Thứ tư 20/05/2026 10:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bình luận một số quy định trong Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về những tranh chấp kinh doanh , thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật và thực tiễn, tác giả phân tích, đánh giá các qui định trong Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 liên quan đến thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án và đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện điều luật này. Cụ thể:

1. Quy định tại khoản 1: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

So với khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 khi qui định về vấn đề này thì khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khái quát hóa điều luật, bỏ tình trạng liệt kê từ điểm a đến điểm o như Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Nhờ đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khắc phục tình trạng bỏ sót các tranh chấp kinh doanh thương mại đáng lẽ cần được Tòa án nhân dân giải quyết như các tranh chấp phát sinh từ hoạt động đấu giá, đấu thầu, logistics, môi giới, ủy thác, gia công...

Hoạt động kinh doanh thương mại vô cùng phong phú, đa dạng và vận động phát triển không ngừng. Hơn nữa, thực hiện tinh thần hiến định “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 33) thì điều chắc chắn là thị trường sẽ xuất hiện thêm nhiều ngành nghề kinh doanh mới do chính cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh nghĩ ra từ nhu cầu tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vì vậy, nếu điều luật dùng kỹ thuật liệt kê thì dễ lạc hậu và bỏ sót. Nên chăng chỉ liệt kê những tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án (nếu có). Do đó, sự khái quát hóa như Điều 30 là một sự tiến bộ so với Bộ luật Tố tụng dân sự cũ.

Tuy nhiên, cũng trong chính khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn bộc lộ nhiều vấn đề cần được giải quyết.

Theo khoản này, chỉ có các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thì mới do Tòa án giải quyết.

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì các tổ chức, cá nhân sau phải đăng ký kinh doanh: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm loại hai thành viên trở lên và loại một thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Riêng các hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Đồng thời, khi nghiên cứu Điều 1 Luật Thương mại hiện hành cho thấy, Luật này không chỉ điều chỉnh các hoạt động thương mại (được thực hiện trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam) giữa các thương nhân (khoản 1 và 2) mà còn điều chỉnh “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này” (khoản 3). Nghĩa là, bên cạnh việc điều chỉnh hoạt động thương mại diễn ra giữa các thương nhân, Luật Thương mại còn điều chỉnh hoạt động giữa thương nhân và bên không phải là thương nhân - là bên không có mục đích sinh lợi, với điều kiện bên không có mục đích sinh lợi chọn Luật Thương mại áp dụng cho hoạt động giữa họ và thương nhân. Luật Thương mại cũng giải thích rõ: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (còn được gọi là thương nhân đúng nghĩa) (Điều 6). Điều đó có nghĩa là, một trong những điều kiện để được coi là thương nhân (đúng nghĩa) là có đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, Luật Thương mại cũng để ngỏ trường hợp thương nhân chưa đăng ký kinh doanh (còn gọi là thương nhân thực tế) nhưng thỏa mãn các điều kiện còn lại của Điều 6 Luật Thương mại, đó là: (i) Có hoạt động thương mại; (ii) Hoạt động thương mại độc lập; (iii) Hoạt động thương mại thường xuyên. Cũng trong Luật Thương mại, tại khoản 1 Điều 3, hoạt động thương mại được định nghĩa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

Tổng hợp những qui định trên của Luật Thương mại cho thấy loại tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận như qui định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chính là tranh chấp giữa thương nhân với thương nhân và cả hai bên này đều là thương nhân đúng nghĩa vì có đăng ký kinh doanh, mà không phải là thương nhân thực tế.

Vậy thì, hoạt động thương mại giữa các thương nhân thực tế (đều không có đăng ký kinh doanh), hoặc giữa thương nhân thực tế (không có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (cũng không có đăng ký kinh doanh) hoặc giữa thương nhân đúng nghĩa (có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (không đăng ký kinh doanh) thì cũng là hoạt động thương mại theo Luật Thương mại nhưng tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại này lại không được ghi nhận tại khoản 1 Điều 30, do một hoặc cả hai bên đều không có đăng ký kinh doanh. Đối với các tranh chấp này, các bên phải lựa chọn trọng tài để giải quyết hoặc do Tòa dân sự giải quyết. Nhưng nếu do Tòa dân sự giải quyết thì mâu thuẫn với lý luận: Tranh chấp kinh doanh, thương mại phải do Tòa kinh tế giải quyết bằng pháp luật kinh tế chứ không thể do Tòa dân sự xét xử theo pháp luật dân sự.

Mặt khác, việc dùng thuật ngữ có “mục đích lợi nhuận” như khoản 1 Điều 30 là không chính xác. Theo cách hiểu chung, lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Trong kế toán, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa giá bánchi phí sản xuất[1]. Đồng thời, như đã đề cập ở trên, thương nhân là chủ thể của hoạt động thương mại mà hoạt động thương mại được Điều 3 Luật Thương mại định nghĩa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi (chứ không phải sinh lợi nhuận). Sinh lợi có thể không sinh lợi nhuận nhưng đem lại lợi ích nào đó cho thương nhân. Ví dụ như, thương nhân bỏ tiền ra tài trợ cho một giải đấu thể thao để quảng bá thương hiệu thì không sinh lời cho thương nhân nhưng sinh lợi cho họ. Vì vậy, dùng thuật ngữ “sinh lợi” thì chính xác hơn “mục đích lợi nhuận”.

2. Quy định tại khoản 3: Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

Đây là điều khoản mới so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Sự bổ sung này là cần thiết vì tranh chấp trong công ty không chỉ diễn ra giữa thành viên công ty với công ty hoặc giữa thành viên công ty với nhau mà còn là tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty với công ty hoặc với thành viên công ty. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 lại dùng từ “chuyển nhượng” thì không chính xác. Bởi lẽ, chuyển nhượng được hiểu là mua bán; trong khi đó, quan hệ giữa người chưa phải là thành viên công ty với công ty hoặc với thành viên công ty liên quan đến phần vốn góp không chỉ là các giao dịch mua bán mà còn có các giao dịch khác như thừa kế, tặng cho, trả nợ bằng phần vốn góp… Do đó, qui định này của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không bao quát hết các trường hợp qui định tại Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

3. Về khoản 4 Điều 30: Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

Điều khoản này thể hiện sự lủng củng, thiếu nhất quán về cú pháp trong một câu của điều luật. Đầu tiên là việc dụng từ “người quản lý” trong công ty trách nhiệm hữu hạn là kỹ thuật gộp. Điều 4 Luật Doanh nghiệp đã định nghĩa: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”. Nhưng tại khoản 4 Điều 30 nói trên, thuật ngữ này lại không được dùng tiếp cho công ty cổ phần ngay sau đó; mà các nhà làm luật lại dùng cách liệt kê: Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc trong công ty cổ phần. Đồng thời, nếu căn cứ vào định nghĩa người quản lý doanh nghiệp như trên của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì thấy rõ khoản 3 Điều 30 đã bỏ sót loại tranh chấp giữa công ty hợp danh với người quản lý doanh nghiệp của công ty này và tranh chấp giữa chủ doanh nghiệp tư nhân với Giám đốc thuê. Tiếp đến là cụm từ “liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty”, cụm từ này cũng cần biên tập lại cho logic và khái quát. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, có 05 hình thức tổ chức lại doanh nghiệp được qui định từ Điều 192 đến Điều 198 gồm: Chia công ty, tách công ty, hợp nhất công ty, sáp nhập công ty và chuyển đổi doanh nghiệp. Vì vậy, chỉ cần dùng thuật ngữ “tổ chức lại doanh nghiệp” là đã bao quát tất cả các trường hợp trên. Chưa kể việc chen từ “bàn giao tài sản” vào giữa các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp cũng thể hiện sự không hợp lý của việc liệt kê vì “bàn giao tài sản” không phải là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp. Mặt khác, cụm từ “bàn giao tài sản của công ty” này gây khó hiểu, không rõ là bàn giao tài sản trong trường hợp nào. Theo khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2014 khi qui định về nghĩa vụ “chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn” cho công ty của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần thì thủ tục được thực hiện như sau: (i) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; (ii) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.

Vậy nên, nếu cụm từ “bàn giao tài sản” là nhằm đề cập đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn của thành viên góp vốn sang cho công ty bằng biên bản giao nhận thì chỉ thực hiện việc bàn giao này đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu. Còn đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, nếu dùng từ “bàn giao tài sản” thì lại quá hẹp.

Thêm một ý nữa, cần bổ sung các tranh chấp liên quan đến tạm ngừng kinh doanh và phá sản vào điều khoản trên, vì đây là một dạng tranh chấp vẫn có thể xảy ra trong doanh nghiệp.

Thiết nghĩ, các nhà nghiên cứu lập pháp có thể nghiên cứ, chỉnh sửa khoản 4 Điều 30 như sau: “Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý doanh nghiệp, giữa Giám đốc được thuê với người quản lý của doanh nghiệp tư nhân, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, tổ chức hoạt động, tạm ngừng kinh doanh, giải thể, phá sản, tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty”.

4. Về các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Theo qui định của khoản này, trừ những qui định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30 như trên là thuộc thẩm quyền của Tòa án, thì các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại cũng sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Suy ra rằng, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà không được qui định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật thì Tòa án sẽ không được thụ lý giải quyết. Ví dụ, hoạt động thương mại giữa các thương nhân thực tế (đều không có đăng ký kinh doanh), hoặc giữa thương nhân thực tế (không có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (cũng không có đăng ký kinh doanh) hoặc giữa thương nhân đúng nghĩa (có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (không đăng ký kinh doanh) thì cũng là hoạt động thương mại theo Luật Thương mại nhưng tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại này lại không được ghi nhận tại khoản 1 Điều 30, do một hoặc cả hai bên đều không có đăng ký kinh doanh (như đã phân tích ở trên và cũng không thuộc khoản 2, 3,4 Điều 30). Ở đây cụm từ “cơ quan, tổ chức” có thể được hiểu bao gồm cả trọng tài thương mại. Nếu vậy, trừ các tranh chấp ở khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30, những tranh chấp kinh doanh thương mại khác nếu thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại thì Tòa án không có quyền giải quyết. Điều này là không thể, vì trọng tài là cơ quan tài phán tư, do các bên tranh chấp lựa chọn bằng thỏa thuận trọng tài hợp pháp. Nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không được thụ lý, dù vụ tranh chấp đó theo luật là thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài và khi đó, các bên vẫn có quyền nộp đơn kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Còn nếu qui định như khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự thì các tranh chấp loại này, do các bên không chọn trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu nên không giải quyết được bằng trọng tài mà khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng loại trừ thẩm quyền của Tòa án thì cơ quan nào sẽ giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại loại này?

Với những phân tích trên, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu sửa đổi Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để hoàn thiện các qui định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án.

ThS. Tô Thị Đông Hà

Đại học Tài chính - Marketing


[1] Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí. Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: