Chủ nhật 13/09/2026 00:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.

Abstract: In the context of international integration and the increasing number of cross border marriages, resolving conflicts of law regarding marriage conditions is becoming increasingly urgent. This article researches, analyzes, and evaluates current regulations on determining the applicable law for marriage conditions involving foreign elements according to the principle of nationality law (lex patriae). Through this, it identifies some shortcomings and proposes solutions to improve the law in order to enhance the effectiveness of implementing this principle in Vietnam today.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự gia tăng mạnh mẽ của các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đã dẫn đến những hệ quả tất yếu về xung đột pháp luật[1]. Việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh điều kiện kết hôn không chỉ là vấn đề kỹ thuật pháp lý, mà còn là tiền đề bảo đảm tính hợp pháp và khả năng công nhận hiệu lực của hôn nhân trên bình diện quốc tế.

Theo khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Việt Nam áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch để xem xét điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, nguyên tắc này đang bộc lộ những hạn chế đối với hai nhóm đối tượng đặc thù: người đăng ký kết hôn không quốc tịch và người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch nước ngoài. Việc áp dụng nguyên tắc bổ trợ về “mối liên hệ gắn bó nhất” cho các trường hợp trên chưa có hướng dẫn chi tiết, gây khó khăn cho các cơ quan thực thi. Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

1. Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”. Đây là căn cứ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền công nhận tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân.

Nguyên tắc luật quốc tịch không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc gia, mà còn được khẳng định trong các điều ước quốc tế. Hầu hết các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết đều áp dụng nguyên tắc này để xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn, nhằm tạo sự đồng bộ trong công nhận hiệu lực hôn nhân giữa các quốc gia thành viên. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Lào năm 1998 quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân các nước ký kết, mỗi bên đương sự phải tuân theo điều kiện kết hôn quy định trong pháp luật của nước ký kết mà họ là công dân”. Tương tự, khoản 2 Điều 31 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Hungary năm 1985 quy định: “Điều kiện kết hôn đối với mỗi bên nam, nữ được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch vào thời điểm kết hôn”. Khoản 2 Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Ba Lan năm 1993 cũng khẳng định: “Về điều kiện kết hôn, mỗi bên đương sự phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân”.

Trong mối tương quan với pháp luật quốc tế, nguyên tắc luật quốc tịch cũng được nhiều quốc gia ghi nhận để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn. Điển hình, tại Indonesia, Điều 16 AB[2] quy định việc đáp ứng các điều kiện kết hôn của quan hệ hôn nhân dựa trên nguyên tắc luật quốc tịch. Theo đó, các yêu cầu cơ bản để kết hôn phải tuân theo luật quốc tịch của cặp đôi kết hôn, với điều kiện là luật quốc gia nơi diễn ra cuộc hôn nhân không có quy định khác[3].

Tương tự, tại Nhật Bản, Luật Dân sự quốc tế, được quy định trong Luật Xung đột pháp luật của Nhật Bản, trước đây gọi là Horei[4], nay là Đạo luật về các quy tắc chung về áp dụng luật pháp - AGRAL cũng quy định tại Điều 24, việc kết hôn của mỗi bên được áp dụng theo luật quốc tịch[5]. Tại Trung Quốc, Điều 21 Luật áp dụng đối với các mối quan hệ pháp lý dân sự có yếu tố nước ngoài của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định: Luật quốc tịch chung chỉ là một trong các phương án được ưu tiên sau luật nơi thường trú chung[6]. Cụ thể, tính hợp lệ về nội dung của hôn nhân trước hết được điều chỉnh bởi luật của nơi thường trú chung của các bên; nếu không có nơi thường trú chung thì áp dụng luật quốc tịch chung; nếu không có quốc tịch chung thì áp dụng luật nơi tổ chức hôn lễ (với điều kiện đây là nơi thường trú của một trong các bên hoặc quốc gia mà một trong các bên mang quốc tịch). Trong trường hợp không đáp ứng các điều kiện thay thế nêu trên, nguyên tắc “kết nối chặt chẽ nhất” sẽ được áp dụng để xác định tính hợp lệ của hôn nhân[7].

Tuy nhiên, khác với cách tiếp cận dựa trên quốc tịch của các quốc gia nêu trên, hệ thống Thông luật (Common Law), điển hình, tại Anh ưu tiên nguyên tắc “nơi cư trú”. Theo đó, năng lực kết hôn của mỗi bên được điều chỉnh bởi pháp luật của quốc gia nơi người đó cư trú hợp pháp ngay trước khi kết hôn. Cuộc hôn nhân chỉ được công nhận là hợp lệ nếu cả hai bên đều đáp ứng đầy đủ năng lực hành vi theo hệ thống pháp luật nơi cư trú tương ứng của mình (yêu cầu cuộc hôn nhân phải hợp pháp theo luật của cả hai quốc gia nơi hai bên nam nữ thường trú trước khi cưới)[8].

Nhằm cân bằng sự khác biệt, Công ước về tổ chức kết hôn và công nhận hiệu lực của kết hôn[9] đưa ra những quy tắc mang tính đa phương. Theo đó, điều kiện nội dung của hôn nhân được thừa nhận nếu các bên đáp ứng yêu cầu của pháp luật quốc gia nơi tổ chức hôn lễ và ít nhất một bên có quốc tịch hoặc cư trú thường trú tại đó hoặc đáp ứng các quy định của hệ thống pháp luật được chỉ định bởi quy tắc chọn luật của quốc gia nơi tổ chức.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật Việt Nam có sự tương đồng với các quốc gia theo hệ thống Dân luật (Civil Law như Pháp, Ý, Đức, Nhật Bản và Indonesia) khi cùng đề cao nguyên tắc luật quốc tịch để xác định năng lực kết hôn. Đây là nguyên tắc được ưu tiên trong Công ước La Hay và ghi nhận trong các hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam là thành viên. Điểm khác biệt lớn nhất ở sự đối lập với hệ thống Thông luật (như Anh, Mỹ) vốn coi trọng nơi cư trú hoặc cách tiếp cận linh hoạt nhiều nguyên tắc của Trung Quốc khi đặt nơi thường trú chung trước quốc tịch. Trong khi Việt Nam duy trì sự thống nhất giữa luật trong nước và các điều ước quốc tế về nguyên tắc luật quốc tịch, thì sự tồn tại song song của nguyên tắc nơi cư trú tại các nước theo hệ thống Thông luật vẫn tạo ra những khác biệt trong giải quyết xung đột pháp luật.

2. Một số bất cập trong xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, theo đó, mỗi bên phải tuân thủ theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn. Tuy nhiên, người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch hay có nhiều quốc tịch nước ngoài gây ra những vướng mắc nhất định trong xác định pháp luật áp dụng theo nguyên tắc luật quốc tịch. Cụ thể:

Thứ nhất, người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch[10].

Khoản 1 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất”. Như vậy, nếu người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch thì luật áp dụng cho vấn đề điều kiện kết hôn được lựa chọn theo nguyên tắc luật nơi cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, nguyên tắc luật nơi cư trú không thể áp dụng nếu cơ quan có thẩm quyền giải quyết không thể xác định được nơi người không quốc tịch cư trú hoặc người không quốc tịch có nhiều nơi cư trú. Khi đó, nguyên tắc luật nơi có mối liên hệ gắn bó nhất sẽ được áp dụng. Đây là cơ chế dự phòng linh hoạt nhằm khắc phục sự thiếu hụt quy phạm khi xác định pháp luật áp dụng[11]. Dù vậy, trên thực tế, nguyên tắc này vẫn gây ra những trở ngại nhất định trong quá trình áp dụng, bởi hiện, pháp luật chưa làm rõ nội hàm của thuật ngữ “mối liên hệ gắn bó nhất”.

Thứ hai, người đăng ký kết hôn là người có nhiều quốc tịch nước ngoài.

Khoản 2 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất”. Ví dụ: Anh A (có hai quốc tịch Pháp và Hà Lan) kết hôn với chị B (công dân Việt Nam) tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Theo khoản 2 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật áp dụng xem xét điều kiện kết hôn của anh A được xác định như sau: Nếu anh A cư trú tại một trong hai quốc gia mình có quốc tịch (Pháp hoặc Hà Lan), pháp luật của nước nơi anh A đang cư trú sẽ được áp dụng; nếu anh A cư trú tại một quốc gia khác hoặc có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật của quốc gia mà anh A có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất (Pháp hoặc Hà Lan).

Như vậy, tương tự trường hợp người không quốc tịch, pháp luật Việt Nam đã thiết lập nguyên tắc chung và các nguyên tắc bổ sung cho trường hợp người mang nhiều quốc tịch nước ngoài. Cách tiếp cận “kết hợp” nhiều nguyên tắc chọn luật như “quốc tịch và cư trú” hoặc “quốc tịch và nơi có mối liên hệ gắn bó nhất” thể hiện sự linh hoạt của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiết lập nguyên tắc “mối liên hệ gắn bó nhất” cũng gây ra những khó khăn trong xác định pháp luật nước nào sẽ được áp dụng tương tự như khoản 1 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, pháp luật nước nào được xem là gắn bó nhất sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp, hoàn cảnh, loại quan hệ mà cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định[12].

Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam cho thấy, mặc dù hệ thống quy phạm lựa chọn luật đã được thiết lập, nhưng trong trường hợp không xác định được nội dung pháp luật nước ngoài hoặc khi pháp luật áp dụng trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, các cơ quan có thẩm quyền thường có xu hướng viện dẫn pháp luật Việt Nam. Việc ưu tiên áp dụng nội luật có thể mang lại sự thuận tiện và bảo đảm tính an toàn pháp lý cho cơ quan thực thi trong giải thích, song, vô tình làm cho các quy phạm xung đột trở thành những quy định mang tính hình thức.

3. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật

Nguyên tắc luật quốc tịch có một số ưu điểm nhất định trong xác định các vấn đề nhân thân, giúp tăng tính dự báo và bảo đảm sự ổn định của hệ thống pháp luật được dẫn chiếu, từ đó, bảo đảm an toàn pháp lý[13] cho đương sự. Hơn nữa, việc áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch góp phần thể hiện trách nhiệm bảo hộ pháp lý của Nhà nước đối với công dân của mình trên bình diện quốc tế. Tuy nhiên, nguyên tắc này tồn tại một số hạn chế trong trường hợp: người đăng ký kết hôn không quốc tịch; người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch nước ngoài.

Do đó, việc áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch cần được xem xét linh hoạt, kết hợp với các nguyên tắc “chọn luật” khác để bảo đảm công bằng và hiệu quả trong giải quyết các vấn đề pháp lý quốc tế. Với tinh thần đó, Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 giúp xác định pháp luật áp dụng đối với các trường hợp ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch. Nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” sẽ bổ khuyết khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, nguyên tắc luật nơi cư trú hoặc nguyên tắc luật quốc tịch kết hợp nguyên tắc luật nơi cư trú gặp khó khăn. Tuy nhiên, hiện, pháp luật Việt Nam chưa có quy định giải thích thuật ngữ “có mối liên hệ gắn bó nhất”, gây khó khăn trong xác định hệ thống pháp luật áp dụng, chưa bảo đảm tính minh bạch, dễ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quá trình thực thi của cơ quan có thẩm quyền[14]. Nhằm giải quyết vấn đề này, pháp luật cần nghiên cứu, sắp xếp các yếu tố kết nối theo thứ tự ưu tiên: quốc tịch, nơi cư trú, nơi đăng ký kết hôn. Cụ thể:

Thứ nhất, trong ngắn hạn. Để xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn khi áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, cần tập trung giải thích và vận dụng quy định sẵn có của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, cần sớm có văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015 về xác định pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có mối liên hệ gắn bó nhất, trong lĩnh vực kết hôn:

- Đối với trường hợp người đăng ký kết hôn là người không quốc tịch: khi pháp luật dẫn chiếu áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch nhưng người đó là người không quốc tịch, thì áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Nếu người đăng ký kết hôn có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn, thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có mối liên hệ gắn bó nhất. Theo đó, pháp luật của nước nơi đăng ký kết hôn được xác định là hệ thống pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất.

- Đối với trường hợp người đăng ký kết hôn là người có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài: khi pháp luật dẫn chiếu đến áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch nhưng người đăng ký kết hôn có nhiều quốc tịch mà trong đó không có quốc tịch Việt Nam, thì áp dụng pháp luật của nước mà người đăng ký kết hôn có quốc tịch và cư trú vào thời điểm đăng ký kết hôn. Nếu người đăng ký kết hôn có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm đăng ký kết hôn, thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất. Theo đó, pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất với người đăng ký kết hôn là pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn. Trường hợp, nước nơi tiến hành kết hôn khác với nước mà cá nhân có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước nơi tiến hành kết hôn.

Thứ hai, trong dài hạn. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, việc hoàn thiện quy định pháp luật về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn trở nên cần thiết. Do đó, pháp luật cần nghiên cứu khả năng kết hợp linh hoạt và có thứ tự ưu tiên các nguyên tắc sau trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: (i) Nguyên tắc luật quốc tịch: ưu tiên áp dụng pháp luật của quốc gia mà mỗi bên chủ thể mang quốc tịch để xác định các điều kiện kết hôn; (ii) Nguyên tắc luật nơi cư trú: trong trường hợp các bên có quốc tịch khác nhau nhưng có cùng một nơi cư trú ổn định hoặc khi áp dụng luật quốc tịch gặp khó khăn, có thể xem xét áp dụng pháp luật của quốc gia nơi họ cùng cư trú; (iii) Nguyên tắc luật nơi tiến hành kết hôn: áp dụng pháp luật của quốc gia nơi tiến hành kết hôn để xác định pháp luật áp dụng đối với trường hợp áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú gặp khó khăn[15].

Việc xác lập thứ tự ưu tiên giữa các nguyên tắc “chọn luật” tạo sự linh hoạt cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xác định pháp luật điều chỉnh điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, nhằm khắc phục tính gián tiếp và phức tạp khi phải áp dụng quy định chung của Bộ luật Dân sự cho một tình huống pháp lý cụ thể; đồng thời, cung cấp khung pháp lý minh bạch, có tính dự báo cao. Qua đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được hiệu quả hơn, góp phần ổn định các quan hệ kết hôn xuyên quốc gia.

Kết luận

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề phức tạp, đòi hỏi tính linh hoạt và bao quát. Pháp luật Việt Nam đã thiết lập hệ thống nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đa dạng (luật quốc tịch, luật nơi đăng ký kết hôn, luật nơi cư trú và luật có mối liên hệ gắn bó nhất) nhằm thích ứng với nhiều tình huống, kể cả trường hợp người không quốc tịch hoặc đa quốc tịch. Việc áp dụng nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” như một phương án cuối cùng thể hiện sự tôn trọng quyền “chọn luật” và giảm thiểu sự áp đặt áp dụng pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, để áp dụng nguyên tắc này hiệu quả, cần giải thích rõ về nguyên tắc “luật có mối liên hệ gắn bó nhất” nhằm tránh áp dụng không thống nhất. Do đó, pháp luật cần bổ sung quy định giải thích nguyên tắc này và nghiên cứu, sửa đổi quy định về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014./.

ThS. Bùi Thị Mỹ Hương

Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Lê Thị Nam Giang (Chủ biên), Nguyễn Lê Hoài, Phan Hoài Nam (2022), Tư pháp quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 111.

[2]. Các quy định pháp lý chung cho Đông Ấn thuộc Hà Lan (tên gốc: Algemene Bepalingen van Wetgeving voor Nederlands Indië, tiếng Anh: General Legislative Provisions for the Dutch East Indies, gọi tắt là AB).

[3]. Allagan, T. (2015), Foreign PIL-Developments in Indonesia: The Bill on Indonesian Private International Law, Nederlands Internationaal Privaatrecht, 215(5), 390-403, tr. 392.

[4]. Đạo luật số 10 năm 1898, sửa đổi, bổ sung bởi Đạo luật số 78 ngày 21/6/2006 về các quy tắc chung về áp dụng luật pháp (AGRAL).

[5]. Sugiastuti, N. Y., Rudyanto, B., & Dancar, A. (2025), International Civil Law Aspects of International Marriage: A Comparative Perspective of Indonesian and Japanese Law, Jambura Law Review,7(1), 105-126, tr. 112.

[6]. Vanhullebusch, M. (2016), Private International Law in China, Guangjian Tu, tr. 56.

[7]. Tu, G. (2016), Private international law in China (Vol. 102), Singapore: Springer, tr. 56.

[8]. Mayss, A. J. (1999), Principles of conflict of laws (3rd ed.), Cavendish Publishing Limited, tr. 216.

[9]. Công ước về tổ chức kết hôn và công nhận hiệu lực của kết hôn (Convention on Celebration and Recognition of the Validity of Marriages) là văn kiện pháp lý quốc tế đa phương thuộc hệ thống của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế (Hague Conference on Private International Law - HCCH).

[10]. Khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2025 (Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008) quy định: “Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”. Như vậy, có thể hiểu, người không quốc tịch là người không được bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận là công dân của quốc gia đó.

[11]. Xu, Q. (2017), The Codification of Conflicts Law in China: A Long Way to Go, The American Journal of Comparative Law,65(4), 919-962, tr. 934.

[12]. Trần Minh Ngọc (Chủ biên), Bùi Thị Thu, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Đức Việt, Lê Thị Bích Thủy (2018), Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, tr. 139.

[13]. Winter, L. I. (1969), Nationality or domicile? The present state of affairs, Recueil des Cours de l’Académie de Droit International de La Haye,128(III), 347-504, tr. 404.

[14]. Chung, C. (2016), The Easier Way to Have Better Law: The Most-Significant Relationship Doctrine as the Fallback Conflict-of-Law Rule in the People’s Republic of China, Braz. J. Int’l L.,13, 308.

[15]. Ngô Quốc Chiến (Chủ biên), Lý Vân Anh, Hoàng Ngọc Bích (2018), Luật Tư pháp quốc tế hướng đến mô hình lập pháp ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 268.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Allagan, T. (2015), Foreign PIL Developments in Indonesia: The Bill on Indonesian Private International Law, Nederlands Internationaal Privaatrecht, 215(5).

2. Baty, T. (1917), Capacity and Form of Marriage in the Conflict of Laws, The Yale Law Journal, 26(6), 444-463.

3. Chung, C. (2016), The Easier Way to Have Better Law: The Most Significant-Relationship Doctrine as the Fallback Conflict-of-Law Rule in the People’s Republic of China, Braz. J. Int’l L.,13, 308.

4. Lê Thị Nam Giang (Chủ biên), Nguyễn Lê Hoài, Phan Hoài Nam (2022), Tư pháp quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Mayss, A. J. (1999), Principles of conflict of laws (3rd ed.), Cavendish Publishing Limited.

6. Ngô Quốc Chiến (2022), Pháp luật Liên minh châu Âu về xác định pháp luật áp dụng dựa trên nguyên tắc “mối liên hệ gắn bó nhất” và gợi mở cho Việt Nam, https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/211071/Phap-luat-Lien-minh-chau-Au-ve-xac-dinh-luat-ap-dung-dua-tren-nguyen-tac-moi-lien-he-gan-bo-nhat-va-goi mo-cho-Viet-Nam.html, truy cập ngày 10/01/2026.

7. Ngô Quốc Chiến (Chủ biên), Lý Vân Anh, Hoàng Ngọc Bích (2018), Luật Tư pháp quốc tế hướng đến mô hình lập pháp ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

8. Nguyễn Mai Linh (2022), Giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

9. Sugiastuti, N. Y., Rudyanto, B., & Dancar, A. (2025), International Civil Law Aspects of International Marriage: A Comparative Perspective of Indonesian and Japanese Law, Jambura Law Review,7(1), 105-126.

10. Trần Minh Ngọc (Chủ biên), Bùi Thị Thu, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Đức Việt, Lê Thị Bích Thủy (2018), Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động.

11. Tu, G. (2016), Private international law in China (Vol. 102), Singapore: Springer.

12. Vanhullebusch, M. (2016), Private International Law in China, Guangjian Tu.

13. Winter, L. I. (1969), Nationality or domicile? The present state of affairs, Recueil des Cours de l’Académie de Droit International de La Haye,128(III), 347-504.

14. Xu, Q. (2017), The Codification of Conflicts Law in China: A Long Way to Go, The American Journal of Comparative Law,65(4), 919-962.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (446) tháng 2/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: