Thứ năm 15/01/2026 17:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các nguyên tắc cơ bản trong giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở Việt Nam.

Hiện nay, giáo dục quyền con người đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Nhiều tổ chức quốc tế đã có những chương trình hành động lớn và rộng khắp trên thế giới về vấn đề này. Ở phạm vi quốc gia, giáo dục quyền con người cũng đã trở thành một phần trong chương trình giáo dục của nhiều nước, tuy có sự khác nhau về phạm vi, mức độ và cách thức tổ chức hoạt động. Trên thực tế, giáo dục quyền con người, xét ở góc độ nhất định, từ lâu đã được thực hiện trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, dưới hình thức giáo dục đạo đức công dân.

Kể từ khi đổi mới đến nay, hoạt động giáo dục quyền con người đã được tăng cường thêm một bước, xét cả về nội dung và phạm vi tổ chức. Mặc dù quyền con người không phải là một phạm trù dễ hiểu nhưng việc giáo dục quyền con người với mức độ nhất định và bằng các phương pháp phù hợp trong các nhà trường phổ thông là cần thiết và có thể thực hiện được. Thực tế trên thế giới đã chứng minh tính hữu ích và hiệu quả của việc hình thành nhận thức và thái độ tôn trọng quyền con người của các cá nhân ngay từ khi còn trẻ thông qua việc triển khai giáo dục nhân quyền cho học sinh phổ thông. Bài viết này tập trung phân tích vai trò của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông và những nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông… tạo tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy hoạt động giáo dục nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới.

1. Vai trò của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông và cơ sở xác định các nguyên tắc thực hiện
Quyền con người có giá trị chung, mang tính phổ quát và tính đặc thù của từng dân tộc, quốc gia, sự khác nhau về lịch sử, thể chế chính trị, văn hóa và tôn giáo[1]. Giáo dục quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập và phát triển. Đối với đối tượng học sinh phổ thông, giáo dục quyền con người góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức, nhân văn và ý thức tôn trọng, bảo vệ quyền con người, tôn trọng và tuân thủ pháp luật.
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông góp phần bảo đảm yêu cầu giáo dục toàn diện của bậc giáo dục phổ thông, từ đó bảo đảm sự phát triển toàn diện cho người. Thực tế, giáo dục không chỉ nhằm cung cấp cho con người kiến thức mà cần phải có kỹ năng, thái độ, khả năng chung sống, khả năng làm việc, khả năng thích ứng… Tất cả những đòi hỏi này đặt ra yêu cầu đối với hoạt động giáo dục quyền con người phải dựa trên sự nhận thức, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bởi lẽ, chỉ khi học sinh phổ thông nhận thức được quyền con người của mình thì mới có thể tôn trọng, bảo vệ quyền con người của người khác.
Giáo dục quyền con người cũng như bất kỳ một hoạt động xã hội nào khác, cần phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định. Đối với học sinh phổ thông, do đặc điểm tâm sinh lý đang trong giai đoạn hình thành, ổn định và phát triển mà thực chất là quá trình chuyển đổi từ “trẻ con” sang “người lớn” do vậy, việc xác định và thực hiện đúng các nguyên tắc giáo dục quyền con người lại càng có ý nghĩa quan trọng.
Nguyên tắc giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được xây dựng căn cứ vào những quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo nước nhà, xây dựng cho học sinh có năng lực lĩnh hội và thực hành kiến thức khoa học, đạo đức và pháp luật. Quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục và đào tạo đã được thể hiện trong Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[2]. Đồng thời, các nguyên tắc cơ bản của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông còn xuất phát từ yêu cầu phù hợp với nguyên lý của nền giáo dục quốc gia và mục tiêu của giáo dục phổ thông được quy định trong Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009); đặc điểm tâm, sinh lý và khả năng nhận thức của học sinh phổ thông; các yếu tố truyền thống dân tộc, truyền thống gia đình, nền văn hóa dân tộc và sự tương thích với luật pháp quốc tế, xu thế phát triển tiến bộ của thời đại.
Nghiên cứu thực tiễn giáo dục toàn diện ở Việt Nam cho thấy, yêu cầu giáo dục toàn diện ở nước ta hiện nay được xây dựng và triển khai trên nền tảng, triết lý, tư tưởng giáo dục, đào tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến yêu cầu đào tạo những công dân hữu ích cho nước nhà; phát triển các năng lực sẵn có của trẻ em; trọng dụng nhân tài; giáo dục, dạy làm người; dạy tốt, học tốt; học đi đôi với hành…[3]
Hội nghị thế giới về quyền con người được tổ chức tại Vienna (Áo) năm 1993 đã nhấn mạnh: Coi giáo dục, đào tạo và thông tin chung về quyền con người là thiết yếu cho thúc đẩy và đạt được các quan hệ hài hòa, ổn định trong các cộng đồng và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, khoan dung và hòa bình. Vì vậy, giáo dục về quyền con người là thông điệp chung của thời đại: “Con người càng hiểu biết nhiều về các quyền của chính mình thì càng tôn trọng các quyền của những người khác và như vậy càng có cơ hội chung sống hoà bình. Chỉ khi nào người dân được giáo dục về quyền con người thì lúc đó chúng ta mới có thể hy vọng ngăn chặn những hành vi vi phạm quyền con người cũng như ngăn chặn xung đột”[4].
2. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
2.1. Nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp giữa mục tiêu giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông với mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục đạo đức các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam của giáo dục phổ thông. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông đặt trọng tâm vào việc hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức quyền con người vào từng trường hợp cụ thể, từ đó giúp học sinh phổ thông chủ động trong việc tự học, sử dụng kiến thức quyền con người.
Nội dung giáo dục quyền con người là một nội dung - thành tố của giáo dục phổ thông, được kết cấu lồng ghép trong nhiều nội dung của chương trình giáo dục phổ thông. Sự gắn kết chặt chẽ giữa phương pháp giáo dục phổ thông và phương pháp giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông, nghĩa là phương pháp giảng dạy quyền con người cho học sinh phổ thông được sử dụng phổ biến là phương pháp thuyết giảng. Hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông góp phần quan trọng vào việc hình thành mục tiêu phát triển nhân cách cho học sinh phổ thông.
2.2. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được tiến hành thường xuyên và có hệ thống
Giáo dục quyền con người nói chung, giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông nói riêng là một chỉnh thể thống nhất, có sự gắn bó chặt chẽ giữa giáo dục quyền (những việc được làm và được tôn trọng) với giáo dục nghĩa vụ (những việc phải làm, phải tuân thủ vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng hoặc lợi ích của người khác) với giáo dục trách nhiệm quyền con người. Trách nhiệm đối với quyền con người không chỉ bao hàm trách nhiệm pháp lý mà còn cả trách nhiệm đạo đức trong quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm, bạn bè; trách nhiệm cộng đồng, xã hội.
Quá trình phát triển, hoàn thiện tri thức, nhân cách của học sinh phổ thông có vai trò to lớn của nhà trường phổ thông. Các hoạt động giáo dục của nhà trường phổ thông có tác động mạnh mẽ tới nếp nghĩ, cách hành động của học sinh phổ thông. Và do đó, có thể khẳng định, giai đoạn học sinh phổ thông là thời cơ vàng của việc truyền đạt, ghi nhận hệ thống tri thức cơ bản đặt nền móng cho các cấp học cao hơn và bước chân vào đời sống xã hội. Để cho quá trình nhận thức về quyền con người đòi hỏi việc giáo dục quyền con người phải được tiến hành song song với quá trình giáo dục phổ thông, là quá trình phát triển liên tục của quá trình nhận thức, phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm lý lứa tuổi học sinh phổ thông. Từ việc mở rộng các quan hệ xã hội, môi trường sống và các yếu tố tác động đến nhận thức và thực hành về quyền con người của học sinh phổ thông cũng phát triển theo. Chẳng hạn, đối với học sinh tiểu học, trọng tâm của giáo dục quyền con người cho đối tượng này là giáo dục ý thức trách nhiệm của bản thân đối với mình và đối với người xung quanh, tôn trọng các quy tắc giao tiếp tối thiểu, những hoạt động được phép… Đối với học sinh phổ thông trung học, những kiến thức về quyền con người liên quan đến quyền học tập, quyền được người khác tôn trọng, quyền lao động, quyền kết hôn, trách nhiệm đối với gia đình, xã hội trong tư cách của người trưởng thành là những nội dung trọng tâm cần được trang bị cho học sinh phổ thông trung học. Như vậy, tính liên kết hệ thống từ thấp đến cao trong hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là một trong những nguyên tắc quan trọng. Nếu việc giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông không có tính liên kết, tính hệ thống theo mức độ nhận thức sẽ dẫn đến tính trạng trùng lặp về nội dung giáo dục quyền con người và dẫn đến thái độ thờ ơ, không quan tâm tìm hiểu để nâng cao nhận thức về quyền con người.
2.3. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông phải bảo đảm tính linh hoạt, gắn kết giữa giáo dục lý luận với giáo dục thực tiễn
Giáo dục phổ thông tập trung vào trang bị kiến thức cơ bản, phổ thông từ thấp đến cao, phù hợp với quá trình hoàn thiện năng lực tư duy của học sinh phổ thông. Do vậy, hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông cũng là một bộ phận không thể tách rời của nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, trong hoạt động giáo dục phổ thông, việc trang bị kiến thức được coi trọng hơn việc trang bị, giáo dục kỹ năng sống, cách hành xử, lối suy nghĩ dựa trên quyền con người. Nội dung giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông cần đảm bảo tính thiết thực, liên quan đến cuộc sống hàng ngày của các em, các em đều có thể trải nghiệm thực tế.
Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục quyền con người chính thức do các trường phổ thông thực hiện với giáo dục quyền con người do các tổ chức đại diện của học sinh phổ thông như Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chi hội Phụ nữ… là một trong những nội dung quan trọng giúp cho việc gắn kết việc bảo vệ quyền con người với thực tiễn và phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người rất đa dạng như tham vấn về nội dung giáo dục quyền con người, hỗ trợ hoạt động giáo dục quyền con người chính thức trên lớp học.
2.4. Bảo đảm sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người
Với tư cách là đối tượng được giáo dục về quyền con người, hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông phải tạo được môi trường có tính tranh luận để học sinh phổ thông có thể tự do phát biểu quan điểm, chính kiến của mình về các vấn đề liên quan đến quyền con người. Tạo lập môi trường cho học sinh phổ thông được chủ động trong hoạt động giáo dục quyền con người đòi hỏi các trường phổ thông phải xây dựng được môi trường giáo dục vì con người, tôn trọng con người và cho con người. Học sinh phổ thông phải được tôn trọng trong môi trường giáo dục phổ thông. Sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người được thể hiện qua nhiều phương thức như: Chủ động xây dựng tình huống; tham gia thuyết trình về quyền con người; tham gia giải quyết các bài tập tình huống dưới sự hướng dẫn của giáo viên, cán bộ làm công tác thực tiễn.
Bảo đảm sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người cần được tiến hành song song với qua trình đổi mới hoạt động giáo dục phổ thông, coi học sinh phổ thông là trung tâm của mọi hoạt động giáo dục, coi trọng việc gây dựng, rèn luyện kỹ năng sống dựa trên cơ sở quyền con người. Khi được tham gia chủ động vào hoạt động giáo dục quyền con người, học sinh phổ thông có điều kiện thực hành các lý thuyết quyền con người, vận dụng pháp luật quyền con người vào việc gây dựng, duy trì quan hệ xã hội hòa bình, khả năng chung sống, hòa nhập vào các môi trường văn hóa khác nhau.

Ngô Văn Nam
Sở Văn hóa, Du lịch & Thể thao Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
[1]. Nguyễn Trường Giang, Giáo dục quyền con người tại các trường đại học hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2013.
[2]. Xem: Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
[3]. Xem: Vũ Văn Phúc, Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo tinh thần nghị quyết đại hội XI của Đảng: Quan điểm, thực trạng và giải pháp
[4]. Thông điệp của Tổng thư ký Liên hợp quốc Koffi Annan nhân ngày Quyền con người, 10/12/2000, Thông cáo báo chí Liên Hợp quốc, ngày 10/2/2000.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: