Thứ bảy 09/05/2026 21:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.

Abstract: In the context of international integration and the increasing number of cross border marriages, resolving conflicts of law regarding marriage conditions is becoming increasingly urgent. This article researches, analyzes, and evaluates current regulations on determining the applicable law for marriage conditions involving foreign elements according to the principle of nationality law (lex patriae). Through this, it identifies some shortcomings and proposes solutions to improve the law in order to enhance the effectiveness of implementing this principle in Vietnam today.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự gia tăng mạnh mẽ của các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đã dẫn đến những hệ quả tất yếu về xung đột pháp luật[1]. Việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh điều kiện kết hôn không chỉ là vấn đề kỹ thuật pháp lý, mà còn là tiền đề bảo đảm tính hợp pháp và khả năng công nhận hiệu lực của hôn nhân trên bình diện quốc tế.

Theo khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Việt Nam áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch để xem xét điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, nguyên tắc này đang bộc lộ những hạn chế đối với hai nhóm đối tượng đặc thù: người đăng ký kết hôn không quốc tịch và người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch nước ngoài. Việc áp dụng nguyên tắc bổ trợ về “mối liên hệ gắn bó nhất” cho các trường hợp trên chưa có hướng dẫn chi tiết, gây khó khăn cho các cơ quan thực thi. Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

1. Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”. Đây là căn cứ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền công nhận tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân.

Nguyên tắc luật quốc tịch không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc gia, mà còn được khẳng định trong các điều ước quốc tế. Hầu hết các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết đều áp dụng nguyên tắc này để xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn, nhằm tạo sự đồng bộ trong công nhận hiệu lực hôn nhân giữa các quốc gia thành viên. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Lào năm 1998 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân các nước ký kết, mỗi bên đương sự phải tuân theo điều kiện kết hôn quy định trong pháp luật của nước ký kết mà họ là công dân”. Tương tự, khoản 2 Điều 31 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Hungary năm 1985 quy định: “Điều kiện kết hôn đối với mỗi bên nam, nữ được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch vào thời điểm kết hôn”. Khoản 2 Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Ba Lan năm 1993 cũng khẳng định: “Về điều kiện kết hôn, mỗi bên đương sự phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân”.

Trong mối tương quan với pháp luật quốc tế, nguyên tắc luật quốc tịch cũng được nhiều quốc gia ghi nhận để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn. Điển hình, tại Indonesia, Điều 16 AB[2] quy định việc đáp ứng các điều kiện kết hôn của quan hệ hôn nhân dựa trên nguyên tắc luật quốc tịch. Theo đó, các yêu cầu cơ bản để kết hôn phải tuân theo luật quốc tịch của cặp đôi kết hôn, với điều kiện là luật quốc gia nơi diễn ra cuộc hôn nhân không có quy định khác[3].

Tương tự, tại Nhật Bản, Luật Dân sự quốc tế, được quy định trong Luật Xung đột pháp luật của Nhật Bản, trước đây gọi là Horei[4], nay là Đạo luật về các quy tắc chung về áp dụng luật pháp - AGRAL cũng quy định tại Điều 24, việc kết hôn của mỗi bên được áp dụng theo luật quốc tịch[5]. Tại Trung Quốc, Điều 21 Luật áp dụng đối với các mối quan hệ pháp lý dân sự có yếu tố nước ngoài của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định: Luật quốc tịch chung chỉ là một trong các phương án được ưu tiên sau luật nơi thường trú chung[6]. Cụ thể, tính hợp lệ về nội dung của hôn nhân trước hết được điều chỉnh bởi luật của nơi thường trú chung của các bên; nếu không có nơi thường trú chung thì áp dụng luật quốc tịch chung; nếu không có quốc tịch chung thì áp dụng luật nơi tổ chức hôn lễ (với điều kiện đây là nơi thường trú của một trong các bên hoặc quốc gia mà một trong các bên mang quốc tịch). Trong trường hợp không đáp ứng các điều kiện thay thế nêu trên, nguyên tắc “kết nối chặt chẽ nhất” sẽ được áp dụng để xác định tính hợp lệ của hôn nhân[7].

Tuy nhiên, khác với cách tiếp cận dựa trên quốc tịch của các quốc gia nêu trên, hệ thống Thông luật (Common Law), điển hình, tại Anh ưu tiên nguyên tắc “nơi cư trú”. Theo đó, năng lực kết hôn của mỗi bên được điều chỉnh bởi pháp luật của quốc gia nơi người đó cư trú hợp pháp ngay trước khi kết hôn. Cuộc hôn nhân chỉ được công nhận là hợp lệ nếu cả hai bên đều đáp ứng đầy đủ năng lực hành vi theo hệ thống pháp luật nơi cư trú tương ứng của mình (yêu cầu cuộc hôn nhân phải hợp pháp theo luật của cả hai quốc gia nơi hai bên nam nữ thường trú trước khi cưới)[8].

Nhằm cân bằng sự khác biệt, Công ước về tổ chức kết hôn và công nhận hiệu lực của kết hôn[9] đưa ra những quy tắc mang tính đa phương. Theo đó, điều kiện nội dung của hôn nhân được thừa nhận nếu các bên đáp ứng yêu cầu của pháp luật quốc gia nơi tổ chức hôn lễ và ít nhất một bên có quốc tịch hoặc cư trú thường trú tại đó hoặc đáp ứng các quy định của hệ thống pháp luật được chỉ định bởi quy tắc chọn luật của quốc gia nơi tổ chức.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật Việt Nam có sự tương đồng với các quốc gia theo hệ thống Dân luật (Civil Law như Pháp, Ý, Đức, Nhật Bản và Indonesia) khi cùng đề cao nguyên tắc luật quốc tịch để xác định năng lực kết hôn. Đây là nguyên tắc được ưu tiên trong Công ước La Hay và ghi nhận trong các hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam là thành viên. Điểm khác biệt lớn nhất ở sự đối lập với hệ thống Thông luật (như Anh, Mỹ) vốn coi trọng nơi cư trú hoặc cách tiếp cận linh hoạt nhiều nguyên tắc của Trung Quốc khi đặt nơi thường trú chung trước quốc tịch. Trong khi Việt Nam duy trì sự thống nhất giữa luật trong nước và các điều ước quốc tế về nguyên tắc luật quốc tịch, thì sự tồn tại song song của nguyên tắc nơi cư trú tại các nước theo hệ thống Thông luật vẫn tạo ra những khác biệt trong giải quyết xung đột pháp luật.

2. Một số bất cập trong xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, theo đó, mỗi bên phải tuân thủ theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn. Tuy nhiên, người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch hay có nhiều quốc tịch nước ngoài gây ra những vướng mắc nhất định trong xác định pháp luật áp dụng theo nguyên tắc luật quốc tịch. Cụ thể:

Thứ nhất, người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch[10].

Khoản 1 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất”. Như vậy, nếu người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch thì luật áp dụng cho vấn đề điều kiện kết hôn được lựa chọn theo nguyên tắc luật nơi cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, nguyên tắc luật nơi cư trú không thể áp dụng nếu cơ quan có thẩm quyền giải quyết không thể xác định được nơi người không quốc tịch cư trú hoặc người không quốc tịch có nhiều nơi cư trú. Khi đó, nguyên tắc luật nơi có mối liên hệ gắn bó nhất sẽ được áp dụng. Đây là cơ chế dự phòng linh hoạt nhằm khắc phục sự thiếu hụt quy phạm khi xác định pháp luật áp dụng[11]. Dù vậy, trên thực tế, nguyên tắc này vẫn gây ra những trở ngại nhất định trong quá trình áp dụng, bởi hiện, pháp luật chưa làm rõ nội hàm của thuật ngữ “mối liên hệ gắn bó nhất”.

Thứ hai, người đăng ký kết hôn là người có nhiều quốc tịch nước ngoài.

Khoản 2 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất”. Ví dụ: Anh A (có hai quốc tịch Pháp và Hà Lan) kết hôn với chị B (công dân Việt Nam) tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Theo khoản 2 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật áp dụng xem xét điều kiện kết hôn của anh A được xác định như sau: Nếu anh A cư trú tại một trong hai quốc gia mình có quốc tịch (Pháp hoặc Hà Lan), pháp luật của nước nơi anh A đang cư trú sẽ được áp dụng; nếu anh A cư trú tại một quốc gia khác hoặc có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật của quốc gia mà anh A có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất (Pháp hoặc Hà Lan).

Như vậy, tương tự trường hợp người không quốc tịch, pháp luật Việt Nam đã thiết lập nguyên tắc chung và các nguyên tắc bổ sung cho trường hợp người mang nhiều quốc tịch nước ngoài. Cách tiếp cận “kết hợp” nhiều nguyên tắc chọn luật như “quốc tịch và cư trú” hoặc “quốc tịch và nơi có mối liên hệ gắn bó nhất” thể hiện sự linh hoạt của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiết lập nguyên tắc “mối liên hệ gắn bó nhất” cũng gây ra những khó khăn trong xác định pháp luật nước nào sẽ được áp dụng tương tự như khoản 1 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, pháp luật nước nào được xem là gắn bó nhất sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp, hoàn cảnh, loại quan hệ mà cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định[12].

Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam cho thấy, mặc dù hệ thống quy phạm lựa chọn luật đã được thiết lập, nhưng trong trường hợp không xác định được nội dung pháp luật nước ngoài hoặc khi pháp luật áp dụng trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, các cơ quan có thẩm quyền thường có xu hướng viện dẫn pháp luật Việt Nam. Việc ưu tiên áp dụng nội luật có thể mang lại sự thuận tiện và bảo đảm tính an toàn pháp lý cho cơ quan thực thi trong giải thích, song, vô tình làm cho các quy phạm xung đột trở thành những quy định mang tính hình thức.

3. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật

Nguyên tắc luật quốc tịch có một số ưu điểm nhất định trong xác định các vấn đề nhân thân, giúp tăng tính dự báo và bảo đảm sự ổn định của hệ thống pháp luật được dẫn chiếu, từ đó, bảo đảm an toàn pháp lý[13] cho đương sự. Hơn nữa, việc áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch góp phần thể hiện trách nhiệm bảo hộ pháp lý của Nhà nước đối với công dân của mình trên bình diện quốc tế. Tuy nhiên, nguyên tắc này tồn tại một số hạn chế trong trường hợp: người đăng ký kết hôn không quốc tịch; người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch nước ngoài.

Do đó, việc áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch cần được xem xét linh hoạt, kết hợp với các nguyên tắc “chọn luật” khác để bảo đảm công bằng và hiệu quả trong giải quyết các vấn đề pháp lý quốc tế. Với tinh thần đó, Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 giúp xác định pháp luật áp dụng đối với các trường hợp ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch. Nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” sẽ bổ khuyết khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, nguyên tắc luật nơi cư trú hoặc nguyên tắc luật quốc tịch kết hợp nguyên tắc luật nơi cư trú gặp khó khăn. Tuy nhiên, hiện, pháp luật Việt Nam chưa có quy định giải thích thuật ngữ “có mối liên hệ gắn bó nhất”, gây khó khăn trong xác định hệ thống pháp luật áp dụng, chưa bảo đảm tính minh bạch, dễ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quá trình thực thi của cơ quan có thẩm quyền[14]. Nhằm giải quyết vấn đề này, pháp luật cần nghiên cứu, sắp xếp các yếu tố kết nối theo thứ tự ưu tiên: quốc tịch, nơi cư trú, nơi đăng ký kết hôn. Cụ thể:

Thứ nhất, trong ngắn hạn. Để xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, cần tập trung giải thích và vận dụng quy định sẵn có của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, cần sớm có văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 về xác định pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có mối liên hệ gắn bó nhất, trong lĩnh vực kết hôn:

- Đối với trường hợp người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch: khi pháp luật dẫn chiếu áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch nhưng người đó là người không quốc tịch, thì áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Nếu người đăng ký kết hôn có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn, thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có mối liên hệ gắn bó nhất. Theo đó, pháp luật của nước nơi đăng ký kết hôn được xác định là hệ thống pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất.

- Đối với trường hợp người đăng ký kết hôn là người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài: khi pháp luật dẫn chiếu đến áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch nhưng người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch mà trong đó không có quốc tịch Việt Nam, thì áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch và cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Nếu người đăng ký kết hôn có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm đăng ký kết hôn, thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất. Theo đó, pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất với người đăng ký kết hôn là pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn. Trường hợp, nước nơi tiến hành kết hôn khác với nước mà cá nhân có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn.

Thứ hai, trong dài hạn. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, việc hoàn thiện quy định pháp luật về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn trở nên cần thiết. Do đó, pháp luật cần nghiên cứu khả năng kết hợp linh hoạt và có thứ tự ưu tiên các nguyên tắc sau trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: (i) Nguyên tắc luật quốc tịch: ưu tiên áp dụng pháp luật của quốc gia mà mỗi bên chủ thể mang quốc tịch để xác định các điều kiện kết hôn; (ii) Nguyên tắc luật nơi cư trú: trong trường hợp các bên có quốc tịch khác nhau nhưng có cùng một nơi cư trú ổn định hoặc khi áp dụng luật quốc tịch gặp khó khăn, có thể xem xét áp dụng pháp luật của quốc gia nơi họ cùng cư trú; (iii) Nguyên tắc luật nơi tiến hành kết hôn: áp dụng pháp luật của quốc gia nơi tiến hành kết hôn để xác định pháp luật áp dụng đối với trường hợp áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú gặp khó khăn[15].

Việc xác lập thứ tự ưu tiên giữa các nguyên tắc “chọn luật” tạo sự linh hoạt cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xác định pháp luật điều chỉnh điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, nhằm khắc phục tính gián tiếp và phức tạp khi phải áp dụng quy định chung của Bộ luật Dân sự cho một tình huống pháp lý cụ thể; đồng thời, cung cấp khung pháp lý minh bạch, có tính dự báo cao. Qua đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được hiệu quả hơn, góp phần ổn định các quan hệ kết hôn xuyên quốc gia.

Kết luận

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề phức tạp, đòi hỏi tính linh hoạt và bao quát. Pháp luật Việt Nam đã thiết lập hệ thống nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đa dạng (luật quốc tịch, luật nơi đăng ký kết hôn, luật nơi cư trú và luật có mối liên hệ gắn bó nhất) nhằm thích ứng với nhiều tình huống, kể cả trường hợp người không quốc tịch hoặc đa quốc tịch. Việc áp dụng nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” như một phương án cuối cùng thể hiện sự tôn trọng quyền “chọn luật” và giảm thiểu sự áp đặt áp dụng pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, để áp dụng nguyên tắc này hiệu quả, cần giải thích rõ về nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” nhằm tránh áp dụng không thống nhất. Do đó, pháp luật cần bổ sung quy định giải thích nguyên tắc này và nghiên cứu, sửa đổi quy định về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014./.

ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Lê Thị Nam Giang (Chủ biên), Nguyễn Lê Hoài, Phan Hoài Nam (2022), Tư pháp quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 111.

[2]. Các quy định pháp lý chung cho Đông Ấn thuộc Hà Lan (tên gốc: Algemene Bepalingen van Wetgeving voor Nederlands Indië, tiếng Anh: General Legislative Provisions for the Dutch East Indies, gọi tắt là AB).

[3]. Allagan, T. (2015), Foreign PIL-Developments in Indonesia: The Bill on Indonesian Private International Law, Nederlands Internationaal Privaatrecht, 215(5), 390-403, tr. 392.

[4]. Đạo luật số 10 năm 1898, sửa đổi, bổ sung bởi Đạo luật số 78 ngày 21/6/2006 về các quy tắc chung về áp dụng luật pháp (AGRAL).

[5]. Sugiastuti, N. Y., Rudyanto, B., & Dancar, A. (2025), International Civil Law Aspects of International Marriage: A Comparative Perspective of Indonesian and Japanese Law, Jambura Law Review,7(1), 105-126, tr. 112.

[6]. Vanhullebusch, M. (2016), Private International Law in China, Guangjian Tu, tr. 56.

[7]. Tu, G. (2016), Private international law in China (Vol. 102), Singapore: Springer, tr. 56.

[8]. Mayss, A. J. (1999), Principles of conflict of laws (3rd ed.), Cavendish Publishing Limited, tr. 216.

[9]. Công ước về tổ chức kết hôn và công nhận hiệu lực của kết hôn (Convention on Celebration and Recognition of the Validity of Marriages) là văn kiện pháp lý quốc tế đa phương thuộc hệ thống của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế (Hague Conference on Private International Law - HCCH).

[10]. Khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2025 (Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008) quy định: “Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”. Như vậy, có thể hiểu, người không quốc tịch là người không được bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận là công dân của quốc gia đó.

[11]. Xu, Q. (2017), The Codification of Conflicts Law in China: A Long Way to Go, The American Journal of Comparative Law,65(4), 919-962, tr. 934.

[12]. Trần Minh Ngọc (Chủ biên), Bùi Thị Thu, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Đức Việt, Lê Thị Bích Thủy (2018), Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, tr. 139.

[13]. Winter, L. I. (1969), Nationality or domicile? The present state of affairs, Recueil des Cours de l’Académie de Droit International de La Haye,128(III), 347-504, tr. 404.

[14]. Chung, C. (2016), The Easier Way to Have Better Law: The Most-Significant Relationship Doctrine as the Fallback Conflict-of-Law Rule in the People’s Republic of China, Braz. J. Int’l L.,13, 308.

[15]. Ngô Quốc Chiến (Chủ biên), Lý Vân Anh, Hoàng Ngọc Bích (2018), Luật Tư pháp quốc tế hướng đến mô hình lập pháp ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 268.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Allagan, T. (2015), Foreign PIL Developments in Indonesia: The Bill on Indonesian Private International Law, Nederlands Internationaal Privaatrecht, 215(5).

2. Baty, T. (1917), Capacity and Form of Marriage in the Conflict of Laws, The Yale Law Journal, 26(6), 444-463.

3. Chung, C. (2016), The Easier Way to Have Better Law: The Most Significant-Relationship Doctrine as the Fallback Conflict-of-Law Rule in the People’s Republic of China, Braz. J. Int’l L.,13, 308.

4. Lê Thị Nam Giang (Chủ biên), Nguyễn Lê Hoài, Phan Hoài Nam (2022), Tư pháp quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Mayss, A. J. (1999), Principles of conflict of laws (3rd ed.), Cavendish Publishing Limited.

6. Ngô Quốc Chiến (2022), Pháp luật Liên minh châu Âu về xác định pháp luật áp dụng dựa trên nguyên tắc “mối liên hệ gắn bó nhất” và gợi mở cho Việt Nam, https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/211071/Phap-luat-Lien-minh-chau-Au-ve-xac-dinh-luat-ap-dung-dua-tren-nguyen-tac-moi-lien-he-gan-bo-nhat-va-goi mo-cho-Viet-Nam.html, truy cập ngày 10/01/2026.

7. Ngô Quốc Chiến (Chủ biên), Lý Vân Anh, Hoàng Ngọc Bích (2018), Luật Tư pháp quốc tế hướng đến mô hình lập pháp ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

8. Nguyễn Mai Linh (2022), Giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

9. Sugiastuti, N. Y., Rudyanto, B., & Dancar, A. (2025), International Civil Law Aspects of International Marriage: A Comparative Perspective of Indonesian and Japanese Law, Jambura Law Review,7(1), 105-126.

10. Trần Minh Ngọc (Chủ biên), Bùi Thị Thu, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Đức Việt, Lê Thị Bích Thủy (2018), Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động.

11. Tu, G. (2016), Private international law in China (Vol. 102), Singapore: Springer.

12. Vanhullebusch, M. (2016), Private International Law in China, Guangjian Tu.

13. Winter, L. I. (1969), Nationality or domicile? The present state of affairs, Recueil des Cours de l’Académie de Droit International de La Haye,128(III), 347-504.

14. Xu, Q. (2017), The Codification of Conflicts Law in China: A Long Way to Go, The American Journal of Comparative Law,65(4), 919-962.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (446) tháng 2/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: