Chủ nhật 25/10/2026 10:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bình luận một số quy định trong Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về những tranh chấp kinh doanh , thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật và thực tiễn, tác giả phân tích, đánh giá các qui định trong Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 liên quan đến thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án và đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện điều luật này. Cụ thể:

1. Quy định tại khoản 1: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

So với khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 khi qui định về vấn đề này thì khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khái quát hóa điều luật, bỏ tình trạng liệt kê từ điểm a đến điểm o như Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Nhờ đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khắc phục tình trạng bỏ sót các tranh chấp kinh doanh thương mại đáng lẽ cần được Tòa án nhân dân giải quyết như các tranh chấp phát sinh từ hoạt động đấu giá, đấu thầu, logistics, môi giới, ủy thác, gia công...

Hoạt động kinh doanh thương mại vô cùng phong phú, đa dạng và vận động phát triển không ngừng. Hơn nữa, thực hiện tinh thần hiến định “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 33) thì điều chắc chắn là thị trường sẽ xuất hiện thêm nhiều ngành nghề kinh doanh mới do chính cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh nghĩ ra từ nhu cầu tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vì vậy, nếu điều luật dùng kỹ thuật liệt kê thì dễ lạc hậu và bỏ sót. Nên chăng chỉ liệt kê những tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án (nếu có). Do đó, sự khái quát hóa như Điều 30 là một sự tiến bộ so với Bộ luật Tố tụng dân sự cũ.

Tuy nhiên, cũng trong chính khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn bộc lộ nhiều vấn đề cần được giải quyết.

Theo khoản này, chỉ có các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thì mới do Tòa án giải quyết.

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì các tổ chức, cá nhân sau phải đăng ký kinh doanh: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm loại hai thành viên trở lên và loại một thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Riêng các hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Đồng thời, khi nghiên cứu Điều 1 Luật Thương mại hiện hành cho thấy, Luật này không chỉ điều chỉnh các hoạt động thương mại (được thực hiện trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam) giữa các thương nhân (khoản 1 và 2) mà còn điều chỉnh “hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này” (khoản 3). Nghĩa là, bên cạnh việc điều chỉnh hoạt động thương mại diễn ra giữa các thương nhân, Luật Thương mại còn điều chỉnh hoạt động giữa thương nhân và bên không phải là thương nhân - là bên không có mục đích sinh lợi, với điều kiện bên không có mục đích sinh lợi chọn Luật Thương mại áp dụng cho hoạt động giữa họ và thương nhân. Luật Thương mại cũng giải thích rõ: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (còn được gọi là thương nhân đúng nghĩa) (Điều 6). Điều đó có nghĩa là, một trong những điều kiện để được coi là thương nhân (đúng nghĩa) là có đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, Luật Thương mại cũng để ngỏ trường hợp thương nhân chưa đăng ký kinh doanh (còn gọi là thương nhân thực tế) nhưng thỏa mãn các điều kiện còn lại của Điều 6 Luật Thương mại, đó là: (i) Có hoạt động thương mại; (ii) Hoạt động thương mại độc lập; (iii) Hoạt động thương mại thường xuyên. Cũng trong Luật Thương mại, tại khoản 1 Điều 3, hoạt động thương mại được định nghĩa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

Tổng hợp những qui định trên của Luật Thương mại cho thấy loại tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận như qui định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chính là tranh chấp giữa thương nhân với thương nhân và cả hai bên này đều là thương nhân đúng nghĩa vì có đăng ký kinh doanh, mà không phải là thương nhân thực tế.

Vậy thì, hoạt động thương mại giữa các thương nhân thực tế (đều không có đăng ký kinh doanh), hoặc giữa thương nhân thực tế (không có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (cũng không có đăng ký kinh doanh) hoặc giữa thương nhân đúng nghĩa (có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (không đăng ký kinh doanh) thì cũng là hoạt động thương mại theo Luật Thương mại nhưng tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại này lại không được ghi nhận tại khoản 1 Điều 30, do một hoặc cả hai bên đều không có đăng ký kinh doanh. Đối với các tranh chấp này, các bên phải lựa chọn trọng tài để giải quyết hoặc do Tòa dân sự giải quyết. Nhưng nếu do Tòa dân sự giải quyết thì mâu thuẫn với lý luận: Tranh chấp kinh doanh, thương mại phải do Tòa kinh tế giải quyết bằng pháp luật kinh tế chứ không thể do Tòa dân sự xét xử theo pháp luật dân sự.

Mặt khác, việc dùng thuật ngữ có “mục đích lợi nhuận” như khoản 1 Điều 30 là không chính xác. Theo cách hiểu chung, lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Trong kế toán, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất[1]. Đồng thời, như đã đề cập ở trên, thương nhân là chủ thể của hoạt động thương mại mà hoạt động thương mại được Điều 3 Luật Thương mại định nghĩa là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi (chứ không phải sinh lợi nhuận). Sinh lợi có thể không sinh lợi nhuận nhưng đem lại lợi ích nào đó cho thương nhân. Ví dụ như, thương nhân bỏ tiền ra tài trợ cho một giải đấu thể thao để quảng bá thương hiệu thì không sinh lời cho thương nhân nhưng sinh lợi cho họ. Vì vậy, dùng thuật ngữ “sinh lợi” thì chính xác hơn “mục đích lợi nhuận”.

2. Quy định tại khoản 3: Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

Đây là điều khoản mới so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Sự bổ sung này là cần thiết vì tranh chấp trong công ty không chỉ diễn ra giữa thành viên công ty với công ty hoặc giữa thành viên công ty với nhau mà còn là tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty với công ty hoặc với thành viên công ty. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 lại dùng từ “chuyển nhượng” thì không chính xác. Bởi lẽ, chuyển nhượng được hiểu là mua bán; trong khi đó, quan hệ giữa người chưa phải là thành viên công ty với công ty hoặc với thành viên công ty liên quan đến phần vốn góp không chỉ là các giao dịch mua bán mà còn có các giao dịch khác như thừa kế, tặng cho, trả nợ bằng phần vốn góp… Do đó, qui định này của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không bao quát hết các trường hợp qui định tại Điều 54 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

3. Về khoản 4 Điều 30: Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

Điều khoản này thể hiện sự lủng củng, thiếu nhất quán về cú pháp trong một câu của điều luật. Đầu tiên là việc dụng từ “người quản lý” trong công ty trách nhiệm hữu hạn là kỹ thuật gộp. Điều 4 Luật Doanh nghiệp đã định nghĩa: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”. Nhưng tại khoản 4 Điều 30 nói trên, thuật ngữ này lại không được dùng tiếp cho công ty cổ phần ngay sau đó; mà các nhà làm luật lại dùng cách liệt kê: Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc trong công ty cổ phần. Đồng thời, nếu căn cứ vào định nghĩa người quản lý doanh nghiệp như trên của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì thấy rõ khoản 3 Điều 30 đã bỏ sót loại tranh chấp giữa công ty hợp danh với người quản lý doanh nghiệp của công ty này và tranh chấp giữa chủ doanh nghiệp tư nhân với Giám đốc thuê. Tiếp đến là cụm từ “liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty”, cụm từ này cũng cần biên tập lại cho logic và khái quát. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, có 05 hình thức tổ chức lại doanh nghiệp được qui định từ Điều 192 đến Điều 198 gồm: Chia công ty, tách công ty, hợp nhất công ty, sáp nhập công ty và chuyển đổi doanh nghiệp. Vì vậy, chỉ cần dùng thuật ngữ “tổ chức lại doanh nghiệp” là đã bao quát tất cả các trường hợp trên. Chưa kể việc chen từ “bàn giao tài sản” vào giữa các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp cũng thể hiện sự không hợp lý của việc liệt kê vì “bàn giao tài sản” không phải là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp. Mặt khác, cụm từ “bàn giao tài sản của công ty” này gây khó hiểu, không rõ là bàn giao tài sản trong trường hợp nào. Theo khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2014 khi qui định về nghĩa vụ “chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn” cho công ty của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần thì thủ tục được thực hiện như sau: (i) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; (ii) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.

Vậy nên, nếu cụm từ “bàn giao tài sản” là nhằm đề cập đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn của thành viên góp vốn sang cho công ty bằng biên bản giao nhận thì chỉ thực hiện việc bàn giao này đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu. Còn đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, nếu dùng từ “bàn giao tài sản” thì lại quá hẹp.

Thêm một ý nữa, cần bổ sung các tranh chấp liên quan đến tạm ngừng kinh doanh và phá sản vào điều khoản trên, vì đây là một dạng tranh chấp vẫn có thể xảy ra trong doanh nghiệp.

Thiết nghĩ, các nhà nghiên cứu lập pháp có thể nghiên cứ, chỉnh sửa khoản 4 Điều 30 như sau: “Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý doanh nghiệp, giữa Giám đốc được thuê với người quản lý của doanh nghiệp tư nhân, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, tổ chức hoạt động, tạm ngừng kinh doanh, giải thể, phá sản, tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty”.

4. Về các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Theo qui định của khoản này, trừ những qui định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30 như trên là thuộc thẩm quyền của Tòa án, thì các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại cũng sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Suy ra rằng, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà không được qui định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật thì Tòa án sẽ không được thụ lý giải quyết. Ví dụ, hoạt động thương mại giữa các thương nhân thực tế (đều không có đăng ký kinh doanh), hoặc giữa thương nhân thực tế (không có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (cũng không có đăng ký kinh doanh) hoặc giữa thương nhân đúng nghĩa (có đăng ký kinh doanh) với bên không có mục đích sinh lợi (không đăng ký kinh doanh) thì cũng là hoạt động thương mại theo Luật Thương mại nhưng tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại này lại không được ghi nhận tại khoản 1 Điều 30, do một hoặc cả hai bên đều không có đăng ký kinh doanh (như đã phân tích ở trên và cũng không thuộc khoản 2, 3,4 Điều 30). Ở đây cụm từ “cơ quan, tổ chức” có thể được hiểu bao gồm cả trọng tài thương mại. Nếu vậy, trừ các tranh chấp ở khoản 1, 2, 3, 4 Điều 30, những tranh chấp kinh doanh thương mại khác nếu thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại thì Tòa án không có quyền giải quyết. Điều này là không thể, vì trọng tài là cơ quan tài phán tư, do các bên tranh chấp lựa chọn bằng thỏa thuận trọng tài hợp pháp. Nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không được thụ lý, dù vụ tranh chấp đó theo luật là thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài và khi đó, các bên vẫn có quyền nộp đơn kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Còn nếu qui định như khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự thì các tranh chấp loại này, do các bên không chọn trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu nên không giải quyết được bằng trọng tài mà khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng loại trừ thẩm quyền của Tòa án thì cơ quan nào sẽ giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại loại này?

Với những phân tích trên, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu sửa đổi Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để hoàn thiện các qui định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án.

ThS. Tô Thị Đông Hà

Đại học Tài chính - Marketing


[1] Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí. Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: