Thứ bảy 07/03/2026 16:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bình luận một số quy định trong Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về những tranh chấp kinh doanh , thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật và thực tiễn, tác giả phân tích, đánh giá các qui định trong Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 liên quan đến thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án và đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện điều luật này. Cụ thể:

1. Quy định tại khoản 1: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

So với khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 khi qui định về vấn đề này thì khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khái quát hóa điều luật, bỏ tình trạng liệt kê từ điểm a đến điểm o như Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Nhờ đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khắc phục tình trạng bỏ sót các tranh chấp kinh doanh thương mại đáng lẽ cần được Tòa án nhân dân giải quyết như các tranh chấp phát sinh từ hoạt động đấu giá, đấu thầu, logistics, môi giới, ủy thác, gia công...

Hoạt động kinh doanh thương mại vô cùng phong phú, đa dạng và vận động phát triển không ngừng. Hơn nữa, thực hiện tinh thần hiến định “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 33) thì điều chắc chắn là thị trường sẽ xuất hiện thêm nhiều ngành nghề kinh doanh mới do chính cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh nghĩ ra từ nhu cầu tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vì vậy, nếu điều luật dùng kỹ thuật liệt kê thì dễ lạc hậu và bỏ sót. Nên chăng chỉ liệt kê những tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án (nếu có). Do đó, sự khái quát hóa như Điều 30 là một sự tiến bộ so với Bộ luật Tố tụng dân sự cũ.

Tuy nhiên, cũng trong chính khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn bộc lộ nhiều vấn đề cần được giải quyết.

Theo khoản này, chỉ có các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thì mới do Tòa án giải quyết.

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì các tổ chức, cá nhân sau phải đăng ký kinh doanh: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm loại hai thành viên trở lên và loại một thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Riêng các hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Đồng thời, khi nghiên cứu Điều 1 Luật Thương mại hiện hành cho thấy, Luật này không chỉ điều chỉnh các hoạt động thương mại (được thực hiện trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam) giữa các thương nhân (khoản 1 và 2) mà còn điều chỉnh “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này” (khoản 3). Nghĩa là, bên cạnh việc điều chỉnh hoạt động thương mại diễn ra giữa các thương nhân, Luật Thương mại còn điều chỉnh hoạt động giữa thương nhân và bên không phải là thương nhân - là bên không có mục đích sinh lợi, với điều kiện bên không có mục đích sinh lợi chọn Luật Thương mại áp dụng cho hoạt động giữa họ và thương nhân. Luật Thương mại cũng giải thích rõ: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (còn được gọi là thương nhân đúng nghĩa) (Điều 6). Điều đó có nghĩa là, một trong những điều kiện để được coi là thương nhân (đúng nghĩa) là có đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, Luật Thương mại cũng để ngỏ trường hợp thương nhân chưa đăng ký kinh doanh (còn gọi là thương nhân thực tế) nhưng thỏa mãn các điều kiện còn lại của Điều 6 Luật Thương mại, đó là: (i) Có hoạt động thương mại; (ii) Hoạt động thương mại độc lập; (iii) Hoạt động thương mại thường xuyên. Cũng trong Luật Thương mại, tại khoản 1 Điều 3, hoạt động thương mại được định nghĩa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

Tổng hợp những qui định trên của Luật Thương mại cho thấy loại tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận như qui định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chính là tranh chấp giữa thương nhân với thương nhân và cả hai bên này đều là thương nhân đúng nghĩa vì có đăng ký kinh doanh, mà không phải là thương nhân thực tế.

Vậy thì, hoạt động thương mại giữa các thương nhân thực tế (đều không có đăng ký kinh doanh), hoặc giữa thương nhân thực tế (không có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (cũng không có đăng ký kinh doanh) hoặc giữa thương nhân đúng nghĩa (có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (không đăng ký kinh doanh) thì cũng là hoạt động thương mại theo Luật Thương mại nhưng tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại này lại không được ghi nhận tại khoản 1 Điều 30, do một hoặc cả hai bên đều không có đăng ký kinh doanh. Đối với các tranh chấp này, các bên phải lựa chọn trọng tài để giải quyết hoặc do Tòa dân sự giải quyết. Nhưng nếu do Tòa dân sự giải quyết thì mâu thuẫn với lý luận: Tranh chấp kinh doanh, thương mại phải do Tòa kinh tế giải quyết bằng pháp luật kinh tế chứ không thể do Tòa dân sự xét xử theo pháp luật dân sự.

Mặt khác, việc dùng thuật ngữ có “mục đích lợi nhuận” như khoản 1 Điều 30 là không chính xác. Theo cách hiểu chung, lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Trong kế toán, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa giá bánchi phí sản xuất[1]. Đồng thời, như đã đề cập ở trên, thương nhân là chủ thể của hoạt động thương mại mà hoạt động thương mại được Điều 3 Luật Thương mại định nghĩa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi (chứ không phải sinh lợi nhuận). Sinh lợi có thể không sinh lợi nhuận nhưng đem lại lợi ích nào đó cho thương nhân. Ví dụ như, thương nhân bỏ tiền ra tài trợ cho một giải đấu thể thao để quảng bá thương hiệu thì không sinh lời cho thương nhân nhưng sinh lợi cho họ. Vì vậy, dùng thuật ngữ “sinh lợi” thì chính xác hơn “mục đích lợi nhuận”.

2. Quy định tại khoản 3: Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

Đây là điều khoản mới so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Sự bổ sung này là cần thiết vì tranh chấp trong công ty không chỉ diễn ra giữa thành viên công ty với công ty hoặc giữa thành viên công ty với nhau mà còn là tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty với công ty hoặc với thành viên công ty. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 lại dùng từ “chuyển nhượng” thì không chính xác. Bởi lẽ, chuyển nhượng được hiểu là mua bán; trong khi đó, quan hệ giữa người chưa phải là thành viên công ty với công ty hoặc với thành viên công ty liên quan đến phần vốn góp không chỉ là các giao dịch mua bán mà còn có các giao dịch khác như thừa kế, tặng cho, trả nợ bằng phần vốn góp… Do đó, qui định này của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không bao quát hết các trường hợp qui định tại Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

3. Về khoản 4 Điều 30: Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

Điều khoản này thể hiện sự lủng củng, thiếu nhất quán về cú pháp trong một câu của điều luật. Đầu tiên là việc dụng từ “người quản lý” trong công ty trách nhiệm hữu hạn là kỹ thuật gộp. Điều 4 Luật Doanh nghiệp đã định nghĩa: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”. Nhưng tại khoản 4 Điều 30 nói trên, thuật ngữ này lại không được dùng tiếp cho công ty cổ phần ngay sau đó; mà các nhà làm luật lại dùng cách liệt kê: Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc trong công ty cổ phần. Đồng thời, nếu căn cứ vào định nghĩa người quản lý doanh nghiệp như trên của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì thấy rõ khoản 3 Điều 30 đã bỏ sót loại tranh chấp giữa công ty hợp danh với người quản lý doanh nghiệp của công ty này và tranh chấp giữa chủ doanh nghiệp tư nhân với Giám đốc thuê. Tiếp đến là cụm từ “liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty”, cụm từ này cũng cần biên tập lại cho logic và khái quát. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, có 05 hình thức tổ chức lại doanh nghiệp được qui định từ Điều 192 đến Điều 198 gồm: Chia công ty, tách công ty, hợp nhất công ty, sáp nhập công ty và chuyển đổi doanh nghiệp. Vì vậy, chỉ cần dùng thuật ngữ “tổ chức lại doanh nghiệp” là đã bao quát tất cả các trường hợp trên. Chưa kể việc chen từ “bàn giao tài sản” vào giữa các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp cũng thể hiện sự không hợp lý của việc liệt kê vì “bàn giao tài sản” không phải là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp. Mặt khác, cụm từ “bàn giao tài sản của công ty” này gây khó hiểu, không rõ là bàn giao tài sản trong trường hợp nào. Theo khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2014 khi qui định về nghĩa vụ “chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn” cho công ty của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần thì thủ tục được thực hiện như sau: (i) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; (ii) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.

Vậy nên, nếu cụm từ “bàn giao tài sản” là nhằm đề cập đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn của thành viên góp vốn sang cho công ty bằng biên bản giao nhận thì chỉ thực hiện việc bàn giao này đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu. Còn đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, nếu dùng từ “bàn giao tài sản” thì lại quá hẹp.

Thêm một ý nữa, cần bổ sung các tranh chấp liên quan đến tạm ngừng kinh doanh và phá sản vào điều khoản trên, vì đây là một dạng tranh chấp vẫn có thể xảy ra trong doanh nghiệp.

Thiết nghĩ, các nhà nghiên cứu lập pháp có thể nghiên cứ, chỉnh sửa khoản 4 Điều 30 như sau: “Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý doanh nghiệp, giữa Giám đốc được thuê với người quản lý của doanh nghiệp tư nhân, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, tổ chức hoạt động, tạm ngừng kinh doanh, giải thể, phá sản, tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty”.

4. Về các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Theo qui định của khoản này, trừ những qui định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30 như trên là thuộc thẩm quyền của Tòa án, thì các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại cũng sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Suy ra rằng, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà không được qui định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật thì Tòa án sẽ không được thụ lý giải quyết. Ví dụ, hoạt động thương mại giữa các thương nhân thực tế (đều không có đăng ký kinh doanh), hoặc giữa thương nhân thực tế (không có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (cũng không có đăng ký kinh doanh) hoặc giữa thương nhân đúng nghĩa (có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (không đăng ký kinh doanh) thì cũng là hoạt động thương mại theo Luật Thương mại nhưng tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại này lại không được ghi nhận tại khoản 1 Điều 30, do một hoặc cả hai bên đều không có đăng ký kinh doanh (như đã phân tích ở trên và cũng không thuộc khoản 2, 3,4 Điều 30). Ở đây cụm từ “cơ quan, tổ chức” có thể được hiểu bao gồm cả trọng tài thương mại. Nếu vậy, trừ các tranh chấp ở khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30, những tranh chấp kinh doanh thương mại khác nếu thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại thì Tòa án không có quyền giải quyết. Điều này là không thể, vì trọng tài là cơ quan tài phán tư, do các bên tranh chấp lựa chọn bằng thỏa thuận trọng tài hợp pháp. Nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không được thụ lý, dù vụ tranh chấp đó theo luật là thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài và khi đó, các bên vẫn có quyền nộp đơn kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Còn nếu qui định như khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự thì các tranh chấp loại này, do các bên không chọn trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu nên không giải quyết được bằng trọng tài mà khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng loại trừ thẩm quyền của Tòa án thì cơ quan nào sẽ giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại loại này?

Với những phân tích trên, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu sửa đổi Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để hoàn thiện các qui định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án.

ThS. Tô Thị Đông Hà

Đại học Tài chính - Marketing


[1] Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí. Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: