Chủ nhật 11/10/2026 05:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phá sản - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

- Chủ nợ: Chủ nợ có quyền nộp đơn không ưu tiên lựa chọn việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trên thực tế. Luật Phá sản năm 2014 vẫn chỉ trao quyền chủ động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ

Bài viết tập trung phân tích thực tiễn thi hành liên quan đến các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật phá sản và kiến nghị hoàn thiện.

1. Các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật phá sản
1.1. Các chủ thể tham gia thủ tục phá sản
- Chủ nợ: Chủ nợ có quyền nộp đơn không ưu tiên lựa chọn việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trên thực tế. Luật Phá sản năm 2014 vẫn chỉ trao quyền chủ động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần. Việc các chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ đề bàn luận trên nhiều diễn đàn nghiên cứu khoa học với các quan điểm trái chiều khác nhau. Tuy nhiên, có một thực trạng cần ghi nhận là: Đối với nhóm chủ nợ có quyền nộp đơn (chủ yếu là chủ nợ không có bảo đảm), họ thường không ưu tiên sử dụng quyền này trên thực tế. Đến giai đoạn thi hành quyết định tuyên bố phá sản, tài sản còn lại (tài sản không dùng để bảo đảm) được thanh lý theo thứ tự thanh toán được luật quy định. Thực tế, chủ nợ không có bảo đảm gần như không được phân chia hoặc nhận được với số tiền không đáng kể[1]. Do vậy, họ sẽ ưu tiên lựa chọn hướng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Và như vậy, ý nghĩa của việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không còn mang tính thực tế.

+ Việc đảm bảo quyền lợi chủ nợ có bảo đảm khi khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba chưa được quy định: Mặc dù pháp luật có quy định để công nhận tư cách “chủ nợ có bảo đảm” khi khoản nợ của một chủ nợ được đảm bảo bởi bên thứ ba, nhưng Luật Phá sản năm 2014 chưa có quy định cụ thể về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này. Quyền lợi các chủ nợ có bảo đảm nói trên có nhiều ảnh hưởng. Đây là vấn đề mà nhiều ngân hàng với tư cách là chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản có thể gặp phải. Theo quy định, sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ đề xuất thẩm phán về việc xử lý các khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ xử lý vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc phá sản. Tuy nhiên, việc tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm (quy định tại khoản 3 Điều 41 Luật Phá sản năm 2014) không áp dụng cho cả tài sản bảo đảm của một bên thứ ba. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản không đương nhiên có nghĩa vụ đề xuất xử lý tài sản bảo đảm của một bên thứ ba. Trong khi đó, khoản 3 Điều 55 Luật Phá sản năm 2014 quy định về nghĩa vụ bên bảo lãnh thực hiện thay cho bên được bảo lãnh (khi bên được bảo lãnh mất khả năng thanh toán) mà không hề đề cập đến việc xử lý tài sản được bảo đảm như thế nào. Thực tế rất nhiều trường hợp Tòa án chỉ giải quyết các nội dung liên quan đến tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản mà không xem xét đến việc xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba cho doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

+ Luật Phá sản năm 2014 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014 chưa thống nhất trong quy định về quyền yêu cầu định giá lại tài sản của chủ nợ: Theo quy định của pháp luật phá sản, chủ thể có thẩm quyền yêu cầu định giá lại là chấp hành viên. Khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản năm 2014 có quy định về việc định giá lại tài sản, cụ thể: “Việc định giá lại tài sản được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”; khoản 2 Điều 17 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định: “Nếu phát hiện quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về phá sản, pháp luật về định giá tài sản dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản, chấp hành viên yêu cầu quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá lại tài sản, trừ trường hợp quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đó bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 18 của Nghị định này”.

Như vậy, Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại so với Luật Thi hành án dân sự, đồng nghĩa với nó là những chủ nợ (người được thi hành án) không có quyền yêu cầu việc định giá lại như quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, điều này có khả năng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án[2].

- Người lao động: Khoản 2 Điều 77 Luật Phá sản năm 2014 quy định đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền tham gia hội nghị chủ nợ. Tuy nhiên, nếu như Luật Phá sản năm 2004 có quy định cụ thể về cơ chế cử đại diện cho người lao động (tại khoản 1 Điều 14) thì Luật Phá sản năm 2014 hoàn toàn không đề cập đến vấn đề này. Do đó, người lao động khó có định hướng cụ thể trong việc ủy quyền cho chủ thể tham gia hội nghị chủ nợ.

Trên thực tế, rất hiếm gặp trường hợp người lao động thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của mình. Điều này cũng dễ hiểu bởi khi thủ tục phá sản được tiến hành, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đứng trước hai khả năng: Một là, phục hồi thành công; hai là, bị tuyên bố phá sản. Điều đáng buồn trong thực tế là việc mở thủ tục phá sản thường đồng nghĩa với việc tìm ra cách thức tốt nhất để chia sẻ tổn thất tài chính chứ không phải là triển vọng phục hồi được hoạt động kinh doanh[3]. Vì vậy, việc thông qua thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi, người lao động tránh được tình trạng mất việc không được kỳ vọng lớn lao. Theo khoản 7 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012, khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, đương nhiên các hợp đồng lao động mà doanh nghiệp đã ký sẽ chấm dứt. Mặc dù, người lao động được ưu tiên thanh toán song nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản sau khi thanh toán hết cho chủ nợ có bảo đảm, chi phí phá sản thì nguy cơ người lao động không nhận được thanh toán là rất lớn. Chính vì vậy, sự quan tâm, hào hứng của người lao động về việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không nhiều, còn chưa kể đến cơ chế người lao động cử đại diện không được quy định chi tiết.

- Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán: Với những người điều hành doanh nghiệp, việc mở thủ tục phá sản có vai trò nhất định như để doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường đồng thời giảm áp lực thanh toán nghĩa vụ tài sản hoặc doanh nghiệp có cơ hội được phục hồi. Vậy nhưng thực tế vẫn tồn tại các doanh nghiệp không muốn nộp đơn mở thủ tục phá sản. Sở dĩ như vậy là vì nhiều doanh nghiệp khi thành lập đã kê khai vốn điều lệ lớn nhưng chủ yếu là vốn ảo hoặc quá trình hoạt động có nhiều giao dịch chuyển tài sản không rõ ràng[4]… Nếu doanh nghiệp nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, khả năng cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra lại quá trình hoạt động và phát hiện ra nhiều sai phạm, thì người góp vốn hay người điều hành phải chịu trách nhiệm pháp lý hoàn toàn có thể xảy ra. Điều này gây ra tâm lý e ngại cho phía doanh nghiệp hay đúng hơn là những người đứng đầu doanh nghiệp trong việc thực thi quyền nộp đơn của mình.

Bên cạnh đó, các chủ nợ có bảo đảm cũng không muốn doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với muôn vàn lý do: Sẽ bị phát lộ những việc sai phạm trong cho vay, định giá tài sản trước đây; tài sản bảo đảm bị tẩu tán không còn… Mặt khác, việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có thể làm cho việc xử lý tàn sản bảo đảm lại phụ thuộc vào quyền quyết định của các chủ nợ không có bảo đảm. Chính vì thế, các chủ nợ có bảo đảm như các tổ chức tín dụng, thường chọn cách xử lý trực tiếp tài sản bảo đảm trước khi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện quyền nộp đơn.

1.2. Các chủ thể tiến hành thủ tục phá sản

- Chánh án Tòa án nhân dân, thẩm phán: Thực tế hiện nay được ghi nhận là thời gian giải quyết các vụ việc phá sản tại Tòa án nhân dân là chậm trễ[5]. Trong số rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, có thể kể đến một số nguyên nhân xuất phát từ thực tiễn hoạt động tại Tòa án và thẩm phán: (i) Số lượng các vụ việc cần được giải quyết đang đặt ra cho thẩm phán vô vàn thử thách, áp lực; (ii) Năng lực về của thẩm phán giải quyết vụ việc phá sản còn nhiều tồn tại. Nếu thực sự các chủ thể có quyền nộp đơn cùng một lúc tiến hành nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì quả thật khó Tòa án nào đủ năng lực để giải quyết tất cả các vụ việc[6]; (iii) Theo quy định mới, nếu trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản, thẩm phán xử lý tranh chấp về tài sản (nếu có) trước khi ban hành quyết định tuyên bố phá sản. Hiện giờ vụ tranh chấp được tách riêng thành vụ việc dân sự và là điều kiện cần để hoàn tất thủ các bước tiếp theo trong thủ tục phá sản. Như vậy, thời gian giải quyết vụ việc phá sản lại kéo dài hơn.

Ngoài ra, thực tế cũng ghi nhận nhiều doanh nghiệp lợi dụng thủ tục phá sản để né tránh trách nhiệm hình sự. Trong khi đó thẩm phán rất khó có đủ điều kiện (bao gồm điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan) để đánh giá báo cáo tài chính của doanh nghiệp một cách chính xác.

- Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản: Chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được quy định cụ thể tại Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản (Nghị định số 22/2015/NĐ-CP). Tuy nhiên, Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể về mức thù lao của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản đối với trường hợp doanh nghiệp phá sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có nghị quyết của hội nghị chủ nợ đề nghị tuyên bố phá sản (Điều 107 Luật Phá sản năm 2014). Vì thế, việc tính chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ khó khăn trong thực tế áp dụng.

Các quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tế hoạt động làm cho các quản tài viên chưa chuyên sâu về nghiệp vụ quản lý, thanh lý tài sản. Trong khi điều kiện để trở thành quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hiện đang đơn giản quá. Vì vậy chúng ta hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi về việc quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản nhận thức quyền hạn của mình cũng như cơ sở thực thi của họ.

- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên trong quá trình giải quyết phá sản: Tại Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP quy định chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên Nghị định trên mới chỉ quy định chi phí thực hiện phá sản trong trường hợp quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện còn trong trường hợp chấp hành viên thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua được tài sản (theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 120 Luật Phá sản năm 2014) và thực hiện việc thanh lý tài sản (theo quy định khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản năm 2014) thì chưa quy định rõ ai là người phải chi trả những chi phí trên. Mặt khác, theo quy định tại Điều 73 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định về chi phí cưỡng chế đã quy định rõ trường hợp nào người phải thi hành án chịu, trường hợp nào người được thi hành án chịu và trường hợp nào thì ngân sách nhà nước chịu. Tuy nhiên, đối với trường hợp thi hành quyết định tuyên bố phá sản thì không có người phải thi hành án, do đó, các chi phí khi chấp hành viên thực hiện các công việc trên có được được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán hay không?

2. Kinh nghiệm một số nước về các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phá sản

- Chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Ở hầu hết các nước, các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp trước hết là các chủ nợ của doanh nghiệp mắc nợ và doanh nghiệp mắc nợ (con nợ); đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải làm bằng văn bản. Thông thường thì các chủ nợ có bảo đảm một phần và các chủ nợ có bảo đảm khác đều có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của con nợ phải được gửi kèm theo danh sách các chủ nợ và yêu cầu của các chủ nợ. Tùy theo pháp luật phá sản ở các nước mà trong trường hợp con nợ là doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh còn phải cung cấp thêm các thông tin cần thiết khác[7].

Trong khi đó, theo Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 thì các chủ nợ không có bảo đảm và các chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản; còn các chủ nợ khác có bảo đảm thì không có quyền này.

Đại diện cho doanh nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu Tòa án xem xét, quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp. Đồng thời, pháp luật phá sản ở một số nước còn quy định chế tài rất nặng (có thể phạt tù, phạt tiền, bồi thường) đối với người đại diện cho doanh nghiệp không nộp đơn kịp thời hoặc nộp đơn không đúng... Ví dụ như Luật Phá sản hiện hành của Cộng hòa liên bang Đức quy định trường hợp một pháp nhân mất khả năng thanh toán hoặc tài sản của pháp nhân thấp hơn các khoản nợ hiện có của pháp nhân đó thì các thành viên của cơ quan đại diện của pháp nhân nhìn chung không được chậm trễ, chậm nhất là trong vòng ba tuần sau khi xuất hiện tình trạng mất khả năng thanh toán hoặc khi tài sản của pháp nhân thấp hơn các khoản nợ hiện có của pháp nhân đó, phải có nghĩa vụ đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Người nào phải thực hiện nghĩa vụ này mà không đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, đệ đơn không kịp thời hoặc đệ đơn không đúng thì có thể bị phạt tù đến ba năm hoặc phạt tiền; trường hợp vô ý mà vi phạm thì bị phạt tù đến một năm hoặc bị phạt tiền[8].

Trong khi đó, theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 5 của Luật Phá sản năm 2014 thì khi nhận thấy doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 đã không quy định chế tài cụ thể đối với việc thực hiện nghĩa vụ này và doanh nghiệp mắc nợ không nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ nộp đơn. Điều đó đã ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của Luật Phá sản.

- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu phá sản

Ở hầu hết các nước hiện nay, thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp được tiến hành thông qua Tòa án. Luật phá sản ở các nước thường quy định Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản.

Điều 2 Luật Phá sản năm 1999 của Cộng hòa liên bang Đức quy định chỉ có Tòa sơ thẩm nơi mà một Tòa án bang có trụ sở, là Tòa phá sản có thẩm quyền đối với khu vực của Tòa án bang đó. Thẩm quyền về mặt lãnh thổ chỉ thuộc Tòa phá sản ở khu vực nơi mà con nợ có Tòa án có thẩm quyền chung của mình. Nếu hoạt động kinh doanh của con nợ tập trung ở một địa điểm khác, thì chỉ có Tòa phá sản ở khu vực của nơi đó có thẩm quyền. Trường hợp nhiều Tòa án có thẩm quyền thì Tòa án đầu tiên nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là Tòa án có thẩm quyền trong trường hợp này.

Theo Điều 3 Hiến pháp Hoa Kỳ, phá sản là một trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền xét xử đặc quyền của hệ thống Toà án liên bang. Cụ thể hóa nội dung này, Luật Phá sản liên bang Hoa Kỳ năm 1978 thiết lập một hệ thống Tòa án phá sản mới do Tòa án tối cao liên bang của Hoa Kỳ quản lý. Luật Phá sản liên bang Hoa Kỳ năm 1984 tiếp tục tái cấu trúc hệ thống Tòa án phá sản, đã trao cho các Tòa án cấp sơ thẩm liên bang của Hoa Kỳ quyền xét xử ban đầu và duy nhất đối với các vụ phá sản. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm liên bang không có thẩm quyền tài phán duy nhất đối với các vụ án dân sự phái sinh từ các vụ phá sản đó. Tòa án cấp sơ thẩm liên bang nơi mà vụ phá sản được xem xét có toàn quyền quyết định đối với tài sản của con nợ. Để xét xử một vụ phá sản, một phân Toà phụ trách phá sản được thiết lập như là một đơn vị của mỗi Toà án cấp sơ thẩm liên bang hoặc đơn giản chỉ thành lập một Hội đồng gồm 03 thẩm phán xử lý vụ phá sản đó (Panel). Khi giải quyết phá sản, các đơn vị này được trao thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm liên bang được quy định cụ thể bởi luật. Tòa án phúc thẩm có quyền xét xử đối với các kháng nghị từ phân Tòa phụ trách phá sản hoặc Panel. Đối với các vấn đề khác có liên quan đến vụ phá sản, trừ khi các bên đồng ý, chỉ có Toà án cấp sơ thẩm mới có thể đưa ra một phán xét cuối cùng dựa trên những chứng cứ được đệ trình và những kết luận pháp lý của các Thẩm phán phụ trách việc giải quyết phá sản[9].

- Người quản lý tài sản, thanh lý tài sản

Nhìn chung, trong pháp luật phá sản của các nước thì thiết chế này thường được gọi là nhân viên quản lý tài sản hay người tiếp nhận tài sản của doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán. Đa số các nước có nền kinh tế phát triển như Đức, Úc, Pháp, Nhật Bản... đều yêu cầu phải có một nhân viên do Tòa án chỉ định để thực hiện chức năng quản lý tài sản của con nợ lâm vào tình trạng phá sản và giao cho nhân viên này thẩm quyền khá rộng rãi trong việc giải quyết phá sản[10].

Pháp luật phá sản ở nhiều nước trên thế giới (Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ...) đều đề cao vai trò của người quản lý tài sản (quản tài viên). Mặc dù có tên gọi thường không giống nhau, nhưng người quản lý tài sản ở các nước này nhìn chung đều thực hiện chức năng, nhiệm vụ và có vai trò gần giống như quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản quy định tại Luật Phá sản năm 2014. Tại Hoa Kỳ, tín thác viên là người được ủy thác quản lý tài sản, là người đại diện hợp pháp thay mặt chủ sở hữu thực hiện các quyền năng đối với tài sản được ủy thác và tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập và vì vậy có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn trong các quan hệ pháp luật cụ thể. Tùy theo thủ tục tố tụng, tín thác viên có thể do các chủ nợ bầu ra hoặc do Tòa án chỉ định theo quy định của pháp luật phá sản Hoa Kỳ. Tín thác viên có trách nhiệm thu thập, phát mại và phân chia tiền thu được của con nợ cho các chủ nợ[11].

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phá sản

Thứ nhất, pháp luật cần bổ sung quy định để bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ có bảo đảm trong giao dịch bảo đảm với bên thứ ba. Hiện nay, Luật Phá sản năm 2014 mới chỉ quy định về việc xử lý tài sản có bảo đảm trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã dùng tài sản của mình đảm bảo với chủ nợ. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã được bên thứ ba dùng tài sản để đảm bảo với chủ nợ thì chưa có quy định về việc xử lý tài sản đó. Trong khi Luật công nhận tư cách chủ nợ có đảm bảo khi khoản nợ của một chủ nợ được bảo đảm với bên thứ ba. Rõ ràng, Luật Phá sản năm 2014 hiện nay đang thiếu quy định cụ thể về việc giải quyết các nội dung liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.

Thứ hai, cần có sự đồng bộ giữa Luật Phá sản năm 2014 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014 về quyền yêu cầu định giá lại của chủ nợ. Theo Luật Phá sản năm 2014, chỉ có chấp hành viên mới có quyền yêu cầu định giá lại, chủ nợ không có quyền yêu cầu định giá lại tài sản. Tuy nhiên, theo Luật Thi hành án dân sự năm 2014, chủ nợ (với tư cách là người được thi hành án) có quyền yêu cầu việc định giá lại tài sản. Để không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, tác giả thiết nghĩ, Luật Phá sản năm 2014 cần bổ sung quyền được yêu cầu định giá lại tài sản của chủ nợ.

Thứ ba, Luật Phá sản năm 2014 cần có hướng dẫn cụ thể về cơ chế người lao động cử đại diện. Luật Phá sản năm 2014 hoàn toàn không đề cập đến cơ chế cụ thể rõ ràng về việc người lao động cử đại diện, điều đó làm người lao động khó định hướng trong việc ủy quyền cho chủ thể tham gia hội nghị chủ nợ. Trong khi đó, khoản 1 Điều 14 Luật Phá sản năm 2004 có quy định cụ thể về việc người lao động cử đại diện: “Đại diện cho người lao động được cử hợp pháp sau khi được quá nửa số người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký; đối với doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì đại diên cho người lao động được cử hợp pháp phải được quá nửa số người được cử làm đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành”.

Thứ tư, cần có hướng dẫn cụ thể về mức thù lao cho quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản cũng như chấp hành viên khi họ tham gia vào thủ tục phá sản.

Thứ năm, việc giải quyết các vụ việc phá sản có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều khía cạnh pháp lý khác nhau, nhiều chủ thể khác nhau, do đó, để hiểu và áp dụng đúng, thống nhất pháp luật phá sản thì cần nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật phá sản như: Các thẩm phán, quản tài viên... Tòa án nhân dân tối cao cần định kỳ tổ chức các hội thảo chuyên đề, khóa đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp vụ của thẩm phán, thư ký Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; cần có kế hoạch đào tạo thẩm phán chuyên trách về án kinh tế nói chung và giải quyết các vụ việc phá sản nói riêng. Cần xây dựng chương trình đạo tạo và cấp chứng chỉ quản tài viên. Ngoài ra, cần tích cực tuyên truyền phổ biến pháp luật phá sản rộng rãi đến người dân và doanh nghiệp, hợp tác xã trong cả nước./.

ThS. Nguyễn Ngọc Anh

Khoa Pháp luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội


[1] Luật sư Trần Đức Phượng, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, “Nghịch lý chủ nợ sợ con nợ” (http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/nghich-ly-chu-no-so-con-no-171570.html), truy cập ngày 09/4/2018.

[2] Http://thads.moj.gov.vn/kontum/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=19.

[3] Http://bankprovn.blogspot.com/2014/12/tac-ong-cua-thu-tuc-pha-san-toi-nguoi.html.

[4] Luật sư Trần Đức Phượng, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, “Nghịch lý chủ nợ sợ con nợ” (http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/nghich-ly-chu-no-so-con-no-171570.html), truy cập ngày 9/4/2018.

[5] Đại học Luật Hà Nội, Bộ môn Luật Thương mại, Tọa đàm Luật Phá sản năm 2014 - Nhìn từ góc độ thực tiễn thi hành, Hà Nội, 16/8/2017.

[6] Đại học Luật Hà Nội, Bộ môn Luật Thương mại, Tọa đàm Luật Phá sản năm 2014 - Nhìn từ góc độ thực tiễn thi hành, Hà Nội, 16/8/2017.

[7] Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp, Trung tâm nghiên cứu khoa học, Chuyên đề nghiên cứu: Kinh nghiệm nước ngoài về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, tháng 10/2013, tr. 11.

[8] Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp, Trung tâm nghiên cứu khoa học, Chuyên đề nghiên cứu: Kinh nghiệm nước ngoài về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, tháng 10/2013, tr. 11.

[9] Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp, Trung tâm nghiên cứu khoa học, Chuyên đề nghiên cứu: Kinh nghiệm nước ngoài về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, tháng 10/2013, tr. 10.

[10] Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, Đặc san tuyên truyền pháp luật, số 9/2014, Chủ đề: Pháp luật phá sản tại Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội, 2014, tr. 44

[11] Xem Luật phá sản Liên bang Hoa Kỳ năm 1978, có hiệu lực năm 1979.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: