Thứ sáu 23/10/2026 02:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bình luận một số quan điểm đối với 10 vấn đề trọng tâm xin ý kiến nhân dân về Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)

Mặc dù Hiến pháp quy định thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng không thể hiểu một cách cứng nhắc làm hạn chế quyền được bảo vệ lợi ích của người dân. Quy định của luật là cho phép Tòa án khi không có luật điều chỉnh thì căn cứ vào những yếu tố khác để giải quyết và đây không thể coi là mâu thuẫn với Hiến pháp.

Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) đang diễn ra một cách sôi nổi, khẩn trương, nhiều cuộc hội thảo, hội nghị… được tổ chức để lấy ý kiến góp ý của nhiều đối tượng, thành phần khác nhau. Nhiều ý kiến có chất lượng, trong đó có những ý kiến trái chiều và đều đưa ra những lập luận riêng để thuyết phục. Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra và bình luận một số quan điểm về 10 vấn đề trọng tâm xin ý kiến nhân dân tại Phụ lục III Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 02/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi).

1. Về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự (Điều 19)

Có cần thiết phải quy định điều này hay không? Đây là câu hỏi được nhiều người đặt ra. Phải khẳng định việc quy định này là cần thiết. Nội dung về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cũng đã manh nha quy định từ Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005 nhưng chưa được cụ thể hóa. Với điều kiện như ở Việt Nam, theo tôi, cần thiết phải cụ thể nội dung này. Mục đích của quy định là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân triệt để hơn, nâng cao trách nhiệm của Tòa án và bảo đảm nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Tòa án sẽ không thể viện cớ nào đó để từ chối giải quyết tranh chấp của người dân. Việc không có luật quy định không thể để người dân phải gánh chịu, nên nếu không có luật thì cần phải có cơ chế để bảo vệ người dân.

Mặc dù Hiến pháp quy định thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng không thể hiểu một cách cứng nhắc làm hạn chế quyền được bảo vệ lợi ích của người dân. Quy định của luật là cho phép Tòa án khi không có luật điều chỉnh thì căn cứ vào những yếu tố khác để giải quyết và đây không thể coi là mâu thuẫn với Hiến pháp.

Tuy nhiên, cũng có nhiều mối lo ngại cần phải nghiên cứu, xem xét tìm phương án khắc phục để quy định này được đảm bảo thực thi trên thực tế.

Thứ nhất, trình độ của thẩm phán, hội thẩm nhân dân là một trong những mối lo lớn cần giải quyết. Do đó, việc quan trọng cần làm là đội ngũ này phải được nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Bên cạnh đó, có thể trong từng lĩnh vực cụ thể sẽ có chuyên gia cố vấn để việc giải quyết đạt chất lượng. Nhưng dù sao thì cũng không thể vì lý do trình độ mà không quy định trách nhiệm của Tòa án trong luật.

Thứ hai, khi không có luật áp dụng dễ gây ra sự tùy tiện trong xét xử, do đó cần phải quy định chặt chẽ, cụ thể hóa hơn so với Dự thảo, điều này cũng để tránh trường hợp thụ lý chỉ là hình thức vì thẩm phán vẫn thụ lý giải quyết nhưng lại ra quyết định đình chỉ.

Thứ ba, việc quy định áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, án lệ như Dự thảo nhằm để Tòa án cân nhắc nên lựa chọn cách nào phù hợp. Do trình độ xét xử của thẩm phán ở nước ta còn yếu, nên đã có ý kiến lo ngại việc áp dụng án lệ và thứ tự ưu tiên áp dụng án lệ đặt ngang với tập quán và tương tự pháp luật, tuy nhiên, án lệ cũng đã từng được áp dụng ngay cả trong trường hợp có luật, mặt khác, có trường hợp việc áp dụng án lệ lại phù hợp hơn, nên quy định áp dụng án lệ như Dự thảo là phù hợp. Khái niệm lẽ công bằng dù chưa được làm rõ nhưng vẫn cần phải đưa vào luật. Cũng có nhiều quan niệm, cách hiểu về lẽ công bằng, có thể không giống nhau do căn cứ tiêu chí, đối tượng mình muốn ưu tiên bảo vệ (bảo vệ Nhà nước hay cá nhân, bảo vệ chủ sở hữu hay người thứ ba…) là không giống nhau. Lẽ công bằng có thể phụ thuộc vào niềm tin nội tâm của thẩm phán hay nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, theo ý kiến của một chuyên gia người Pháp thì “lẽ công bằng là thực thi công lý một cách tối thượng, đôi khi đi ra ngoài các điều quy định của luật pháp, việc áp dụng lẽ công bằng phải được sự đồng ý của các bên”.

Một vấn đề khác cũng cần bàn đến, đó là nên để quy định ở Bộ luật Dân sự hay Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tôi cho rằng dù Bộ luật Tố tụng Dân sự có hay không nhưng quy định này cần phải đưa vào trong Bộ luật Dân sự vì nó là nguyên tắc nội dung rất quan trọng để bảo vệ người dân, mặt khác cũng không thấy có sự bất ổn rõ ràng khi tồn tại quy định này ở Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, cũng có thể cân nhắc về quan điểm cho rằng nội dung khoản 2 Điều 19 chỉ nên đưa vào Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về quyền nhân thân

Đối với các nước trên thế giới, không có mô hình thống nhất trong việc quy định về quyền nhân thân, mà việc quy định hay không, quy định như thế nào phụ thuộc vào cách tiếp cận và lựa chọn của mỗi nước. Chúng ta có thể khẳng định rằng, đối với Bộ luật Dân sự của Việt Nam thì việc quy định quyền nhân thân là cần thiết. Chỉ là quy định như thế nào thì lại có nhiều ý kiến, quan điểm được đưa ra như: Cần quy định cụ thể các quyền nhân thân để làm cơ sở cho các văn bản luật khác; chỉ nên quy định một số quyền nhằm xác định tư cách chủ thể của cá nhân trong quan hệ dân sự và những quyền đặc thù không quy định cụ thể trong Hiến pháp; chỉ quy định quyền nhân thân ở góc độ đặt trong mối quan hệ dân sự hay có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực dân sự, cùng với đó là xây dựng cơ chế thực thi; quy định những quyền mặc dù thuộc quyền dân sự nhưng lại được các luật khác xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi thì không cần ghi nhận trong Bộ luật Dân sự; cần loại bỏ những quyền thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, giữa cơ quan công quyền với cá nhân, những quyền mang tính chính trị nhiều hơn là tính dân sự; cần xác định những trường hợp thuộc quyền con người, quyền công dân thì không đưa vào Bộ luật Dân sự; ngoài ra, khi quy định thì không chỉ là nhắc lại Hiến pháp, mà phải cụ thể hóa, nêu rõ nội dung của quy phạm…

Thiết nghĩ, đúng là qua thực tiễn thấy rằng, việc quy định cụ thể các quyền nhân thân như đã tồn tại ở Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005 không cho thấy có bất cập lớn, trong khi cũng không vi phạm gì so với nguyên tắc của luật dân sự, quan trọng hơn là nó cũng đem lại ý nghĩa thiết thực như làm cơ sở cho các văn bản luật và dưới luật, tạo căn cứ để bảo vệ quyền lợi cho người dân, quy định đầy đủ sẽ phòng trừ được trường hợp không văn bản luật nào quy định thì sẽ có cơ sở tại Bộ luật Dân sự, do đó, chúng ta có thể kế thừa cách quy định này nhưng có chỉnh sửa thêm:

- Để các quyền nhân thân được thực thi hiệu quả trong cuộc sống thì quy định quyền cần xác định được các nội dung: Nội hàm của quyền, mức độ bảo hộ, hành vi xâm phạm quyền, phương thức bảo vệ, trách nhiệm phát sinh khi xâm phạm quyền (theo quan điểm của một chuyên gia). Hay theo một số quan điểm khác thì quy định quyền là phải xác định được nội hàm, cơ chế bảo vệ. Chính vì vậy, cách quy định một số quyền như Dự thảo hiện nay chỉ là ghi nhận lại Hiến pháp mà chưa được cụ thể hóa nên rất khó thực thi, hoặc một số quyền thì lại dẫn chiếu đến quy định ở văn bản pháp luật khác, điều này có thể ảnh hưởng đến “hình tượng” luật gốc của Bộ luật Dân sự.

- Trong nội dung quy định của một số quyền cũng cần chỉnh sửa để phù hợp với kinh tế - xã hội phát triển như hiện nay. Ví dụ, quyền đối với hình ảnh, nếu quy định cứ sử dụng hình ảnh là phải được sự đồng ý của người này thì rất khó thực hiện…

3. Về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

Theo tinh thần của Dự thảo thì chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự chỉ là cá nhân và pháp nhân, tuy nhiên vẫn có một số quy định riêng về việc tham gia quan hệ pháp luật dân sự của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, Nhà nước, cơ quan nhà nước ở trung ương và ở địa phương. Theo chúng tôi, không quy định hộ gia đình, tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là hợp lý vì chủ thể cơ bản chỉ có hai loại là cá nhân và pháp nhân, điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.

Trên thực tế, việc giải quyết những vấn đề liên quan đến hộ gia đình, tổ hợp tác gặp rất nhiều khó khăn về xác định thành viên, cơ chế đại diện, tài sản, trách nhiệm… Do đó, không ghi nhận hộ gia đình, tổ hợp tác là chủ thể còn nhằm mục đích quan trọng là hạn chế, loại bỏ những khó khăn đang là gánh nặng cho việc áp dụng pháp luật.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến lo ngại rằng, loại bỏ hai đối tượng này thì những quan hệ pháp luật dân sự có liên quan đã phát sinh, tồn tại sẽ giải quyết ra sao (quyết định giao đất của Nhà nước cho hộ gia đình, hợp đồng điện, nước…). Nhưng phải hiểu rõ rằng, không ghi nhận là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự không có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại thực tế khách quan của chúng, mà ở đây chỉ là không thừa nhận là chủ thể độc lập, không dành cho chúng một quy chế riêng, còn chúng vẫn có cơ chế để thực hiện.

Điều chúng ta cần quan tâm, giải quyết là nên quy định như thế nào, giải quyết cơ chế để thực hiện ra sao, vì nếu quy định như Dự thảo hiện nay thì chưa thể giải quyết được cốt lõi vấn đề, chưa đạt được mục đích muốn hướng tới. Đây là vấn đề không hề đơn giản, đặc biệt là trong khoảng thời gian ngắn sửa đổi Bộ luật Dân sự, mà trước mắt cần phải có sự phối hợp nghiêm túc của các cơ quan, tổ chức có liên quan để tìm phương án giải quyết vấn đề do lịch sử để lại này. Mặc dù ngay thời điểm hiện tại không thể bỏ ngay tư cách tham gia quan hệ pháp luật dân sự của hộ gia đình và tổ hợp tác, nhưng chúng ta nên tìm cách loại bỏ dần để tránh phải gánh nỗi lo pháp lý. Một số quan điểm, cách giải quyết có thể tham khảo:

- Đưa toàn bộ quy định về sự tham gia của các chủ thể này ra khỏi Bộ luật Dân sự, thời gian đầu thì để luật chuyên ngành điều chỉnh.

- Công nhận tư cách pháp nhân cho chúng tức là Hộ gia đình thì đi đăng ký tư cách pháp nhân, tổ hợp tác chuyển hóa thành hợp tác xã, như vậy cơ chế sẽ được xác định rõ ràng.

- Nếu vẫn tiếp tục quy định tư cách chủ thể tham gia dù độc lập hay không thì chúng cũng phải tồn tại làm sao đó để có thể nhận dạng được, quy định rõ cách thức xác định thành viên, chế độ đại diện, trách nhiệm.

- Cần khu trú lại, khu biệt hóa lại, tức là chỉ ghi nhận, quy định trong phạm vi đối với một số giao dịch cụ thể trong đó quan trọng là giao dịch liên quan đất đai, thu hẹp phạm vi các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thực hiện việc “đóng băng” từng bước.

4. Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức

Chúng ta đều biết, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bao gồm các điều kiện: Chủ thể xác lập; ý chí của chủ thể; mục đích, nội dung hợp đồng và hình thức. Tuy nhiên, xét về bản chất thì hình thức chỉ là thủ tục hành chính, nhưng do điều kiện thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng của nước ta nên pháp luật đã quy định khá chặt chẽ về hình thức của giao dịch, đặc biệt là với những giao dịch liên quan đến tài sản mà Nhà nước cần thực hiện việc quản lý. Theo một số chuyên gia nước ngoài, thì pháp luật Việt Nam nên giảm thiểu điều kiện hình thức đối với giao dịch dân sự nhằm đề cao sự thỏa thuận của các bên. Chính vì vậy, Dự thảo đã quy định trong một số trường hợp nhất định, dù vi phạm hình thức nhưng giao dịch không vô hiệu, nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi của chủ thể xác lập quan hệ cũng như lợi ích của người thứ ba.

Tuy nhiên, tinh thần, mục đích muốn hướng tới của luật là tốt nhưng cách quy định như Dự thảo thì cần xem xét lại.

Thứ nhất, hình như Dự thảo được xây dựng mang tính vụ việc (từ vụ việc ký kết hợp đồng mua bán, chuyển nhượng nhà đất khi không tuân thủ hình thức dẫn đến việc tư lợi cá nhân nên đã lợi dụng căn cứ này để hủy hợp đồng, do đó, Dự thảo đã đưa ra những trường hợp ngoại lệ mà dù vi phạm nhưng hợp đồng vẫn không bị vô hiệu nhằm tránh tình trạng trục lợi cá nhân, bảo vệ lợi ích cho chủ thể đang yếu thế hơn. Vì mang tính vụ việc nên không thể bao quát đủ các trường hợp như: Việc di chúc vi phạm hình thức hoặc hợp đồng có sự đồng thuận của hai bên mà không tuân thủ hình thức nhưng có người thứ ba yêu cầu hoàn tất thủ tục… thì giải quyết như thế nào?

Thứ hai, cần phải chỉnh sửa một đôi chỗ trong quy định này: Nên bỏ cụm từ “nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác” vì nếu có việc trốn tránh nghĩa vụ thì sẽ là căn cứ tuyên hợp đồng vô hiệu do giả tạo mà không liên quan đến hình thức hợp đồng. Bên cạnh đó, cần bổ sung sự có mặt của Tòa án, tức là theo yêu cầu của một hoặc hai bên thì Tòa án yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoàn tất thủ tục, chứ không thể để như Dự thảo thì rất khó thực hiện tức là từ yêu cầu trực tiếp của các bên mà các cơ quan có thẩm quyền hoàn tất thủ tục.

Bên cạnh đó, một số ý kiến góp ý cũng có thể nghiên cứu, xem xét như: Cần xác định mục tiêu quy định hợp đồng vô hiệu là gì để định hướng điều kiện hình thức, ví dụ, ở Pháp chỉ có 2 loại hợp đồng phải tuân thủ chặt chẽ hình thức là hợp đồng hôn nhân và hợp đồng bảo đảm vì mục tiêu được xác định ở đây là để bảo vệ sự đồng thuận của hai bên mà không ai có thể can thiệp kể cả Tòa án. Một quan điểm khác thì đề xuất, có thể xác định là điều kiện hình thức mà có giá trị chứng cứ thì không khiến giao dịch vô hiệu, còn nếu điều kiện hình thức có giá trị pháp lý thì khi vi phạm giao dịch sẽ vô hiệu. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, những trường hợp ngoại lệ nên để theo cách khác, vì quy định như Dự thảo hiện nay thì tương phản quá, ban đầu thì quy định rất nghiêm khắc về hình thức nhưng sau lại trừ một số trường hợp…

5. Về bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu

Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều trường hợp người thứ ba không được bảo vệ như mua tài sản chung nhưng giấy tờ chỉ đứng tên một người, mua phải tài sản bị trộm cắp… mà người thứ ba này không thể nhận biết được. Do đó, Dự thảo lần này đã quy định hướng bảo vệ người thứ ba nhiều hơn so với luật hiện hành. Do việc quản lý ở nước ta còn hạn chế, nên chúng ta không thể tham vọng là bảo vệ cả hai bên (chủ sở hữu và người thứ ba) như nhau nên cần phải lựa chọn phương án hợp lý, tối ưu hơn. Theo đó, trong những trường hợp mà chủ sở hữu có nhiều thông tin, điều kiện hơn để kiểm soát tài sản nhưng họ lại không quan tâm đầy đủ, hay trường hợp nếu chủ sở hữu có thiệt thòi thì người hưởng lợi lại thường là người thân thích của họ, cộng thêm căn cứ vào việc tài sản đã được đăng ký… khi đó, những trường hợp này người thứ ba đáng được bảo vệ nhiều hơn chủ sở hữu.

Nhiều nước trên thế giới có hệ thống đăng ký an toàn, công minh nên họ nghiêng về bảo vệ người thứ ba, tức là ưu tiên đảm bảo an toàn pháp lý. Do đó, nếu ủng hộ theo hướng như Dự thảo hiện tại thì chúng ta cần phải có giải pháp thúc đẩy việc đăng ký tài sản.

Tuy nhiên, quy định trong Dự thảo cần được bổ sung thêm một số vấn đề cho đầy đủ:

- Đối với tài sản là quyền sử dụng đất thế chấp thì tài sản này chỉ được chuyển giao cho bên nhận thế chấp (người thứ ba) khi bên thế chấp vi phạm nghĩa vụ, như vậy, người thứ ba có được bảo vệ không?

- Trường hợp nhà ở chưa làm xong thủ tục đăng ký nhưng có giấy tờ chứng minh đã chuyển quyền sở hữu theo Điều 12 Luật Nhà ở và trường hợp chủ thể giao dịch được thực hiện các quyền sử dụng đất theo quy định Điều 168 Luật Đất đai năm 2013 thì cũng cần được ghi nhận như tài sản đã đăng ký để bảo vệ người thứ ba.

6. Về hình thức sở hữu

Dự thảo đã quy định 3 hình thức sở hữu thay cho 6 hình thức ở quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005, đây chính là một bước tiến trong quy định về hình thức của Bộ luật Dân sự.

Sở hữu chung và sở hữu riêng là hai hình thức nhận được sự đồng thuận cao khi đưa ra thảo luận, lấy ý kiến. Riêng đối với hình thức sở hữu toàn dân thì còn tồn tại những quan điểm khác nhau: Có quan điểm cho rằng, chỉ cần quy định hai hình thức trên, còn sở hữu toàn dân không cần vì nó chỉ là một trường hợp đặc biệt của sở hữu chung thậm chí còn có ý kiến cho nó là sở hữu riêng; theo quan điểm khác thì thay sở hữu toàn dân bằng sở hữu nhà nước vì sở hữu toàn dân chỉ là chế độ sở hữu, trong khi đó là hình thức sở hữu thì cần xác định rõ được chủ thể sở hữu là ai mà sở hữu toàn dân thì lại quá trừu tượng, mặt khác, dù quy định sở hữu nhà nước nhưng pháp luật cũng sẽ quy định cơ chế chặt chẽ Nhà nước được làm gì và như thế nào, nên không cần lo ngại việc lạm quyền; nhưng cũng không ít ý kiến ủng hộ quy định sở hữu toàn dân vì nhiều lý do như để phù hợp với Hiến pháp, không thể đồng nhất với sở hữu nhà nước, để tránh việc Nhà nước lạm quyền; nhiều ý kiến cho rằng, đồng ý là sở hữu toàn dân không thể là sở hữu chung hay sở hữu riêng (vì nó có rất nhiều đặc thù từ đối tượng tài sản cho đến cơ chế thực hiện quyền) nhưng cần phải làm rõ nội hàm của hình thức sở hữu này để có cơ chế thực hiện; thay sở hữu toàn dân thành sở hữu công cũng là ý kiến đáng lưu ý… Thêm vào đó, có quan điểm còn cho rằng, muốn phân loại thì cần phải có tiêu chí, ví dụ, nếu dựa vào số lýợng thì có sở hữu chung và sở hữu riêng, nếu dựa vào chế độ thì có sở hữu công và sở hữu tư, nếu dựa vào chủ thể thì có thể phân chia tương tự như Bộ luật Dân sự năm 2005.

Mỗi quan điểm đều có những lý giải riêng phù hợp, nhưng trong điều kiện của nước ta hiện nay, theo chúng tôi nên quy định những hình thức sở hữu như Dự thảo.

7. Về thời điểm xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác

Về cơ bản, chúng tôi ủng hộ quy định như Dự thảo, vì từ sự quy định này đã thể hiện sự phân biệt giữa vật quyền và trái quyền (phân biệt thời điểm xác lập quyền sở hữu, các vật quyền khác với thời điểm có hiệu lực của hợp đồng); tôn trọng, ưu tiên ý chí thỏa thuận của chủ thể hơn.

Mặc dù vậy, quy định của Dự thảo cũng cần có một số lưu ý:

- Về cơ chế xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác, đối với động sản là chuyển giao vật, còn bất động sản là đăng ký. Do đó, chúng ta cần phải có hệ thống đăng ký tin cậy để nhìn vào đó có thể xác định được chủ sở hữu tài sản.

- Khi quy định “trừ trường hợp luật hoặc hợp đồng có quy định khác”, vậy trong trường hợp các bên thỏa thuận thì người thứ ba làm thế nào, căn cứ vào đâu để biết được chủ thể này được xác lập quyền sở hữu hay chưa?

- Cần phải dự tính một số trường hợp xảy ra như: Hợp đồng đã công chứng nhưng chưa đăng ký mà chủ thể chết; khi hệ thống đăng ký chậm, giao dịch chưa kịp đăng ký xong nhưng chủ thể đã thực hiện giao dịch (ở Đức, trong khoảng thời gian từ khi đi đăng ký đến đăng ký xong, để bảo vệ người thụ đắc trước, thì có cách thức đăng ký tạm thời)

8. Về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Trên thực tế, đã từng xảy ra nhiều trường hợp, trong khi thực hiện hợp đồng, do hoàn cảnh thay đổi làm cho lợi ích của một bên bị ảnh hưởng nghiêm trọng, rất khó khắc phục, do đó, để đảm bảo cân bằng lợi ích, Dự thảo đã cho phép các bên được điều chỉnh hợp đồng, điều này thể hiện nguyên tắc tính có giới hạn của thực hiện quyền dân sự.

Chúng tôi nhất trí với tinh thần của Dự thảo vì ngoài nguyên tắc thì cũng nên hướng tới giá trị cơ bản là lẽ công bằng. Tuy nhiên, đây là vấn đề mới được đưa vào Dự thảo, dù đã từng có tiền lệ nhưng chưa thể cho là được thực tế kiểm nghiệm, trong khi lại dễ nảy sinh nhiều phức tạp, tiêu cực, do đó, khi đưa vấn đề này vào luật thì phải hết sức thận trọng. Theo kinh nghiệm của Đức, luật là do Quốc hội ban hành nhưng Tòa án phải giải thích, vì lý do an toàn pháp lý thì vấn đề điều chỉnh hợp đồng chỉ nên được sử dụng trong trường hợp ngoại lệ, hãn hữu, không nên để Tòa án từ đây lại xây dựng nên hợp đồng, hay chỉ sử dụng nó như là công cụ để xử lý tình huống cụ thể.

Điều quan trọng nhất cần quan tâm là điều kiện để được điều chỉnh hợp đồng, theo một số chuyên gia nước ngoài thì cần phải đảm bảo đủ các điều kiện: Hoàn cảnh phải thay đổi một cách rõ ràng; hoàn cảnh này khi thiết lập hợp đồng không dự đoán trước được; không do lỗi, chủ ý của một bên; gây ra sự bất bình đẳng cho các bên giao kết hợp đồng, khiến đảo lộn ý định các bên; hai bên không thương thảo được và có mong muốn thương thảo khi hoàn cảnh thay đổi. Theo ý kiến một chuyên gia khác thì trường hợp hoàn cảnh thay đổi ở đây là chưa đến mức bất khả kháng (bất khả kháng là làm cho không thực hiện được hợp đồng, còn hoàn cảnh thay đổi là làm quá mất cấn xứng 2 bên), mà phải hoàn toàn khách quan và gây ra thiệt hại rất lớn cho một bên.

Như vậy, có thể thấy Dự thảo hiện nay vẫn còn lỏng lẻo, chưa đảm bảo đầy đủ điều kiện chặt chẽ nên cần được chỉnh sửa, bổ sung:

Thứ nhất, cần quy định rõ hơn về hoàn cảnh thay đổi, trong đó cần bổ sung hoàn cảnh này phải khách quan, không do lỗi, chủ ý của bên nào.

Thứ hai, bên bị ảnh hưởng không thể làm gì để thay đổi hay giảm nhẹ thiệt hại do sự kiện đó mang lại hoặc đã thực hiện các biện pháp cần thiết để khắc phục, giảm nhẹ thiệt hại nhưng không đạt hiệu quả.

Thứ ba, không nên quy định theo hướng Tòa án được điều chỉnh ngay mà cần phải có điều kiện là có yêu cầu của chủ thể hợp đồng và phải xuất phát từ nhu cầu muốn đàm phán, thỏa thuận của các bên.

Ngoài điều kiện, thẩm quyền của Tòa án cũng là vấn đề không thể bỏ qua. Chúng ta nên thu hẹp thẩm quyền này và đưa ra phương án bổ sung, thay thế mềm mại, phù hợp hơn để Tòa án lựa chọn giải quyết. Hạn chế trường hợp Tòa án được “phân chia” lợi ích vì như vậy là can thiệp quá sâu vào việc thực hiện hợp đồng. Đặc biệt là cần cân nhắc quyền yêu cầu “bồi thường thiệt hại”, vì trách nhiệm bồi thường này là quá nặng cho đương sự. Dự thảo cần biên soạn theo hướng tôn trọng sự thỏa thuận các bên, các bên tự quyết, xây dựng trên ý chí tự nguyện.

Bên cạnh đó, một số ý kiến góp ý khác cho quy định này của Dự thảo cũng đáng lưu ý như:

- Bổ sung vai trò của trọng tài bên cạnh Tòa án, để ít nhất cũng giải quyết khắc phục được trường hợp nếu các bên có thỏa thuận trọng tài.

- Bỏ quy định phải bồi thường thiệt hại vì việc bồi thường này được tồn tại trong khuôn khổ chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực do từ chối đàm phán).

- Cần định ra một cách tương đối là ảnh hưởng “nghiêm trọng” đến mức nào thì cho phép điều chỉnh hợp đồng, nếu không dễ gây ra việc viện cớ để có thể đưa ra tòa giải quyết.

9. Về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản

Về quy định lãi suất trần như trong Dự thảo đã tồn tại một số ý kiến lo ngại như:

Một là, lấy lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố làm tham chiếu là không phù hợp vì đây chỉ là mức lãi suất chung với mục đích điều hành chính sách tiền tệ, không mang tính thị trường, không chia thành các mức lãi suất khác nhau để áp dụng cho các hời hạn khác nhau, chủ thể khó nhận biết là có phù hợp với loại vay tương ứng hay không.

Hai là, quy định này sẽ ảnh hưởng, hạn chế việc thỏa thuận mức lãi suất giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, vì luật chuyên ngành về tín dụng cho phép các bên được thỏa thuận lãi suất, trong khi luật này lại không được trái với luật dân sự, tức là phải chịu mức khống chế lãi suất trần.

Do đó, đã có đề xuất là nên lấy lãi suất trung bình của ba liên ngân hàng lớn trong nước tương ứng làm tham chiếu, lấy mức này làm mức trần lãi xuất cho vay, hoặc là quy định lãi suất trần cụ thể.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, phương án như Dự thảo là phù hợp hơn cả vì:

- Việc quy định lãi suất trần cụ thể khó có thể phù hợp với sự phát triển năng động của nền kinh tế.

- Cần phải có căn cứ để quy định trần lãi suất và việc căn cứ vào lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là căn cứ đáng tin cậy, thông tin lại chính xác, rõ ràng.

- Xét về bản chất, lãi suất của ngân hàng lớn trong nước cũng dựa trên lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước chỉ khác về biên độ % lãi suất cộng dồn như thế nào đối với Ngân hàng Nhà nước. Trong khi đó, khi áp dụng theo phương án lấy lãi suất trung bình của ba liên ngân hàng lớn lại nảy sinh vấn đề liệu những ngân hàng này có được lựa chọn cố định hay thay đổi theo thời gian; ngân hàng lớn là ngân hàng thế nào…

- Dự thảo quy định lãi suất trần là để tránh hiện tượng cho vay nặng lãi, chủ yếu điều chỉnh giữa các chủ thể thông thường trong quan hệ pháp luật dân sự, còn với những quan hệ đặc thù như tín dụng, luật cũng đã quy định mềm dẻo bằng quy định “trừ trường hợp luật có quy định khác”, tức là nếu luật về tín dụng mà quy định khác thì sẽ áp dụng theo quy định của luật chuyên ngành.

Nhưng Dự thảo có thể bổ sung quy định việc phân khúc một số lãi suất, như vậy sẽ hoàn thiện hơn.

10. Về thời hiệu

Dự thảo đã bỏ quy định về thời hiệu khởi kiện, thay vào đó là quy định chung về thời hiệu và thời hiệu thừa kế theo hướng: Cá nhân, pháp nhân phải yêu cầu Tòa án giải quyết vụ, việc dân sự trong thời hạn luật định; hết thời hạn đó mà cá nhân, pháp nhân mới có yêu cầu thì thay vì từ chối giải quyết yêu cầu như quy định hiện hành, Tòa án vẫn phải thụ lý, giải quyết và tuyên bố chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự.

Việc bỏ quy định thời hiệu khởi kiện như Dự thảo là phù hợp, vì nếu đi sâu tìm hiểu về giải quyết tranh chấp thực tế sẽ cho thấy, việc quy định thời hiệu khởi kiện như hiện hành chưa giúp giải quyết được một cách triệt để và dứt điểm các tranh chấp phát sinh. Bên cạnh đó, khi không được Nhà nước bảo vệ quyền lợi thì các chủ thể có thể sử dụng những biện pháp hành xử ngoài vòng pháp luật để xử lý nội bộ với nhau, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Không quy định thời hiệu khởi kiện còn có mục đích rất quan trọng là hạn chế tình trạng Tòa án có thể căn cứ vào thời hiệu mà từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc, làm cho quyền lợi của người dân không được bảo đảm. Bên cạnh đó, điều này cũng là phù hợp với kinh nghiệm nhiều nước có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới.

Về thời hiệu, các quan điểm thường xoay quanh nhiều vấn đề liên quan đến thời hiệu thừa kế. Có ý kiến cho rằng, thời hiệu khởi kiện về thừa kế vẫn tồn tại chỉ là thay tên điều luật thành thời hiệu thừa kế. Nhưng chúng ta cũng thấy rằng ý nghĩa của thời hiệu này đã thay đổi, vì Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết khi hết thời hạn này, mà khi đó Tòa án phải giải quyết và tuyên bố chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự. Cũng có quan điểm cho rằng không nên áp dụng thời hiệu thừa kế đối với di chúc chung, hạn chế phân chia di sản và di sản thờ cúng, theo đó, nếu đã có tư cách thừa kế thì hưởng quyền yêu cầu, khi đó dù bao nhiêu năm vẫn được chia di sản, chỉ áp dụng thời hiệu đối với trường hợp người muốn kiện để đảm bảo tư cách thừa kế của mình. Cũng có quan điểm cho rằng không nhất thiết đưa thời hiệu cụ thể hoặc tăng thời hiệu thừa kế lên…

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: