Thứ năm 16/04/2026 12:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.

Abstract: In the context of international integration and the increasing number of cross border marriages, resolving conflicts of law regarding marriage conditions is becoming increasingly urgent. This article researches, analyzes, and evaluates current regulations on determining the applicable law for marriage conditions involving foreign elements according to the principle of nationality law (lex patriae). Through this, it identifies some shortcomings and proposes solutions to improve the law in order to enhance the effectiveness of implementing this principle in Vietnam today.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự gia tăng mạnh mẽ của các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đã dẫn đến những hệ quả tất yếu về xung đột pháp luật[1]. Việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh điều kiện kết hôn không chỉ là vấn đề kỹ thuật pháp lý, mà còn là tiền đề bảo đảm tính hợp pháp và khả năng công nhận hiệu lực của hôn nhân trên bình diện quốc tế.

Theo khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Việt Nam áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch để xem xét điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, nguyên tắc này đang bộc lộ những hạn chế đối với hai nhóm đối tượng đặc thù: người đăng ký kết hôn không quốc tịch và người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch nước ngoài. Việc áp dụng nguyên tắc bổ trợ về “mối liên hệ gắn bó nhất” cho các trường hợp trên chưa có hướng dẫn chi tiết, gây khó khăn cho các cơ quan thực thi. Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

1. Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”. Đây là căn cứ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền công nhận tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân.

Nguyên tắc luật quốc tịch không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc gia, mà còn được khẳng định trong các điều ước quốc tế. Hầu hết các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết đều áp dụng nguyên tắc này để xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn, nhằm tạo sự đồng bộ trong công nhận hiệu lực hôn nhân giữa các quốc gia thành viên. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Lào năm 1998 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân các nước ký kết, mỗi bên đương sự phải tuân theo điều kiện kết hôn quy định trong pháp luật của nước ký kết mà họ là công dân”. Tương tự, khoản 2 Điều 31 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Hungary năm 1985 quy định: “Điều kiện kết hôn đối với mỗi bên nam, nữ được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch vào thời điểm kết hôn”. Khoản 2 Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Ba Lan năm 1993 cũng khẳng định: “Về điều kiện kết hôn, mỗi bên đương sự phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân”.

Trong mối tương quan với pháp luật quốc tế, nguyên tắc luật quốc tịch cũng được nhiều quốc gia ghi nhận để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn. Điển hình, tại Indonesia, Điều 16 AB[2] quy định việc đáp ứng các điều kiện kết hôn của quan hệ hôn nhân dựa trên nguyên tắc luật quốc tịch. Theo đó, các yêu cầu cơ bản để kết hôn phải tuân theo luật quốc tịch của cặp đôi kết hôn, với điều kiện là luật quốc gia nơi diễn ra cuộc hôn nhân không có quy định khác[3].

Tương tự, tại Nhật Bản, Luật Dân sự quốc tế, được quy định trong Luật Xung đột pháp luật của Nhật Bản, trước đây gọi là Horei[4], nay là Đạo luật về các quy tắc chung về áp dụng luật pháp - AGRAL cũng quy định tại Điều 24, việc kết hôn của mỗi bên được áp dụng theo luật quốc tịch[5]. Tại Trung Quốc, Điều 21 Luật áp dụng đối với các mối quan hệ pháp lý dân sự có yếu tố nước ngoài của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định: Luật quốc tịch chung chỉ là một trong các phương án được ưu tiên sau luật nơi thường trú chung[6]. Cụ thể, tính hợp lệ về nội dung của hôn nhân trước hết được điều chỉnh bởi luật của nơi thường trú chung của các bên; nếu không có nơi thường trú chung thì áp dụng luật quốc tịch chung; nếu không có quốc tịch chung thì áp dụng luật nơi tổ chức hôn lễ (với điều kiện đây là nơi thường trú của một trong các bên hoặc quốc gia mà một trong các bên mang quốc tịch). Trong trường hợp không đáp ứng các điều kiện thay thế nêu trên, nguyên tắc “kết nối chặt chẽ nhất” sẽ được áp dụng để xác định tính hợp lệ của hôn nhân[7].

Tuy nhiên, khác với cách tiếp cận dựa trên quốc tịch của các quốc gia nêu trên, hệ thống Thông luật (Common Law), điển hình, tại Anh ưu tiên nguyên tắc “nơi cư trú”. Theo đó, năng lực kết hôn của mỗi bên được điều chỉnh bởi pháp luật của quốc gia nơi người đó cư trú hợp pháp ngay trước khi kết hôn. Cuộc hôn nhân chỉ được công nhận là hợp lệ nếu cả hai bên đều đáp ứng đầy đủ năng lực hành vi theo hệ thống pháp luật nơi cư trú tương ứng của mình (yêu cầu cuộc hôn nhân phải hợp pháp theo luật của cả hai quốc gia nơi hai bên nam nữ thường trú trước khi cưới)[8].

Nhằm cân bằng sự khác biệt, Công ước về tổ chức kết hôn và công nhận hiệu lực của kết hôn[9] đưa ra những quy tắc mang tính đa phương. Theo đó, điều kiện nội dung của hôn nhân được thừa nhận nếu các bên đáp ứng yêu cầu của pháp luật quốc gia nơi tổ chức hôn lễ và ít nhất một bên có quốc tịch hoặc cư trú thường trú tại đó hoặc đáp ứng các quy định của hệ thống pháp luật được chỉ định bởi quy tắc chọn luật của quốc gia nơi tổ chức.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật Việt Nam có sự tương đồng với các quốc gia theo hệ thống Dân luật (Civil Law như Pháp, Ý, Đức, Nhật Bản và Indonesia) khi cùng đề cao nguyên tắc luật quốc tịch để xác định năng lực kết hôn. Đây là nguyên tắc được ưu tiên trong Công ước La Hay và ghi nhận trong các hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam là thành viên. Điểm khác biệt lớn nhất ở sự đối lập với hệ thống Thông luật (như Anh, Mỹ) vốn coi trọng nơi cư trú hoặc cách tiếp cận linh hoạt nhiều nguyên tắc của Trung Quốc khi đặt nơi thường trú chung trước quốc tịch. Trong khi Việt Nam duy trì sự thống nhất giữa luật trong nước và các điều ước quốc tế về nguyên tắc luật quốc tịch, thì sự tồn tại song song của nguyên tắc nơi cư trú tại các nước theo hệ thống Thông luật vẫn tạo ra những khác biệt trong giải quyết xung đột pháp luật.

2. Một số bất cập trong xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, theo đó, mỗi bên phải tuân thủ theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn. Tuy nhiên, người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch hay có nhiều quốc tịch nước ngoài gây ra những vướng mắc nhất định trong xác định pháp luật áp dụng theo nguyên tắc luật quốc tịch. Cụ thể:

Thứ nhất, người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch[10].

Khoản 1 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất”. Như vậy, nếu người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch thì luật áp dụng cho vấn đề điều kiện kết hôn được lựa chọn theo nguyên tắc luật nơi cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, nguyên tắc luật nơi cư trú không thể áp dụng nếu cơ quan có thẩm quyền giải quyết không thể xác định được nơi người không quốc tịch cư trú hoặc người không quốc tịch có nhiều nơi cư trú. Khi đó, nguyên tắc luật nơi có mối liên hệ gắn bó nhất sẽ được áp dụng. Đây là cơ chế dự phòng linh hoạt nhằm khắc phục sự thiếu hụt quy phạm khi xác định pháp luật áp dụng[11]. Dù vậy, trên thực tế, nguyên tắc này vẫn gây ra những trở ngại nhất định trong quá trình áp dụng, bởi hiện, pháp luật chưa làm rõ nội hàm của thuật ngữ “mối liên hệ gắn bó nhất”.

Thứ hai, người đăng ký kết hôn là người có nhiều quốc tịch nước ngoài.

Khoản 2 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất”. Ví dụ: Anh A (có hai quốc tịch Pháp và Hà Lan) kết hôn với chị B (công dân Việt Nam) tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Theo khoản 2 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật áp dụng xem xét điều kiện kết hôn của anh A được xác định như sau: Nếu anh A cư trú tại một trong hai quốc gia mình có quốc tịch (Pháp hoặc Hà Lan), pháp luật của nước nơi anh A đang cư trú sẽ được áp dụng; nếu anh A cư trú tại một quốc gia khác hoặc có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật của quốc gia mà anh A có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất (Pháp hoặc Hà Lan).

Như vậy, tương tự trường hợp người không quốc tịch, pháp luật Việt Nam đã thiết lập nguyên tắc chung và các nguyên tắc bổ sung cho trường hợp người mang nhiều quốc tịch nước ngoài. Cách tiếp cận “kết hợp” nhiều nguyên tắc chọn luật như “quốc tịch và cư trú” hoặc “quốc tịch và nơi có mối liên hệ gắn bó nhất” thể hiện sự linh hoạt của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiết lập nguyên tắc “mối liên hệ gắn bó nhất” cũng gây ra những khó khăn trong xác định pháp luật nước nào sẽ được áp dụng tương tự như khoản 1 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, pháp luật nước nào được xem là gắn bó nhất sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp, hoàn cảnh, loại quan hệ mà cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định[12].

Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam cho thấy, mặc dù hệ thống quy phạm lựa chọn luật đã được thiết lập, nhưng trong trường hợp không xác định được nội dung pháp luật nước ngoài hoặc khi pháp luật áp dụng trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, các cơ quan có thẩm quyền thường có xu hướng viện dẫn pháp luật Việt Nam. Việc ưu tiên áp dụng nội luật có thể mang lại sự thuận tiện và bảo đảm tính an toàn pháp lý cho cơ quan thực thi trong giải thích, song, vô tình làm cho các quy phạm xung đột trở thành những quy định mang tính hình thức.

3. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật

Nguyên tắc luật quốc tịch có một số ưu điểm nhất định trong xác định các vấn đề nhân thân, giúp tăng tính dự báo và bảo đảm sự ổn định của hệ thống pháp luật được dẫn chiếu, từ đó, bảo đảm an toàn pháp lý[13] cho đương sự. Hơn nữa, việc áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch góp phần thể hiện trách nhiệm bảo hộ pháp lý của Nhà nước đối với công dân của mình trên bình diện quốc tế. Tuy nhiên, nguyên tắc này tồn tại một số hạn chế trong trường hợp: người đăng ký kết hôn không quốc tịch; người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch nước ngoài.

Do đó, việc áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch cần được xem xét linh hoạt, kết hợp với các nguyên tắc “chọn luật” khác để bảo đảm công bằng và hiệu quả trong giải quyết các vấn đề pháp lý quốc tế. Với tinh thần đó, Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 giúp xác định pháp luật áp dụng đối với các trường hợp ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch. Nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” sẽ bổ khuyết khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, nguyên tắc luật nơi cư trú hoặc nguyên tắc luật quốc tịch kết hợp nguyên tắc luật nơi cư trú gặp khó khăn. Tuy nhiên, hiện, pháp luật Việt Nam chưa có quy định giải thích thuật ngữ “có mối liên hệ gắn bó nhất”, gây khó khăn trong xác định hệ thống pháp luật áp dụng, chưa bảo đảm tính minh bạch, dễ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quá trình thực thi của cơ quan có thẩm quyền[14]. Nhằm giải quyết vấn đề này, pháp luật cần nghiên cứu, sắp xếp các yếu tố kết nối theo thứ tự ưu tiên: quốc tịch, nơi cư trú, nơi đăng ký kết hôn. Cụ thể:

Thứ nhất, trong ngắn hạn. Để xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, cần tập trung giải thích và vận dụng quy định sẵn có của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, cần sớm có văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 về xác định pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có mối liên hệ gắn bó nhất, trong lĩnh vực kết hôn:

- Đối với trường hợp người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch: khi pháp luật dẫn chiếu áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch nhưng người đó là người không quốc tịch, thì áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Nếu người đăng ký kết hôn có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn, thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có mối liên hệ gắn bó nhất. Theo đó, pháp luật của nước nơi đăng ký kết hôn được xác định là hệ thống pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất.

- Đối với trường hợp người đăng ký kết hôn là người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài: khi pháp luật dẫn chiếu đến áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch nhưng người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch mà trong đó không có quốc tịch Việt Nam, thì áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch và cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Nếu người đăng ký kết hôn có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm đăng ký kết hôn, thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất. Theo đó, pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất với người đăng ký kết hôn là pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn. Trường hợp, nước nơi tiến hành kết hôn khác với nước mà cá nhân có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn.

Thứ hai, trong dài hạn. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, việc hoàn thiện quy định pháp luật về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn trở nên cần thiết. Do đó, pháp luật cần nghiên cứu khả năng kết hợp linh hoạt và có thứ tự ưu tiên các nguyên tắc sau trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: (i) Nguyên tắc luật quốc tịch: ưu tiên áp dụng pháp luật của quốc gia mà mỗi bên chủ thể mang quốc tịch để xác định các điều kiện kết hôn; (ii) Nguyên tắc luật nơi cư trú: trong trường hợp các bên có quốc tịch khác nhau nhưng có cùng một nơi cư trú ổn định hoặc khi áp dụng luật quốc tịch gặp khó khăn, có thể xem xét áp dụng pháp luật của quốc gia nơi họ cùng cư trú; (iii) Nguyên tắc luật nơi tiến hành kết hôn: áp dụng pháp luật của quốc gia nơi tiến hành kết hôn để xác định pháp luật áp dụng đối với trường hợp áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú gặp khó khăn[15].

Việc xác lập thứ tự ưu tiên giữa các nguyên tắc “chọn luật” tạo sự linh hoạt cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xác định pháp luật điều chỉnh điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, nhằm khắc phục tính gián tiếp và phức tạp khi phải áp dụng quy định chung của Bộ luật Dân sự cho một tình huống pháp lý cụ thể; đồng thời, cung cấp khung pháp lý minh bạch, có tính dự báo cao. Qua đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được hiệu quả hơn, góp phần ổn định các quan hệ kết hôn xuyên quốc gia.

Kết luận

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề phức tạp, đòi hỏi tính linh hoạt và bao quát. Pháp luật Việt Nam đã thiết lập hệ thống nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đa dạng (luật quốc tịch, luật nơi đăng ký kết hôn, luật nơi cư trú và luật có mối liên hệ gắn bó nhất) nhằm thích ứng với nhiều tình huống, kể cả trường hợp người không quốc tịch hoặc đa quốc tịch. Việc áp dụng nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” như một phương án cuối cùng thể hiện sự tôn trọng quyền “chọn luật” và giảm thiểu sự áp đặt áp dụng pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, để áp dụng nguyên tắc này hiệu quả, cần giải thích rõ về nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” nhằm tránh áp dụng không thống nhất. Do đó, pháp luật cần bổ sung quy định giải thích nguyên tắc này và nghiên cứu, sửa đổi quy định về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014./.

ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Lê Thị Nam Giang (Chủ biên), Nguyễn Lê Hoài, Phan Hoài Nam (2022), Tư pháp quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 111.

[2]. Các quy định pháp lý chung cho Đông Ấn thuộc Hà Lan (tên gốc: Algemene Bepalingen van Wetgeving voor Nederlands Indië, tiếng Anh: General Legislative Provisions for the Dutch East Indies, gọi tắt là AB).

[3]. Allagan, T. (2015), Foreign PIL-Developments in Indonesia: The Bill on Indonesian Private International Law, Nederlands Internationaal Privaatrecht, 215(5), 390-403, tr. 392.

[4]. Đạo luật số 10 năm 1898, sửa đổi, bổ sung bởi Đạo luật số 78 ngày 21/6/2006 về các quy tắc chung về áp dụng luật pháp (AGRAL).

[5]. Sugiastuti, N. Y., Rudyanto, B., & Dancar, A. (2025), International Civil Law Aspects of International Marriage: A Comparative Perspective of Indonesian and Japanese Law, Jambura Law Review,7(1), 105-126, tr. 112.

[6]. Vanhullebusch, M. (2016), Private International Law in China, Guangjian Tu, tr. 56.

[7]. Tu, G. (2016), Private international law in China (Vol. 102), Singapore: Springer, tr. 56.

[8]. Mayss, A. J. (1999), Principles of conflict of laws (3rd ed.), Cavendish Publishing Limited, tr. 216.

[9]. Công ước về tổ chức kết hôn và công nhận hiệu lực của kết hôn (Convention on Celebration and Recognition of the Validity of Marriages) là văn kiện pháp lý quốc tế đa phương thuộc hệ thống của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế (Hague Conference on Private International Law - HCCH).

[10]. Khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2025 (Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008) quy định: “Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”. Như vậy, có thể hiểu, người không quốc tịch là người không được bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận là công dân của quốc gia đó.

[11]. Xu, Q. (2017), The Codification of Conflicts Law in China: A Long Way to Go, The American Journal of Comparative Law,65(4), 919-962, tr. 934.

[12]. Trần Minh Ngọc (Chủ biên), Bùi Thị Thu, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Đức Việt, Lê Thị Bích Thủy (2018), Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, tr. 139.

[13]. Winter, L. I. (1969), Nationality or domicile? The present state of affairs, Recueil des Cours de l’Académie de Droit International de La Haye,128(III), 347-504, tr. 404.

[14]. Chung, C. (2016), The Easier Way to Have Better Law: The Most-Significant Relationship Doctrine as the Fallback Conflict-of-Law Rule in the People’s Republic of China, Braz. J. Int’l L.,13, 308.

[15]. Ngô Quốc Chiến (Chủ biên), Lý Vân Anh, Hoàng Ngọc Bích (2018), Luật Tư pháp quốc tế hướng đến mô hình lập pháp ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 268.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Allagan, T. (2015), Foreign PIL Developments in Indonesia: The Bill on Indonesian Private International Law, Nederlands Internationaal Privaatrecht, 215(5).

2. Baty, T. (1917), Capacity and Form of Marriage in the Conflict of Laws, The Yale Law Journal, 26(6), 444-463.

3. Chung, C. (2016), The Easier Way to Have Better Law: The Most Significant-Relationship Doctrine as the Fallback Conflict-of-Law Rule in the People’s Republic of China, Braz. J. Int’l L.,13, 308.

4. Lê Thị Nam Giang (Chủ biên), Nguyễn Lê Hoài, Phan Hoài Nam (2022), Tư pháp quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Mayss, A. J. (1999), Principles of conflict of laws (3rd ed.), Cavendish Publishing Limited.

6. Ngô Quốc Chiến (2022), Pháp luật Liên minh châu Âu về xác định pháp luật áp dụng dựa trên nguyên tắc “mối liên hệ gắn bó nhất” và gợi mở cho Việt Nam, https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/211071/Phap-luat-Lien-minh-chau-Au-ve-xac-dinh-luat-ap-dung-dua-tren-nguyen-tac-moi-lien-he-gan-bo-nhat-va-goi mo-cho-Viet-Nam.html, truy cập ngày 10/01/2026.

7. Ngô Quốc Chiến (Chủ biên), Lý Vân Anh, Hoàng Ngọc Bích (2018), Luật Tư pháp quốc tế hướng đến mô hình lập pháp ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

8. Nguyễn Mai Linh (2022), Giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

9. Sugiastuti, N. Y., Rudyanto, B., & Dancar, A. (2025), International Civil Law Aspects of International Marriage: A Comparative Perspective of Indonesian and Japanese Law, Jambura Law Review,7(1), 105-126.

10. Trần Minh Ngọc (Chủ biên), Bùi Thị Thu, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Đức Việt, Lê Thị Bích Thủy (2018), Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động.

11. Tu, G. (2016), Private international law in China (Vol. 102), Singapore: Springer.

12. Vanhullebusch, M. (2016), Private International Law in China, Guangjian Tu.

13. Winter, L. I. (1969), Nationality or domicile? The present state of affairs, Recueil des Cours de l’Académie de Droit International de La Haye,128(III), 347-504.

14. Xu, Q. (2017), The Codification of Conflicts Law in China: A Long Way to Go, The American Journal of Comparative Law,65(4), 919-962.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (446) tháng 2/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: