Thứ năm 21/05/2026 23:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các nguyên tắc cơ bản trong giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở Việt Nam.

Hiện nay, giáo dục quyền con người đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Nhiều tổ chức quốc tế đã có những chương trình hành động lớn và rộng khắp trên thế giới về vấn đề này. Ở phạm vi quốc gia, giáo dục quyền con người cũng đã trở thành một phần trong chương trình giáo dục của nhiều nước, tuy có sự khác nhau về phạm vi, mức độ và cách thức tổ chức hoạt động. Trên thực tế, giáo dục quyền con người, xét ở góc độ nhất định, từ lâu đã được thực hiện trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, dưới hình thức giáo dục đạo đức công dân.

Kể từ khi đổi mới đến nay, hoạt động giáo dục quyền con người đã được tăng cường thêm một bước, xét cả về nội dung và phạm vi tổ chức. Mặc dù quyền con người không phải là một phạm trù dễ hiểu nhưng việc giáo dục quyền con người với mức độ nhất định và bằng các phương pháp phù hợp trong các nhà trường phổ thông là cần thiết và có thể thực hiện được. Thực tế trên thế giới đã chứng minh tính hữu ích và hiệu quả của việc hình thành nhận thức và thái độ tôn trọng quyền con người của các cá nhân ngay từ khi còn trẻ thông qua việc triển khai giáo dục nhân quyền cho học sinh phổ thông. Bài viết này tập trung phân tích vai trò của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông và những nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông… tạo tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy hoạt động giáo dục nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới.

1. Vai trò của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông và cơ sở xác định các nguyên tắc thực hiện
Quyền con người có giá trị chung, mang tính phổ quát và tính đặc thù của từng dân tộc, quốc gia, sự khác nhau về lịch sử, thể chế chính trị, văn hóa và tôn giáo[1]. Giáo dục quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập và phát triển. Đối với đối tượng học sinh phổ thông, giáo dục quyền con người góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức, nhân văn và ý thức tôn trọng, bảo vệ quyền con người, tôn trọng và tuân thủ pháp luật.
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông góp phần bảo đảm yêu cầu giáo dục toàn diện của bậc giáo dục phổ thông, từ đó bảo đảm sự phát triển toàn diện cho người. Thực tế, giáo dục không chỉ nhằm cung cấp cho con người kiến thức mà cần phải có kỹ năng, thái độ, khả năng chung sống, khả năng làm việc, khả năng thích ứng… Tất cả những đòi hỏi này đặt ra yêu cầu đối với hoạt động giáo dục quyền con người phải dựa trên sự nhận thức, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bởi lẽ, chỉ khi học sinh phổ thông nhận thức được quyền con người của mình thì mới có thể tôn trọng, bảo vệ quyền con người của người khác.
Giáo dục quyền con người cũng như bất kỳ một hoạt động xã hội nào khác, cần phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định. Đối với học sinh phổ thông, do đặc điểm tâm sinh lý đang trong giai đoạn hình thành, ổn định và phát triển mà thực chất là quá trình chuyển đổi từ “trẻ con” sang “người lớn” do vậy, việc xác định và thực hiện đúng các nguyên tắc giáo dục quyền con người lại càng có ý nghĩa quan trọng.
Nguyên tắc giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được xây dựng căn cứ vào những quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo nước nhà, xây dựng cho học sinh có năng lực lĩnh hội và thực hành kiến thức khoa học, đạo đức và pháp luật. Quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục và đào tạo đã được thể hiện trong Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[2]. Đồng thời, các nguyên tắc cơ bản của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông còn xuất phát từ yêu cầu phù hợp với nguyên lý của nền giáo dục quốc gia và mục tiêu của giáo dục phổ thông được quy định trong Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009); đặc điểm tâm, sinh lý và khả năng nhận thức của học sinh phổ thông; các yếu tố truyền thống dân tộc, truyền thống gia đình, nền văn hóa dân tộc và sự tương thích với luật pháp quốc tế, xu thế phát triển tiến bộ của thời đại.
Nghiên cứu thực tiễn giáo dục toàn diện ở Việt Nam cho thấy, yêu cầu giáo dục toàn diện ở nước ta hiện nay được xây dựng và triển khai trên nền tảng, triết lý, tư tưởng giáo dục, đào tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến yêu cầu đào tạo những công dân hữu ích cho nước nhà; phát triển các năng lực sẵn có của trẻ em; trọng dụng nhân tài; giáo dục, dạy làm người; dạy tốt, học tốt; học đi đôi với hành…[3]
Hội nghị thế giới về quyền con người được tổ chức tại Vienna (Áo) năm 1993 đã nhấn mạnh: Coi giáo dục, đào tạo và thông tin chung về quyền con người là thiết yếu cho thúc đẩy và đạt được các quan hệ hài hòa, ổn định trong các cộng đồng và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, khoan dung và hòa bình. Vì vậy, giáo dục về quyền con người là thông điệp chung của thời đại: “Con người càng hiểu biết nhiều về các quyền của chính mình thì càng tôn trọng các quyền của những người khác và như vậy càng có cơ hội chung sống hoà bình. Chỉ khi nào người dân được giáo dục về quyền con người thì lúc đó chúng ta mới có thể hy vọng ngăn chặn những hành vi vi phạm quyền con người cũng như ngăn chặn xung đột”[4].
2. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
2.1. Nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp giữa mục tiêu giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông với mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục đạo đức các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam của giáo dục phổ thông. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông đặt trọng tâm vào việc hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức quyền con người vào từng trường hợp cụ thể, từ đó giúp học sinh phổ thông chủ động trong việc tự học, sử dụng kiến thức quyền con người.
Nội dung giáo dục quyền con người là một nội dung - thành tố của giáo dục phổ thông, được kết cấu lồng ghép trong nhiều nội dung của chương trình giáo dục phổ thông. Sự gắn kết chặt chẽ giữa phương pháp giáo dục phổ thông và phương pháp giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông, nghĩa là phương pháp giảng dạy quyền con người cho học sinh phổ thông được sử dụng phổ biến là phương pháp thuyết giảng. Hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông góp phần quan trọng vào việc hình thành mục tiêu phát triển nhân cách cho học sinh phổ thông.
2.2. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được tiến hành thường xuyên và có hệ thống
Giáo dục quyền con người nói chung, giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông nói riêng là một chỉnh thể thống nhất, có sự gắn bó chặt chẽ giữa giáo dục quyền (những việc được làm và được tôn trọng) với giáo dục nghĩa vụ (những việc phải làm, phải tuân thủ vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng hoặc lợi ích của người khác) với giáo dục trách nhiệm quyền con người. Trách nhiệm đối với quyền con người không chỉ bao hàm trách nhiệm pháp lý mà còn cả trách nhiệm đạo đức trong quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm, bạn bè; trách nhiệm cộng đồng, xã hội.
Quá trình phát triển, hoàn thiện tri thức, nhân cách của học sinh phổ thông có vai trò to lớn của nhà trường phổ thông. Các hoạt động giáo dục của nhà trường phổ thông có tác động mạnh mẽ tới nếp nghĩ, cách hành động của học sinh phổ thông. Và do đó, có thể khẳng định, giai đoạn học sinh phổ thông là thời cơ vàng của việc truyền đạt, ghi nhận hệ thống tri thức cơ bản đặt nền móng cho các cấp học cao hơn và bước chân vào đời sống xã hội. Để cho quá trình nhận thức về quyền con người đòi hỏi việc giáo dục quyền con người phải được tiến hành song song với quá trình giáo dục phổ thông, là quá trình phát triển liên tục của quá trình nhận thức, phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm lý lứa tuổi học sinh phổ thông. Từ việc mở rộng các quan hệ xã hội, môi trường sống và các yếu tố tác động đến nhận thức và thực hành về quyền con người của học sinh phổ thông cũng phát triển theo. Chẳng hạn, đối với học sinh tiểu học, trọng tâm của giáo dục quyền con người cho đối tượng này là giáo dục ý thức trách nhiệm của bản thân đối với mình và đối với người xung quanh, tôn trọng các quy tắc giao tiếp tối thiểu, những hoạt động được phép… Đối với học sinh phổ thông trung học, những kiến thức về quyền con người liên quan đến quyền học tập, quyền được người khác tôn trọng, quyền lao động, quyền kết hôn, trách nhiệm đối với gia đình, xã hội trong tư cách của người trưởng thành là những nội dung trọng tâm cần được trang bị cho học sinh phổ thông trung học. Như vậy, tính liên kết hệ thống từ thấp đến cao trong hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là một trong những nguyên tắc quan trọng. Nếu việc giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông không có tính liên kết, tính hệ thống theo mức độ nhận thức sẽ dẫn đến tính trạng trùng lặp về nội dung giáo dục quyền con người và dẫn đến thái độ thờ ơ, không quan tâm tìm hiểu để nâng cao nhận thức về quyền con người.
2.3. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông phải bảo đảm tính linh hoạt, gắn kết giữa giáo dục lý luận với giáo dục thực tiễn
Giáo dục phổ thông tập trung vào trang bị kiến thức cơ bản, phổ thông từ thấp đến cao, phù hợp với quá trình hoàn thiện năng lực tư duy của học sinh phổ thông. Do vậy, hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông cũng là một bộ phận không thể tách rời của nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, trong hoạt động giáo dục phổ thông, việc trang bị kiến thức được coi trọng hơn việc trang bị, giáo dục kỹ năng sống, cách hành xử, lối suy nghĩ dựa trên quyền con người. Nội dung giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông cần đảm bảo tính thiết thực, liên quan đến cuộc sống hàng ngày của các em, các em đều có thể trải nghiệm thực tế.
Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục quyền con người chính thức do các trường phổ thông thực hiện với giáo dục quyền con người do các tổ chức đại diện của học sinh phổ thông như Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chi hội Phụ nữ… là một trong những nội dung quan trọng giúp cho việc gắn kết việc bảo vệ quyền con người với thực tiễn và phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người rất đa dạng như tham vấn về nội dung giáo dục quyền con người, hỗ trợ hoạt động giáo dục quyền con người chính thức trên lớp học.
2.4. Bảo đảm sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người
Với tư cách là đối tượng được giáo dục về quyền con người, hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông phải tạo được môi trường có tính tranh luận để học sinh phổ thông có thể tự do phát biểu quan điểm, chính kiến của mình về các vấn đề liên quan đến quyền con người. Tạo lập môi trường cho học sinh phổ thông được chủ động trong hoạt động giáo dục quyền con người đòi hỏi các trường phổ thông phải xây dựng được môi trường giáo dục vì con người, tôn trọng con người và cho con người. Học sinh phổ thông phải được tôn trọng trong môi trường giáo dục phổ thông. Sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người được thể hiện qua nhiều phương thức như: Chủ động xây dựng tình huống; tham gia thuyết trình về quyền con người; tham gia giải quyết các bài tập tình huống dưới sự hướng dẫn của giáo viên, cán bộ làm công tác thực tiễn.
Bảo đảm sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người cần được tiến hành song song với qua trình đổi mới hoạt động giáo dục phổ thông, coi học sinh phổ thông là trung tâm của mọi hoạt động giáo dục, coi trọng việc gây dựng, rèn luyện kỹ năng sống dựa trên cơ sở quyền con người. Khi được tham gia chủ động vào hoạt động giáo dục quyền con người, học sinh phổ thông có điều kiện thực hành các lý thuyết quyền con người, vận dụng pháp luật quyền con người vào việc gây dựng, duy trì quan hệ xã hội hòa bình, khả năng chung sống, hòa nhập vào các môi trường văn hóa khác nhau.

Ngô Văn Nam
Sở Văn hóa, Du lịch & Thể thao Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
[1]. Nguyễn Trường Giang, Giáo dục quyền con người tại các trường đại học hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2013.
[2]. Xem: Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
[3]. Xem: Vũ Văn Phúc, Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo tinh thần nghị quyết đại hội XI của Đảng: Quan điểm, thực trạng và giải pháp
[4]. Thông điệp của Tổng thư ký Liên hợp quốc Koffi Annan nhân ngày Quyền con người, 10/12/2000, Thông cáo báo chí Liên Hợp quốc, ngày 10/2/2000.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: