Chủ nhật 09/08/2026 20:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các nguyên tắc cho thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội và vấn đề thực tế đặt ra

Tóm tắt: Bài viết phân tích các nguyên tắc cho thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội và nêu lên những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành các nguyên tắc này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các nguyên tắc cho thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội và nêu lên những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành các nguyên tắc này.

Abstract: The paper analyzes principles of lease, hire-purchase, sale of social houses and points out problems from the practice of implementing these principles.

1. Khái quát về nhà ở xã hội và thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội

Nhà ở xã hội là một loại hình nhà ở khá đặc biệt dành cho người có thu nhập thấp hoặc có những điều kiện đặc thù do pháp luật quy định, đây là những đối tượng không có khả năng tự lo cho mình một chỗ ở nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước. Chính sách nhà ở xã hội mang ý nghĩa xã hội và nhân văn rất lớn, thể hiện rõ nét sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với các nhóm đối tượng còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự lo cho mình một nơi ăn, chốn ở ổn định.

Ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện mức thu nhập của người dân còn thấp mà giá nhà đất lại cao, nên loại hình nhà ở xã hội đã được quan tâm, chú trọng ngày càng nhiều hơn. Lần đầu tiên khái niệm nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp được quy định tại Luật Nhà ở năm 2005 và hiện nay được quy định tại Luật Nhà ở năm 2014, theo đó, nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở. Như vậy, nhà ở xã hội phải đáp ứng được hai điều kiện: (i) Là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước; (ii) Chỉ dành cho những đối tượng được hưởng chính sách về nhà ở theo quy định của pháp luật.

Để phát triển nhà ở xã hội, tạo điều kiện cho những đối tượng được hưởng chính sách nhưng có các điều kiện khác nhau đều được tiếp cận và sử dụng nhà ở, pháp luật quy định các hình thức giao dịch nhà ở xã hội đó là thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội. Việc thực hiện các giao dịch này đều phải tuân theo một hợp đồng bằng văn bản. Có thể nhận diện việc thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội ở những khía cạnh sau:

- Thuê nhà ở xã hội được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cho thuê giao nhà ở cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn và bên thuê phải trả tiền thuê trong thời gian đó.

- Bán nhà ở xã hội là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên bán chuyển quyền sở hữu nhà ở cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

- Thuê mua nhà ở là một hình thức khá ưu việt, theo đó, người có thu nhập thấp sẽ được tạo điều kiện để sở hữu một tài sản lớn là ngôi nhà mà ban đầu mình thuê, sau khi đã hoàn thành được nghĩa vụ trong thời gian thuê theo cam kết. Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014, thuê mua nhà ở là việc người thuê mua thanh toán trước cho bên cho thuê mua 20% giá trị của nhà ở thuê mua, trừ trường hợp người thuê mua có điều kiện thanh toán trước thì được thanh toán không quá 50% giá trị nhà ở thuê mua; số tiền còn lại được tính thành tiền thuê nhà để trả hàng tháng cho bên cho thuê mua trong một thời hạn nhất định; sau khi hết hạn thuê mua nhà ở và khi đã trả hết số tiền còn lại thì người thuê mua có quyền sở hữu đối với nhà ở đó. Lưu ý, bên thuê mua phải là những đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội do Nhà nước quy định.

Có thể xem xét một số đặc trưng của việc thuê mua nhà ở xã hội để từ đó khắc họa rõ nét về thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội như sau:

Một là, khác với hình thức thuê nhà, người thuê mua nhà ở xã hội sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính và kết thúc thời hạn thuê mua thì được bên cho thuê mua làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Hai là, khác với hình thức mua bán nhà, người thuê mua nhà ở xã hội thanh toán lần đầu số tiền 20% giá trị nhà ở thuê mua, nếu có điều kiện thanh toán trước thì được thanh toán không quá 50% giá trị nhà ở thuê mua, sau đó trả số tiền còn lại trong thời hạn thỏa thuận tối thiểu 05 năm và trả hàng tháng.

Ba là, trong thời hạn thuê mua nhà, nhà ở xã hội vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê mua, bên thuê mua chỉ có quyền sử dụng nhà ở và quyền sở hữu nhà ở chỉ được chuyển giao cho bên thuê mua khi bên thuê mua đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ tài chính và được cấp giấy chứng nhận.

Bốn là, hình thức thuê mua nhà ở sẽ nâng cao trách nhiệm của người thuê mua trong việc giữ gìn, bảo quản nhà ở. Mặt khác, việc trả tiền trong một thời gian dài cũng là cơ hội giúp cho người thuê mua có đủ khả năng thanh toán, đồng thời, nhà đầu tư cũng có thể thu hồi vốn đã tạo lập ra nhà ở và có lợi nhuận.

2. Các nguyên tắc cho thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội

Nhà ở xã hội được quản lý chặt chẽ bởi các quy định pháp luật, nhằm đảm bảo đúng mục tiêu hướng tới những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt trong xã hội cần được quan tâm, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội của Nhà nước. Một trong những nội dung đảm bảo cho việc thực hiện đúng và hiệu quả chính sách nhà ở xã hội là phải tuân thủ các nguyên tắc trong việc cho thuê, cho thuê mua, bán nhà ở xã hội, đó là các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, việc cho thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội phải tuân thủ đúng quy định của Luật Nhà ở. Trong cùng một thời gian, các đối tượng theo quy định của Luật Nhà ở chỉ được thuê hoặc thuê mua hoặc mua một nhà ở xã hội, đối với học sinh các trường dân tộc nội trú công lập thì không phải trả tiền thuê nhà ở và các dịch vụ trong quá trình sử dụng.

Thực tế hiện nay cho thấy, nhu cầu về nhà ở nói chung, đặc biệt là nhà ở xã hội rất cao, tuy vậy, nguồn cung thì hạn chế, chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu. Vì vậy, để tránh tình trạng cùng một đối tượng mua được nhiều nhà ở xã hội, thậm chí mang nhà ở xã hội ra làm đối tượng để giao dịch với mục đích kiếm lời, trong khi rất nhiều người thực sự có nhu cầu và hoàn cảnh thực sự khó khăn thì lại không có nhà ở, Nhà nước cho phép mỗi hộ gia đình, cá nhân chỉ được hỗ trợ nhà ở xã hội một lần là hợp lý.

Thứ hai, thời hạn của hợp đồng thuê nhà ở xã hội tối thiểu là 05 năm; thời hạn thanh toán tiền thuê mua nhà ở xã hội tối thiểu là 05 năm, kể từ ngày ký hợp đồng thuê mua nhà ở. Bên thuê, thuê mua nhà ở xã hội không được bán, cho thuê lại, cho mượn nhà ở trong thời gian thuê, thuê mua; nếu bên thuê, thuê mua không còn nhu cầu thuê, thuê mua nhà ở thì chấm dứt hợp đồng và phải trả lại nhà ở này.

Thứ ba, bên thuê mua, bên mua nhà ở xã hội không được bán lại nhà ở trong thời hạn tối thiểu là 05 năm, kể từ thời điểm thanh toán hết tiền thuê mua, tiền mua nhà ở. Trường hợp trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bên mua, bên thuê mua đã thanh toán hết tiền mua, tiền thuê mua nhà ở mà có nhu cầu bán nhà ở này thì chỉ được bán lại cho đơn vị quản lý nhà ở xã hội đó hoặc bán cho đối tượng thuộc diện được mua nhà ở xã hội nếu đơn vị này không mua với giá bán tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bán và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Như vậy, có thể thấy, đối với người mua nhà ở xã hội thì quyền năng định đoạt đối với nhà ở bị hạn chế so với trường hợp mua nhà ở thương mại. Điều này cũng dễ hiểu bởi khi mua nhà ở xã hội, họ là đối tượng được Nhà nước hỗ trợ, được hưởng sự ưu đãi từ các chính sách dành cho nhà ở xã hội và thực tế đối tượng cần sự hỗ trợ của Nhà nước là khá nhiều, cũng như nhu cầu về nhà ở xã hội là rất lớn. Quy định này nhằm quản lý chặt chẽ quỹ nhà ở xã hội, dành cho những người xứng đáng được hưởng, đảm bảo ý nghĩa của việc mua bán nhà ở xã hội, tránh tình trạng thương mại hóa nhà ở xã hội.

Thứ tư, bên mua, bên thuê mua nhà ở xã hội được bán lại nhà ở này theo cơ chế thị trường cho các đối tượng có nhu cầu sau thời hạn 05 năm, kể từ khi thanh toán hết tiền mua, tiền thuê mua nhà ở và đã được cấp giấy chứng nhận nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ và nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật thuế. Trong trường hợp bán cho đối tượng thuộc diện được mua nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật thì chỉ được bán với giá tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội cùng loại tại cùng địa điểm, thời điểm bán và không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

Thay vì quy định chỉ được chuyển nhượng nhà ở xã hội sau 10 năm như trước đây, quy định mới này đã rút ngắn thời gian cho phép được chuyển nhượng sau khi đã mua xuống còn 05 năm, đây cũng là một quy định ưu đãi và hợp lý giúp cho người mua nhà ở xã hội khi họ có đủ điều kiện về tài chính, họ có thể chuyển đến nơi ở mới có điều kiện tốt hơn.

Kể từ thời điểm người mua nhà ở xã hội được phép bán nhà ở xã hội cho các đối tượng có nhu cầu thì ngoài các khoản phải nộp khi thực hiện bán nhà ở theo quy định của pháp luật, bên bán căn hộ nhà chung cư phải nộp cho Nhà nước 50% giá trị tiền sử dụng đất được phân bổ cho căn hộ đó; trường hợp bán nhà ở xã hội thấp tầng liền kề phải nộp 100% tiền sử dụng đất, tính theo giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tại thời điểm bán nhà ở.

Đối với hộ gia đình, cá nhân thuộc diện được tái định cư mà thuê mua, mua nhà ở xã hội thì được bán lại nhà ở này theo cơ chế thị trường cho các đối tượng có nhu cầu sau khi đã thanh toán hết tiền mua, tiền thuê mua nhà ở và được cấp giấy chứng nhận nhưng phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước theo quy định của Chính phủ và phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật thuế.

Thứ năm, tất cả các trường hợp cho thuê, cho thuê mua, bán nhà ở xã hội không đúng với quy định của Luật Nhà ở và trái các nguyên tắc theo quy định pháp luật thì hợp đồng cho thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội không có giá trị pháp lý và bên thuê, thuê mua, mua phải bàn giao lại nhà ở cho đơn vị quản lý nhà ở xã hội. Trường hợp cố tình không bàn giao lại nhà ở thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà ở tổ chức cưỡng chế thu hồi lại nhà ở đó.

Những nguyên tắc trên đây cho thấy rõ ràng sự khác biệt giữa nhà ở thương mại với nhà ở xã hội, về đối tượng mua, về cách thức thực hiện và giới hạn cho việc thực hiện quyền. Có thể thấy, nhà ở thương mại được chủ đầu tư bán rộng rãi cho các đối tượng khách hàng khi có nhu cầu và đủ tiềm lực tài chính để mua; người mua cũng hoàn toàn có quyền bán lại căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình cho mọi đối tượng có nhu cầu, miễn các bên tuân thủ đúng quy định pháp luật. Còn đối với nhà ở xã hội, đây là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước với nhiều chính sách ưu đãi cho cả chủ đầu tư lẫn người mua. Vì thế, pháp luật đã giới hạn quyền cho chủ sở hữu nhà ở xã hội như thời gian được bán lại, giá cả của việc bán khi chưa đủ 05 năm sau khi trả hết tiền; bên cạnh đó, khi bán nhà ở xã hội, người bán phải đóng tiền sử dụng đất cho Nhà nước do ban đầu khi chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội chưa phải đóng tiền sử dụng đất.

3. Các vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành các nguyên tắc thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội

Các nguyên tắc trong thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội đã tạo một khung khổ pháp lý cho việc thực hiện tương đối hiệu quả chính sách nhà ở xã hội, tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai vẫn còn những hạn chế, bất cập đi ngược lại tiêu chí mà các nguyên tắc của Luật Nhà ở đã đặt ra, cụ thể là:

Thứ nhất, một tình trạng đáng lo ngại trên thực tế hiện nay đó là nhà ở xã hội được bán không đúng đối tượng, điều này vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc mà pháp luật đã quy định.

Theo quy định hiện nay, việc xét duyệt nhà ở xã hội cho các đối tượng chủ yếu thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư dự án, chủ đầu tư dự án vừa là người xây dựng, phân phối vừa là người quản lý sau này. Trong khi chủ đầu tư có quyền hạn lớn trong việc xét duyệt hồ sơ, lập danh sách mua nhà, thì các cơ quan quản lý nhà nước lại chưa được sâu sát trong việc kiểm soát vấn đề này, dẫn đến hậu quả bán nhà ở xã hội không đúng đối tượng, kết quả là nhà ở xã hội bị sử dụng sai mục đích, không đúng với ý nghĩa nhân văn của nó. Không khó để nhìn thấy hình ảnh xe ô tô, thậm chí là ô tô hạng sang của những người là chủ sở hữu của căn nhà được gọi là nhà ở xã hội. Thời gian vừa qua, thông tin 03 người nhà của lãnh đạo Doanh nghiệp BIC chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội Rice City, khu đô thị Tây Nam Linh Đàm Hà Nội “lọt” vào danh sách xét duyệt mua nhà ở xã hội khiến dư luận không khỏi bất bình. Đại diện chủ đầu tư ban đầu phủ nhận thông tin này nhưng sau đó đã xác nhận và lý giải dù là người thân của chủ đầu tư nhưng vẫn đủ điều kiện được mua nhà do chưa sở hữu nhà. Chỉ đến khi Sở Xây dựng Hà Nội vào cuộc yêu cầu chủ đầu tư giải trình thì được trình bày là do người mua nhà không nộp tiền nên bị cắt hợp đồng và chủ đầu tư đã trả lại hồ sơ, do đó không kịp phô tô hồ sơ của đối tượng này để nộp cho Sở Xây dựng[1]. Bên cạnh đó, còn có tình trạng chủ đầu tư tặng suất mua nhà ở xã hội cho đại diện các cơ quan quản lý đã giúp đỡ họ trong quá trình thực hiện dự án.

Tìm hiểu các quy định pháp luật về quy trình xét duyệt đối tượng được mua nhà ở xã hội có thể nhận thấy vai trò của Sở Xây dựng khá mờ nhạt nên sẽ rất dễ cho những trường hợp trục lợi từ dự án nhà ở xã hội. Theo ông Phạm Sỹ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam: Chừng nào còn trao mọi quyền cho doanh nghiệp, từ xây nhà, xét duyệt hồ sơ, chấm điểm, quản lý sau này, thì chừng đó các hành vi trái luật vẫn còn. Một khi việc lên danh sách người đủ điều kiện mua nhà ở xã hội đã sai thì các bước tiếp theo khó chuẩn. Tốt nhất, việc này nên có một tổ công tác hay một nhóm xét duyệt độc lập, tránh cho doanh nghiệp một mình “bao sân”[2]. Tác giả rất chia sẻ với quan điểm này và cho rằng, Nhà nước cần có những quy định chặt chẽ, nghiêm khắc hơn trong việc thực hiện quy trình xét duyệt hồ sơ mua nhà ở xã hội nhưng cũng đảm bảo sự khách quan và công bằng, tránh sự sách nhiễu từ phía cơ quan nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho những người đúng đối tượng và có nhu cầu mua nhà ở xã hội. Công việc này tốt nhất là không nên giao cho chủ đầu tư.

Thứ hai, mặc dù về mặt nguyên tắc, bên thuê mua, bên mua nhà ở xã hội không được bán lại nhà ở trong thời hạn tối thiểu 05 năm, nhưng không ít trường hợp người mua nhà ở xã hội chỉ nhằm giữ suất và là giải pháp tạm thời, sau khi mua nhà, họ bán suất cho người khác ngay chứ không ở tại căn hộ đó, việc mua bán này chỉ được thực hiện bằng giấy viết tay và không công khai. Điều này khiến những người thu nhập thấp thực sự có nhu cầu về nhà ở lại không được hưởng chính sách nhà ở xã hội.

Ví dụ, tại Đà Nẵng, rất nhiều tòa nhà được bán theo hình thức nhà ở xã hội nhưng nhiều người Hà Nội vào mua, không những thế, họ còn cải tạo cho thuê, thực trạng này đang nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước. Bên cạnh đó, khi vào các trang rao vặt về mua bán bất động sản, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp hàng loạt thông tin rao bán căn hộ các dự án nhà ở xã hội.

Thực tế có nhiều trường hợp chủ căn hộ mua, thuê mua nhà ở xã hội rồi cho người khác thuê, mượn lại nhà ở của mình một cách âm thầm, người thuê đó mới là người sử dụng nhà, còn chủ căn hộ vẫn đứng ra thực hiện các nghĩa vụ, giao dịch về mặt danh nghĩa với cơ quan quản lý, ban quản trị nhà. Sau đó, đợi đến khi đủ thời hạn và đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, chủ nhà sẽ hoàn thiện các giấy tờ để bán nhà chính thức, sang tên. Thực tế này phát sinh nhiều rủi ro cho cả hai bên giao dịch, bởi vì bên sở hữu nhà bán, cho thuê trái phép nếu bị phát hiện sẽ bị phạt và tịch thu nhà, còn về bên mua, thuê lại thì không có bất cứ cơ sở pháp lý nào về việc bồi thường cho đối tượng này. Do đó, việc siết chặt quy định quản lý về nhà ở xã hội là cần thiết.

Việc phát hiện dấu hiệu vi phạm trong mua, bán nhà ở xã hội nhiều nhưng xử lý chẳng được bao nhiêu do cơ chế kiểm soát quá lỏng lẻo. Trường hợp có sai phạm thì xử lý chỉ dừng lại ở phát hiện và thu hồi (trả lại tiền cho người mua nhà ở xã hội). Vì vậy, cần phải có chế tài phạt hành chính nghiêm khắc hơn, thậm chí thu hồi không hoàn tiền để trả lại sự công bằng và niềm tin trong nhân dân vào chính sách an sinh xã hội.

Thứ ba, khó khăn trong việc triển khai hình thức cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội. Bởi lẽ, với tâm lý của các nhà đầu tư, khi bỏ ra một khoản tiền đầu tư, luôn mong muốn sẽ thu được lợi nhuận và thu được nhanh chóng. Trong khi đó, chính sách nhà ở xã hội là một chính sách mang ý nghĩa phúc lợi nhiều hơn, nguồn lợi nhuận thu về cho các chủ đầu tư không nhiều. Mặt khác, pháp luật cho phép các chủ đầu tư có quyền bán, cho thuê, cho thuê mua, vì vậy, chủ đầu tư thường là lựa chọn hình thức bán nhà ở xã hội hơn các hình thức khác. Phần lớn các trường hợp thuê mua nhà ở hiện nay chỉ được thực hiện đối với các dự án nhà ở xã hội được đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước do quy định nhà ở xã hội được đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước chỉ sử dụng để cho thuê và cho thuê mua.

Thứ tư, quy trình xét duyệt hồ sơ có vẻ là đơn giản nhưng dường như chỉ là đơn giản và thuận lợi với những người có “điều kiện” hay có “mối quan hệ”, còn với những người thực sự có nhu cầu mua nhà ở xã hội và đúng đối tượng mua nhà ở xã hội thì việc nộp được hồ sơ có thể lại không dễ dàng chút nào. Thiết nghĩ, những quy định về tiêu chí xét duyệt hồ sơ cũng phải được chuẩn chỉnh, công khai, minh bạch và rõ ràng cho người dân được biết, tránh mỗi nơi làm một kiểu và yêu cầu một kiểu, để người dân tránh được hao tổn công sức, thời gian và không cảm thấy chán nản khi đi mua nhà ở xã hội, bởi đây vốn là những đối tượng đáng được xã hội ưu tiên và quan tâm. Rõ ràng, việc đặt ra những nguyên tắc cho việc thuê, thuê mua, bán nhà ở xã hội và đảm bảo cho việc thực thi những nguyên tắc đó là vấn đề cần thiết đặt ra trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về nhà ở xã hội, nhằm đảm bảo an sinh xã hội và phát triển bền vững.

TS. Phạm Thu Thủy

Đại học Luật Hà Nội

[1]. Dân giàu tranh nhau mua nhà ở xã hội, người thu nhập thấp “khóc thét”, đăng tại http://reatimes.vn/dan-giau-tranh-nhau-mua-nha-o-xa-hoi-nguoi-thu-nhap-thap-khoc-thet-1049.html, ngày 17/6/2016.

[2]. Kim Đức, Bán liền tay nhà ở xã hội có đúng luật? Đăng tại https://bds.tinnhanhchungkhoan.vn/bat-dong-san/ban-lien-tay-nha-o-xa-hoi-co-dung-luat-159015.html, ngày 10/5/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: