Thứ ba 14/07/2026 22:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ luật Tố tụng hình sự nên quy định cơ quan thuế có thẩm điều tra trong lĩnh vực thuế

Để phù hợp với thực tiễn áp dụng cũng như yêu cầu cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự, ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Để phù hợp với thực tiễn áp dụng cũng như yêu cầu cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự, ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi và bổ sung khá nhiều quy định, trong đó có việc mở rộng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Bên cạnh các cơ quan như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác thuộc lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung thêm lực lượng Kiểm ngư[1]. Tuy nhiên, theo tác giả Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định cơ quan thuế có thẩm quyền tiến hành điều tra là chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cũng như chưa phù hợp với xu thế chung của thế giới. Việc bổ sung quy định cơ quan thuế cũng là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thiết nghĩ là cần thiết.

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Ngày 25/10/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các đại biểu đã quyết định không bổ sung quy định tổ chức lực lượng “cảnh sát thuế” vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế 2006. Mặc dù, sau đó Bộ Tài chính tiếp tục đề xuất Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ sung thẩm quyền khởi tố, điều tra cho cơ quan Thuế vào Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nhưng đã không được Quốc hội thông qua. Điều mà các đại biểu Quốc hội lo ngại là sợ chồng chéo, dư thừa trong hoạt động tố tụng và “một quốc gia không nên có quá nhiều cảnh sát”. Nếu xây dựng cơ quan thuế trở thành một lực lượng điều tra chuyên sâu theo đúng tên gọi là “cảnh sát thuế” trong thời điểm hiện tại là không cần thiết và chúng ta cũng chưa đủ điều kiện để xây dựng được đội ngũ điều tra chuyên biệt này. Thực tiễn thời gian qua đã cho thấy không trao thẩm quyền điều tra cho cơ quan thuế đã có những bất cập gì và nếu xét về mức độ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế cũng không thua kém các lĩnh vực khác như Kiểm lâm hay Kiểm ngư. Mặt khác, chúng ta chỉ trao quyền tiến hành một số hoạt động điều tra cho một số cá nhân cụ thể thuộc cơ quan thuế mà không xây dựng hẳn một lực lượng “cảnh sát thuế” với quy mô, chất lượng cao chuyên biệt trong điều tra tội phạm lĩnh vực thuế như một số người e ngại. Vì vậy, bài viết của tác giả một lần nữa đưa ra các cơ sở để đề xuất bổ sung trao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra cho cơ quan thuế để đấu tranh và phòng chống tội phạm trong lĩnh vực thuế một cách hiệu quả nhất.

1.1. Cơ sở lý luận

Thứ nhất, việc quy định cơ quan thuế có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra xuất phát từ chức năng, trách nhiệm của cơ quan này. Cơ quan thuế là “tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật”[2], “tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của ngân sách nhà nước”[3] và “được quyền yêu cầu cơ sở kinh doanh cung cấp sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và hồ sơ tài liệu khác có liên quan đến việc tính thuế, nộp thuế; được yêu cầu tổ chức tín dụng, các tổ chức và cá nhân khác có liên quan cung cấp tài liệu và phối hợp với cơ quan thuế để thu thuế…”[4]. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan thuế nhanh chóng phát hiện được những hành vi vi phạm pháp luật như: (i) Trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế; (ii) Chây ỳ không nộp tiền thuế đúng thời hạn, không thực hiện các hình thức xử phạt và các biện pháp cưỡng chế thu nợ thuế; (iii) Tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh bỏ trốn, mất tích khỏi trụ sở kinh doanh; (iv) Mua, bán, sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng bất hợp pháp, làm mất hoá đơn, vi phạm pháp luật về thuế, tiếp tay cho hành vi trốn thuế; (v) Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân khác”[5]. Tuy nhiên, việc xử lý những hành vi vi phạm này trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, mặc dù hiện nay người nộp thuế đã có ý thức tuân thủ tương đối cao nhưng tỷ lệ người trốn thuế, gian lận thuế còn phức tạp, thủ đoạn càng ngày càng tinh vi. Đối với các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế mặc dù Luật Quản lý thuế (2006, sửa đổi bổ sung 2016) đã có quy định thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn thanh tra thuế được quyền thu thập thông tin, tạm giữ tài liệu, tang vật, khám nơi cất giấu tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế và gian lận thuế[6] nhưng chỉ được quyền ra quyết định xử phạt hành chính. Trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra theo quy định pháp luật tố tụng hình sự và phối hợp với cơ quan điều tra trong việc thực hiện điều tra tội phạm thuế theo quy định[7]. Điều này như trên đã đề cập sẽ làm cho quá trình tố tụng kéo dài vì cơ quan điều tra sau khi nhận được hồ sơ của cơ quan thuế sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh những thông tin đã được cung cấp, nghĩa là sẽ tiến hành lại những hoạt động mà thanh tra thuế và thủ trưởng cơ quan thuế đã làm để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không rồi mới quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong quá trình này cơ quan thuế cũng phải phối hợp với cơ quan điều tra để làm rõ vụ việc mà trước đó họ đã thực hiện. Với tâm lý không phải là chủ thể có thẩm quyền tố tụng hình sự sẽ dễ dẫn đến tình trạng chỉ cần nghi ngờ hành vi trốn thuế, gian lận thuế có dấu hiệu hình sự là cơ quan thuế chuyển ngay cho cơ quan điều tra, buộc cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động điều tra để xác minh. Tuy nhiên, cũng có ý kiến e ngại khi trao quyền điều tra cho cơ quan thuế sẽ dẫn đến bộ máy cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong lĩnh vực điều tra cồng kềnh, hoạt động không hiệu quả. Để khắc phục vấn đề này chỉ cần thu hẹp thẩm quyền điều tra của các cơ quan này theo hướng cải cách tư pháp là chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu sau đó chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra chuyên trách tiếp tục điều tra. Việc này vừa thực hiện tốt chủ trương thu gọn đầu mối vừa không bó tay cơ quan thuế trong việc chủ động phát hiện đấu tranh với tội phạm trốn thuế và gian lận thuế.

Thứ ba, việc giao thẩm quyền điều tra cho cơ quan thuế không làm chồng chéo chức năng với cơ quan thanh tra. Điều tra lĩnh vực thuế là một biện pháp nghiệp vụ, chỉ thực hiện khi có dấu hiệu gian lận thuế, trốn thuế có tổ chức móc nối có hệ thống với nhiều doanh nghiệp, cá nhân. Việc này chỉ thực hiện khi lực lượng thanh tra không đủ sức làm thì điều tra thuế mới vào cuộc, vì vậy, sẽ không có tình trạng chống chéo chức năng với lực lượng thanh tra.

Thứ tư, từ kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới cho thấy việc quy định cơ quan thuế có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra sẽ phù hợp với xu hướng chung. Theo quy định tại Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga thì “Dự thẩm viên của các cơ quan cảnh sát thuế vụ điều tra những vụ án về các tội phạm quy định tại: Khoản 2 Điều 171. Tội sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, tiêu thụ hàng hóa và sản phẩm không nhãn hiệu); khoản 2, Điều 198 Tội trốn thuế của các cá nhân; khoản 2, Điều 199. Tội trốn thuế từ phía tổ chức; và khoản 2 Điều 327. Tội sản xuất, tiêu thụ, sử dụng mã số thuế, mã số đặc biệt hoặc dấu hiệu tương ứng quy định trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga[8]. Bên cạnh đó, tại Điều 151 Bộ luật này còn quy định: “Nhân viên điều tra ban đầu của các cơ quan Thuế vụ điều tra những vụ án về các tội phạm quy định tại Điều 198 (khoản 1) và Điều 199 (khoản 1) Bộ luật hình sự Liên bang Nga”[9]. Như vậy, theo pháp luật hiện hành của Liên bang Nga, cơ quan thuế vụ không chỉ là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra ban đầu một số tội mà còn được tiến hành điều tra dưới hình thức điều tra dự thẩm. Hay như trong luật tố tụng hình sự của Nhật Bản quy định cơ quan thuế được quyền tiến hành điều tra các tội phạm thuế và khởi tố vụ án hình sự khi có đủ bằng chứng phạm tội. Quá trình điều tra được quyền thẩm vấn người bị tình nghi, kiểm tra sổ sách, giấy tờ, khám xét, truy tìm, tạm giữ, thu giữ đồ vật bị tình nghi với điều kiện được sự cho phép của thẩm phán[10]. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng quy định cơ quan thuế có thẩm quyền điều tra không chuyên trách trong lĩnh vực của mình như Luật Tố tụng hình sự của Hoa kỳ, Pháp hay Vương quốc Anh... Trong tình hình của nước ta hiện nay, theo tác giả trao cho cơ quan thuế được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra là phù hợp với thực tiễn và xu thế chung của thế giới. Và trong thời gian này cơ quan thuế cần sớm xây dựng và hoàn thiện bộ phận điều tra thuế theo tinh thần của Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn năm 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

1.2. Cơ sở thực tiễn

Báo cáo của Bộ Tài chính giai đoạn 2011 - 2015, cơ quan thuế chuyển sang cho cơ quan điều tra 16.087 trường hợp vi phạm pháp luật thuế trong đó kiến nghị khởi tố 395 trường hợp còn 15.692 trường hợp cơ quan điều tra đề nghị cơ quan thuế phối hợp để phân tích có bao nhiêu trường hợp có dấu hiệu tội phạm. Để thực hiện được điều này cơ quan thuế buộc phải điều tra mới thu thập được chứng cứ. Theo báo cáo tổng kết năm 2016 của Tổng cục thuế, cơ quan thuế đã chuyển sang cơ quan công an hồ sơ của 2.776 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế. Cơ quan công an đã xử lý hình sự 23 vụ, kiến nghị thu hồi 1.159 tỷ đồng và bắt giữ, tạm giữ 20 đối tượng có dấu hiệu trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế[11]. Năm 2017 số vụ việc cơ quan thuế chuyển sang cho cơ quan điều tra là 2.553 vụ tuy nhiên cơ quan điều tra chỉ khởi tố 3 vụ với 2 bị can và chuyển lại cho cơ quan thuế xử lý hành chính 112 vụ. Với những con số này chúng ta đều nhận thấy các vụ việc có dấu hiệu sai phạm trong lĩnh vực thuế không hề nhỏ. Tuy nhiên, mặc dù những vụ việc cơ quan thuế chuyển sang cho công an để xem xét xử lý hình sự rất nhiều (2016: 2.776 vụ; 2017: 2.553) nhưng tỷ lệ xử lý hình sự lại rất thấp (chiếm chưa tới 1%) do hành vi vi phạm pháp luật về thuế rất phức tạp, diễn ra trên phạm vi rộng, có liên quan đến chứng từ, sổ sách, kế toán, thanh toán... Để xử lý hình sự được cơ quan điều tra công an phải kiểm tra, xác minh các vụ việc và khởi tố vụ án khi có dấu hiệu tội phạm.

Vì cơ quan thuế không có thẩm quyền điều tra nên khi nghi ngờ có dấu hiệu sai phạm trong lĩnh vực thuế thì cơ quan này chỉ có thể chuyển sang cơ quan điều tra để tiến hành kiểm tra xác minh theo thẩm quyền. Điều này không chỉ làm cho cơ quan điều tra quá tải trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình mà còn không phát huy hết khả năng của cơ quan thuế. Nếu được trao quyền tiến hành hoạt động điều tra thì trong phạm vi lĩnh vực của mình cơ quan thuế dễ dàng tiến hành việc kiểm tra, xác minh và xác định được trách nhiệm pháp lý của từng trường hợp. Đối với những hành vi vi phạm hình sự cụ thể, rõ ràng cơ quan thuế tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu. Sau khi hoàn tất hồ sơ điều tra ban đầu đối với những vụ việc đơn giản cơ quan thuế chuyển sang cho cơ quan điều tra tiếp tục thực hiện các hoạt động tố tụng khác theo quy định. Điều này sẽ giảm áp lực cho cơ quan điều tra vì để kiểm tra, xác minh được số vụ việc của cơ quan thuế chuyển sang trong 1 năm như vậy đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức. Mặt khác, thực tế cho thấy cơ quan điều tra không trực tiếp quản lý thông tin về lĩnh vực này nên quá trình điều tra, trưng cầu giám định thương chậm trễ dẫn đến truy thu nguồn tiền do trốn hoặc chiếm đoạt thuế không kịp thời, gây thất thoát ngân sách cũng như không đủ để răn đe với các đối tượng khác.

Hiện nay, đã có Quy chế phối hợp giữa Tổng cục Cảnh sát (nay là Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm) trực thuộc Bộ Công an và Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính trong công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực thuế nhưng hoạt động phối hợp này chưa hiệu quả, nhiều trường hợp vi phạm không bị phát hiện hoặc khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện được hoặc được cơ quan thuế cung cấp thông tin thì đã gây ra những thiệt hại rất lớn cho Nhà nước. Mặt khác, cơ quan thuế cũng thụ động trong việc cung cấp tin vì theo quy định cơ quan này chỉ phải cung cấp tin khi cơ quan công an đề nghị[12]. Vì vậy, yêu cầu phát hiện nhanh chóng, xử lý tội phạm kịp thời và ngăn chặn hậu quả do tội phạm gây ra đã không được đảm bảo (cũng như không) và phát huy được sức mạnh của cơ quan chuyên trách trong lĩnh vực này vào cuộc đấu tranh chống tội phạm.

2. Đề xuất

Để giảm áp lực cho các cơ quan điều tra, xuất phát từ chức năng nhiệm vụ và sự đòi hỏi phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý thuế trong thời gian qua cũng như tiếp thu kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới, theo tác giả, nên quy định cơ quan thuế được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong lĩnh vực hoạt động của mình giống như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các cơ quan khác thuộc lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân.

Cụ thể, Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cần được bổ sung như sau:

Điều 35. Cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

1. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:

...

e) Các cơ quan thuế

...

2. Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:

...

e) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của cơ quan thuế gồm Tổng cục trưởng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế; Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục thuế; Chi Cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục thuế.

Phạm Thanh Tú

Giảng viên khoa Luật, Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh




[1] Xem Điều 35 Điều Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Xem Điều 1 Luật Quản lý thuế 2006, sửa đổi, bổ sung 2016.

[3] Xem Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế.

[4] Xem Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế.

[5]Xem Quy chế phối hợp số 1527/QCPH/TCT-TCCS ngày 31/10/2007 giữa Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính và Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an trong đấu tranh phòng, chống các hành vi tội phạm trong lĩnh vực Thuế.

[6] Xem Điều 89, 90 Luật Quản lý thuế 2006, sửa đổi, bổ sung 2016.

[7] Xem Điều 89, 90 Luật Quản lý thuế 2006, sửa đổi, bổ sung 2016.

[8] Xem Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, bản dịch của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, năm 2012.

[9] Xem Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, bản dịch của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, năm 2012.

[10]Xem Bộ luật tố tụng hình sự Nhật bản, bản dịch của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, năm 2012.

[11] Báo cáo tổng kết năm 2016 của Tổng cục thuế.

[12]Xem Quy chế phối hợp số 1527/QCPH/TCT-TCCS ngày 31/10/2007 giữa Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính và Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an trong đấu tranh phòng, chống các hành vi tội phạm trong lĩnh vực thuế.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.

Theo dõi chúng tôi trên: