Thứ năm 15/01/2026 06:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các giải pháp tăng cường thực thi pháp luật về văn hóa trong cộng đồng dân cư nông thôn mới

Hệ thống các văn bản điều chỉnh lĩnh vực văn hóa nêu trên đã và đang được triển khai thực thi tại cộng đồng dân cư và bước đầu đạt được một số kết quả nhất định góp phần phát huy tốt vai trò của văn hóa, giữ gìn phong tục tập quán tốt đẹp tạo môi trường ổn định, đoàn kết để phát triển kinh tế, hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới.

1. Thực trạng pháp luật về văn hóa trong cộng đồng dân cư nông thôn mới

Trong lĩnh vực văn hóa, hiện nay đang có 06 luật, 52 nghị định, 18 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 109 thông tư, thông tư liên tịch điều chỉnh trực tiếp. Trong 10 lĩnh vực chuyên môn về văn hóa, gia đình hiện mới có 06 lĩnh vực có luật điều chỉnh gồm: Luật Điện ảnh; Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (Luật này chỉ điều chỉnh 1 nhánh của công tác gia đình) và Luật Thư viện; 04 lĩnh vực chuyên môn còn lại được điều chỉnh bằng nghị định gồm: Nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật nhiếp ảnh và triển lãm; văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc và tuyên truyền cổ động.

Theo kết quả rà soát chuyên ngành, hiện có 05 nhóm văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp các hoạt động văn hóa trong cộng đồng dân cư, bao gồm: (i) Các văn bản pháp luật về xây dựng, công nhận các danh hiệu văn hóa; (ii) Các văn bản về quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng trong cộng đồng dân cư; (iii) Các văn bản về thực hiện nếp sống văn minh; (iv) Các văn bản về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước; (v) Các văn bản về quản lý thiết chế văn bản cơ sở.

Hệ thống các văn bản điều chỉnh lĩnh vực văn hóa nêu trên đã và đang được triển khai thực thi tại cộng đồng dân cư và bước đầu đạt được một số kết quả nhất định góp phần phát huy tốt vai trò của văn hóa, giữ gìn phong tục tập quán tốt đẹp tạo môi trường ổn định, đoàn kết để phát triển kinh tế, hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới.

2. Thực trạng thi hành pháp luật về văn hóa trong cộng đồng dân cư nông thôn mới

Tuy nhiên, tình hình thực thi pháp luật về văn hóa trong cộng đồng dân cư còn nhiều bất cập, cụ thể như: Tình trạng vi phạm pháp luật còn diễn ra còn tương đối phổ biến; một số lĩnh vực thực hiện chưa nghiêm túc, còn có biểu hiện hình thức ví dụ việc công nhận gia đình văn hóa; cấp ủy, chính quyền cơ sở có nơi chưa quan tâm, đôn đốc; việc giám sát thực hiện còn coi nhẹ; nhiều quy định của pháp luật về văn hóa trong cộng đồng dân cư chưa được tuyên truyền sâu rộng, đặc biệt là các quy định mới; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm còn chưa thường xuyên, liên tục; các điều kiện cụ thể về con người, kinh phí, cơ sở vật chất… để thực thi pháp luật ở một số nơi còn thiếu thốn, chưa được bảo đảm…

Việc thực thi pháp luật còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng còn những tồn tại, hạn chế trong hoạt động văn hóa tại cộng đồng dân cư, cụ thể là:

Hoạt động văn hóa, tín ngưỡng: Có nơi, có lễ hội vẫn còn xuất hiện hiện tượng kinh doanh dịch vụ, hàng hóa trong khuôn viên di tích; các tệ nạn và hiện tượng xấu như đánh bạc, cá cược ăn tiền núp bóng trò chơi truyền thống; xem bói, gieo quẻ, đổi tiền mệnh giá nhỏ hưởng chênh lệch; tăng giá dịch vụ bán hàng, trông giữ xe vào di tích và lễ hội; đốt đồ mã, vàng mã nhiều tại các di tích, đền, phủ; ùn tắc giao thông, mất an toàn trên sông, nước; vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, bày bán thịt động vật hoang dã...

Hoạt động công nhận các danh hiệu văn hóa: Một số nơi có hiện tượng chạy theo thành tích, chưa chú trọng đến chất lượng trong việc bình xét, công nhận các danh hiệu văn hóa; tỷ lệ hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa cao, nhưng các biểu hiện tiêu cực, tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức lối sống, bạo lực gia đình, tệ nạn xã hội, tội phạm… không giảm, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm ảnh hướng xấu đến thuần phong mỹ tục, trật tự an toàn xã hội và làm suy đồi đạo đức, lối sống.

Hoạt động thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội: Còn xuất hiện hiện tượng "thương mại hóa" việc cưới; khi tổ chức cưới còn vi phạm hành lang an toàn giao thông, gây mất trật tự công cộng như dựng lán, bạt lấm chiếm lòng lề, đường, mở loa đài quá giờ quy định với công suất quá to, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của các gia đình xung quanh; một số hủ tục vẫn tồn tại trong đời sống xã hội như đón dâu, rước dâu đi lại nhiều lần, ăn cỗ lấy phần, ăn cỗ nhiều ngày trong lễ tang, rải vàng mã trên đường khi đưa tang...

Việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước: Thực tế vẫn còn tình trạng hương ước, quy ước có nội dung vi phạm pháp luật, quy định việc xử phạt trái pháp luật, vi phạm hoặc hạn chế quyền con người, quyền công dân, đã tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội và hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật; công tác thẩm định, phê duyệt hương ước, quy ước của một số địa phương còn chậm, chưa bảo đảm chất lượng, có tình trạng thẩm định, phê duyệt không đúng thẩm quyền hoặc bỏ qua khâu này mà thực hiện ngay hương ước, quy ước; hương ước, quy ước ở một số địa phương còn chưa được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chưa cao mặc dù nội dung hương ước, quy ước đã khá đầy đủ và rõ ràng.

Trong hoạt động của các thiết chế văn hóa: Một số địa phương chưa thực hiện quy hoạch đất cho xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao hoặc đã có quy hoạch nhưng chưa đầu tư xây dựng hay có nơi còn tình trạng dùng quỹ đất dành cho xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao vào mục đích khác; một số nơi đã có Trung tâm Văn hóa nhưng vẫn bị chuyển đổi vị trí để phục vụ mục đích kinh doanh thương mại; cơ sở vật chất Trung tâm Văn hóa cấp tỉnh cũ kỹ, xuống cấp chưa được nâng cấp kịp thời, không đủ sức mạnh để thu hút người dân tham gia; việc xây dựng cơ chế chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ công tác tại hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở còn chậm, thiếu; nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất không có thiết chế văn hoá, thể thao phục vụ đời sống văn hoá tinh thần, luyện tập thể dục, thể thao của người lao động; một số Nhà văn hóa lao động bị tỉnh thu hồi, mặc dù tỉnh đã đền bù xây dựng Nhà văn hóa lao động ở vị trí khác, tuy nhiên vị trí mới đều không bằng vị trí cũ do không ở trung tâm, xa khu dân cư, xa khu công nghiệp, không thuận tiện về giao thông nên khó hoạt động, khó thu hút công nhân lao động và nhân dân đến sinh hoạt.

3. Các giải pháp nâng cao chất lượng thi hành pháp luật về văn hóa trong cộng đồng dân cư nông thôn mới

Trước thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật như trên, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể để nâng cao hơn nữa việc thực thi pháp luật về văn hóa trong cộng đồng dân cư nông thôn mới, phù hợp với những đặc điểm đặc thù tại từng địa phương, khu vực như sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phương đối với công tác thực thi pháp luật và vai trò của thực thi pháp luật trong đời sống xã hội

Đối với nhóm giải pháp này cần tập trung vào các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp trong công tác thực thi pháp luật, gắn việc thực thi pháp luật với xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Từ thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cho thấy, nhận thức đầy đủ, thống nhất của các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn thể nhân dân về vai trò của thực thi pháp luật, gắn thực thi pháp luật với thành công của công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, tạo ra sự đồng thuận và sự nhiệt tình, hưởng ứng của đông đảo của các đoàn thể luôn giữ vai trò quan trọng hàng đầu.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, chính sách góp phần nâng cao thực thi pháp luật

Các giải pháp trong nhóm này tập trung vào việc gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng chính sách, pháp luật với nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành chính sách, đưa pháp luật vào cuộc sống; gắn công tác tổ chức thi hành pháp luật với công tác xây dựng pháp luật, hạn chế tối đa tình trạng cắt khúc trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Theo đó, những yếu tố bảo đảm thi hành pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật phải được đặt ra, cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình soạn thảo pháp luật; tính khả thi của pháp luật phải được đánh giá nghiêm túc trong tất cả các giai đoạn của xây dựng pháp luật; tăng cường khảo sát thực tiễn, đảm bảo sự tham gia rộng rãi và thực chất của nhân dân trong xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Một giải pháp quan trọng khác trong hoàn thiện pháp luật chính là sự phản biện, tham gia của nhân dân trực tiếp hoặc thông qua cộng đồng dân cư đối với việc xây dựng chính sách, pháp luật như việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, lấy ý kiến của các đối tượng tham gia các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội, các đối tượng thụ hưởng các chính sách văn hóa từ các thiết chế văn hóa...

Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về văn hóa trong cộng đồng dân cư nông thôn mới

Các giải pháp ở nhóm này cần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng làm thay đổi cách nghĩ, cách nhìn của nhân dân đối với pháp luật. Khi tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cần giải thích, phân tích cho người dân hiểu được rằng pháp luật không chỉ bao gồm các quy định hạn chế, quản lý các hoạt động mà pháp luật còn bao gồm các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn khuyến khích, bảo vệ công dân khi tham gia vào các hoạt động văn hóa, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Các biện pháp tuyên truyền phải phù hợp với từng hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng và phải thiết thực, đa dạng. Bên cạnh việc thực hiện có hiệu quả các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật truyền thống, cần quan tâm khai thác có hiệu quả các văn bản pháp luật cập nhật, lưu trữ trên mạng tin học diện rộng của Chính phủ, mạng internet. Xây dựng và đưa vào sử dụng rộng rãi các cơ sở dữ liệu pháp luật điện tử; tiếp tục củng cố và phát triển các hệ thống thông tin pháp luật phù hợp tại các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp. Nâng cao khả năng hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức làm công tác thông tin pháp luật tạo thành mạng lưới thông tin pháp luật thống nhất từ trung ương đến địa phương thực hiện việc tổ chức, quản lý và cung cấp thông tin pháp luật. Ngoài ra, biện pháp rất hữu hiệu là kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật với hướng dẫn áp dụng pháp luật trong cộng đồng dân cư nông thôn mới vùng đồng bằng Bắc bộ.

Thứ tư, tăng cường nguồn nhân lực thực thi pháp luật về văn hóa

Nguồn nhân lực này bao gồm các cơ quan, nhà quản lý; các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị tại địa phương vào công tác thực thi pháp luật. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật trong các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, cơ quan chuyên môn phải chú trọng nâng cao kỹ năng, kỹ thuật lập pháp, kỹ năng rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật; tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí và của người dân đối với công tác tổ chức thi hành pháp luật

Việc kiểm tra, thanh tra phải gắn với có biện pháp xử lý kịp thời. Bên cạnh đó, việc khen thưởng cũng cần phải đổi mới, tích cực. Công tác khen thưởng cần có sự đổi mới, hướng về cơ sở, tăng cường khen thưởng cho người trực tiếp lao động, sản xuất, công tác, tập thể, cá nhân điển hình. Bám sát các quy định về đối tượng, tiêu chuẩn, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị; đặc biệt khen thưởng đột xuất, thành tích đặc biệt xuất sắc được thực hiện kịp thời, đảm bảo tính biểu dương, tôn vinh./.

ThS. Lê Thanh Liêm

Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: