyền không được phép tự ý xây dựng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

Thứ ba, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp chỉ được áp dụng khi thỏa mãn điều kiện cần thiết được pháp luật quy định. Theo quy định của pháp luật hiện hành, biện pháp này chỉ được áp dụng khi có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò và sự thụ hưởng mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch đó. Mục đích của việc áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là nhằm bảo đảm bình đẳng giới trên thực tế. Vì vậy, khi pháp luật ghi nhận quyền bình đẳng cho nam và nữ trên mọi phương diện nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trên thực tế, các quyền đó không được bảo đảm thực hiện đối với một nhóm, tạo ra sự chênh lệch lớn về khoảng cách đối với nhóm kia. Do đó, về nguyên tắc, để bảo đảm bình đẳng giới, nhóm chưa đạt được bình đẳng giới sẽ được tạo điều kiện, cơ hội để thực hiện các quyền của mình nhằm thu hẹp khoảng cách giới. Vì vậy, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới chỉ được áp dụng khi thỏa mãn điều kiện cần thiết mà pháp luật quy định là có sự chênh lệch lớn về khoảng cách giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, cơ hội và sự thụ hưởng. Do đó, khi không có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò và sự thụ hưởng thì không được áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

Thứ tư, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp đặc biệt tạm thời, khi khoảng cách giới được thu hẹp, mục tiêu bình đẳng giới đạt được thì biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới sẽ được gỡ bỏ. Bởi vì, xét về tính chất, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp thể hiện tính ưu đãi. Áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới sẽ tạo ra nhóm chính sách mang tính ưu đãi, việc ưu đãi có thể đặt ra với nhóm nam hoặc nhóm nữ nhằm thu hẹp khoảng cách giới. Do đó, khi khoảng cách giới đã được thu hẹp mà vẫn tiếp tục áp dụng thì lại tạo ra bất bình đẳng giới. Vì vậy, khi khoảng cách giới được thu hẹp, mục đích bình đẳng giới đã đạt được, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, xét về tính chất cũng thể hiện tính ưu đãi, tuy nhiên, khác với các quy phạm và nhóm chính sách có tính ưu đãi được sử dụng để thực hiện chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ. Bởi vì, tính ưu đãi trong biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới có thể đặt ra đối với nam hoặc nữ, tùy thuộc khoảng cách giới chênh lệch đang tạo ra bất lợi cho nhóm nào trong việc thực thi quyền. Tuy nhiên tính ưu đãi của chính sách bảo vệ, hỗ trợ người mẹ thì chỉ đặt ra đối với phụ nữ. Mặt khác, việc ưu đãi trong chính sách bảo vệ hỗ trợ người mẹ là giải pháp dài hạn mà không có tính chất là biện pháp đặc biệt tạm thời như biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Cần phân biệt để nhận diện rõ, tránh nhầm lẫn đối với các nhóm chính sách ưu đãi thuộc biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới và nhóm chính sách ưu đãi nhằm bảo vệ, hỗ trợ người mẹ.

3. Kiến nghị

Có thể nói, việc áp dụng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong trường hợp cần thiết có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc bảo đảm bình đẳng giới. Khác với các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới khác, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp được sử dụng để tăng cường việc trao cơ hội cho nam hoặc nữ nhằm bảo đảm cho quyền của họ được thực hiện. Khác với các giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, cách thức thực hiện nhằm trao quyền cho nam hoặc nữ trong khuôn khổ của biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới luôn hướng sự “ưu tiên” vào nhóm nam hoặc nhóm nữ để đạt được sự bình đẳng trên thực tế. Do đó, cần phân biệt rõ các khái niệm thúc đẩy bình đẳng giới, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới để tránh sự nhầm lẫn.

Thúc đẩy bình đẳng giới được hiểu là tổng hợp mọi hoạt động mà các chủ thể trong phạm vi quyền hạn của mình phải tiến hành để bảo đảm bình đẳng giới. Theo nghĩa này, việc thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm việc thực hiện mọi biện pháp, trong đó có biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới cũng là một biện pháp bảo đảm bình đẳng giới. Tuy nhiên, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là một biện pháp đặc biệt. Bởi vì, đây là một biện pháp chỉ được áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện được quy định trong pháp luật và việc áp dụng biện pháp này xét về tính chất là tăng cường cơ hội cho nam hoặc nữ nhằm thu hẹp khoảng cách giới. Tuy nhiên, trong nghiên cứu về bình đẳng giới, việc sử dụng thuật ngữ “biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới” dễ dẫn đến việc đồng nhất khái niệm “thúc đẩy bình đẳng giới” với “biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới”. Điều này dẫn đến cách hiểu không chính xác về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

Vì vậy, tác giả cho rằng, việc sử dụng thuật ngữ “biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới” với tư cách là một biện pháp bảo đảm bình đẳng giới được quy định trong pháp luật hiện hành dễ dẫn đến sự nhầm lẫn trong nghiên cứu, phát hiện cũng như thi hành, áp dụng pháp luật về bình đẳng giới. Bởi vì, tên gọi này dễ gây nhầm lẫn giữa việc thực hiện trong nhiều trường hợp sự đánh đồng về mặt ngôn ngữ sẽ dẫn đến việc hiểu không chính xác về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Ví dụ, việc áp dụng biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới thực chất cũng sẽ thúc đẩy vấn đề bình đẳng giới. Bởi vì, sự thay đổi về nhận thức sẽ giúp các cá nhân thay đổi về hành vi ứng xử và hành động có trách nhiệm giới. Tuy nhiên, thúc đẩy bình đẳng giới theo nghĩa này không thể hiểu đó là thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Vì theo pháp luật, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới chỉ được áp dụng như là một biện pháp đặc biệt tạm thời, mặt khác, khi biện pháp này được áp dụng thì sẽ tạo ra các chính sách ưu tiên cho nhóm nam hoặc nhóm nữ nhằm thu hẹp khoảng cách giới.

Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, cần sử dụng thuật ngữ chính xác hơn để gọi đúng tên của biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, với ý nghĩa là một biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất được quy định trong pháp luật để tránh sự nhầm lẫn trong nghiên cứu, áp dụng pháp luật, tạo cơ sở để thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới một cách hiệu quả. Theo quan điểm của tác giả, cần sử dụng thuật ngữ “biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng giới” thay cho “biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới” được quy định trong Luật Bình đẳng giới năm 2006. Việc thay đổi này sẽ khắc phục được những tồn tại nêu trên, bảo đảm sự thuận tiện trong việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề về giới, góp phần thu hẹp khoảng cách giới, thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới./.

TS. Bùi Thị Mừng

Khoa Pháp luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội

[1]. Điều 3 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.

[2]. Điều 19 Luật Bình đẳng giới năm 2006.

[3]. Viện Ngôn ngữ, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa, 2009, tr. 802.

[4]. Tài liệu Hướng dẫn về bình đẳng giới cho các ấn phẩm của UNESCO, 2012.

[5]. Khoản 6 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: