Thứ sáu 11/09/2026 14:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các nguyên tắc cơ bản trong giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông ở Việt Nam.

Hiện nay, giáo dục quyền con người đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Nhiều tổ chức quốc tế đã có những chương trình hành động lớn và rộng khắp trên thế giới về vấn đề này. Ở phạm vi quốc gia, giáo dục quyền con người cũng đã trở thành một phần trong chương trình giáo dục của nhiều nước, tuy có sự khác nhau về phạm vi, mức độ và cách thức tổ chức hoạt động. Trên thực tế, giáo dục quyền con người, xét ở góc độ nhất định, từ lâu đã được thực hiện trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, dưới hình thức giáo dục đạo đức công dân.

Kể từ khi đổi mới đến nay, hoạt động giáo dục quyền con người đã được tăng cường thêm một bước, xét cả về nội dung và phạm vi tổ chức. Mặc dù quyền con người không phải là một phạm trù dễ hiểu nhưng việc giáo dục quyền con người với mức độ nhất định và bằng các phương pháp phù hợp trong các nhà trường phổ thông là cần thiết và có thể thực hiện được. Thực tế trên thế giới đã chứng minh tính hữu ích và hiệu quả của việc hình thành nhận thức và thái độ tôn trọng quyền con người của các cá nhân ngay từ khi còn trẻ thông qua việc triển khai giáo dục nhân quyền cho học sinh phổ thông. Bài viết này tập trung phân tích vai trò của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông và những nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông… tạo tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy hoạt động giáo dục nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới.

1. Vai trò của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông và cơ sở xác định các nguyên tắc thực hiện
Quyền con người có giá trị chung, mang tính phổ quát và tính đặc thù của từng dân tộc, quốc gia, sự khác nhau về lịch sử, thể chế chính trị, văn hóa và tôn giáo[1]. Giáo dục quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập và phát triển. Đối với đối tượng học sinh phổ thông, giáo dục quyền con người góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức, nhân văn và ý thức tôn trọng, bảo vệ quyền con người, tôn trọng và tuân thủ pháp luật.
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông góp phần bảo đảm yêu cầu giáo dục toàn diện của bậc giáo dục phổ thông, từ đó bảo đảm sự phát triển toàn diện cho người. Thực tế, giáo dục không chỉ nhằm cung cấp cho con người kiến thức mà cần phải có kỹ năng, thái độ, khả năng chung sống, khả năng làm việc, khả năng thích ứng… Tất cả những đòi hỏi này đặt ra yêu cầu đối với hoạt động giáo dục quyền con người phải dựa trên sự nhận thức, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bởi lẽ, chỉ khi học sinh phổ thông nhận thức được quyền con người của mình thì mới có thể tôn trọng, bảo vệ quyền con người của người khác.
Giáo dục quyền con người cũng như bất kỳ một hoạt động xã hội nào khác, cần phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định. Đối với học sinh phổ thông, do đặc điểm tâm sinh lý đang trong giai đoạn hình thành, ổn định và phát triển mà thực chất là quá trình chuyển đổi từ “trẻ con” sang “người lớn” do vậy, việc xác định và thực hiện đúng các nguyên tắc giáo dục quyền con người lại càng có ý nghĩa quan trọng.
Nguyên tắc giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được xây dựng căn cứ vào những quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và đào tạo nước nhà, xây dựng cho học sinh có năng lực lĩnh hội và thực hành kiến thức khoa học, đạo đức và pháp luật. Quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục và đào tạo đã được thể hiện trong Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[2]. Đồng thời, các nguyên tắc cơ bản của giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông còn xuất phát từ yêu cầu phù hợp với nguyên lý của nền giáo dục quốc gia và mục tiêu của giáo dục phổ thông được quy định trong Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009); đặc điểm tâm, sinh lý và khả năng nhận thức của học sinh phổ thông; các yếu tố truyền thống dân tộc, truyền thống gia đình, nền văn hóa dân tộc và sự tương thích với luật pháp quốc tế, xu thế phát triển tiến bộ của thời đại.
Nghiên cứu thực tiễn giáo dục toàn diện ở Việt Nam cho thấy, yêu cầu giáo dục toàn diện ở nước ta hiện nay được xây dựng và triển khai trên nền tảng, triết lý, tư tưởng giáo dục, đào tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến yêu cầu đào tạo những công dân hữu ích cho nước nhà; phát triển các năng lực sẵn có của trẻ em; trọng dụng nhân tài; giáo dục, dạy làm người; dạy tốt, học tốt; học đi đôi với hành…[3]
Hội nghị thế giới về quyền con người được tổ chức tại Vienna (Áo) năm 1993 đã nhấn mạnh: Coi giáo dục, đào tạo và thông tin chung về quyền con người là thiết yếu cho thúc đẩy và đạt được các quan hệ hài hòa, ổn định trong các cộng đồng và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, khoan dung và hòa bình. Vì vậy, giáo dục về quyền con người là thông điệp chung của thời đại: “Con người càng hiểu biết nhiều về các quyền của chính mình thì càng tôn trọng các quyền của những người khác và như vậy càng có cơ hội chung sống hoà bình. Chỉ khi nào người dân được giáo dục về quyền con người thì lúc đó chúng ta mới có thể hy vọng ngăn chặn những hành vi vi phạm quyền con người cũng như ngăn chặn xung đột”[4].
2. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông
2.1. Nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp giữa mục tiêu giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông với mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông
Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục đạo đức các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam của giáo dục phổ thông. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông đặt trọng tâm vào việc hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức quyền con người vào từng trường hợp cụ thể, từ đó giúp học sinh phổ thông chủ động trong việc tự học, sử dụng kiến thức quyền con người.
Nội dung giáo dục quyền con người là một nội dung - thành tố của giáo dục phổ thông, được kết cấu lồng ghép trong nhiều nội dung của chương trình giáo dục phổ thông. Sự gắn kết chặt chẽ giữa phương pháp giáo dục phổ thông và phương pháp giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông, nghĩa là phương pháp giảng dạy quyền con người cho học sinh phổ thông được sử dụng phổ biến là phương pháp thuyết giảng. Hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông góp phần quan trọng vào việc hình thành mục tiêu phát triển nhân cách cho học sinh phổ thông.
2.2. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông được tiến hành thường xuyên và có hệ thống
Giáo dục quyền con người nói chung, giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông nói riêng là một chỉnh thể thống nhất, có sự gắn bó chặt chẽ giữa giáo dục quyền (những việc được làm và được tôn trọng) với giáo dục nghĩa vụ (những việc phải làm, phải tuân thủ vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng hoặc lợi ích của người khác) với giáo dục trách nhiệm quyền con người. Trách nhiệm đối với quyền con người không chỉ bao hàm trách nhiệm pháp lý mà còn cả trách nhiệm đạo đức trong quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm, bạn bè; trách nhiệm cộng đồng, xã hội.
Quá trình phát triển, hoàn thiện tri thức, nhân cách của học sinh phổ thông có vai trò to lớn của nhà trường phổ thông. Các hoạt động giáo dục của nhà trường phổ thông có tác động mạnh mẽ tới nếp nghĩ, cách hành động của học sinh phổ thông. Và do đó, có thể khẳng định, giai đoạn học sinh phổ thông là thời cơ vàng của việc truyền đạt, ghi nhận hệ thống tri thức cơ bản đặt nền móng cho các cấp học cao hơn và bước chân vào đời sống xã hội. Để cho quá trình nhận thức về quyền con người đòi hỏi việc giáo dục quyền con người phải được tiến hành song song với quá trình giáo dục phổ thông, là quá trình phát triển liên tục của quá trình nhận thức, phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm lý lứa tuổi học sinh phổ thông. Từ việc mở rộng các quan hệ xã hội, môi trường sống và các yếu tố tác động đến nhận thức và thực hành về quyền con người của học sinh phổ thông cũng phát triển theo. Chẳng hạn, đối với học sinh tiểu học, trọng tâm của giáo dục quyền con người cho đối tượng này là giáo dục ý thức trách nhiệm của bản thân đối với mình và đối với người xung quanh, tôn trọng các quy tắc giao tiếp tối thiểu, những hoạt động được phép… Đối với học sinh phổ thông trung học, những kiến thức về quyền con người liên quan đến quyền học tập, quyền được người khác tôn trọng, quyền lao động, quyền kết hôn, trách nhiệm đối với gia đình, xã hội trong tư cách của người trưởng thành là những nội dung trọng tâm cần được trang bị cho học sinh phổ thông trung học. Như vậy, tính liên kết hệ thống từ thấp đến cao trong hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông là một trong những nguyên tắc quan trọng. Nếu việc giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông không có tính liên kết, tính hệ thống theo mức độ nhận thức sẽ dẫn đến tính trạng trùng lặp về nội dung giáo dục quyền con người và dẫn đến thái độ thờ ơ, không quan tâm tìm hiểu để nâng cao nhận thức về quyền con người.
2.3. Giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông phải bảo đảm tính linh hoạt, gắn kết giữa giáo dục lý luận với giáo dục thực tiễn
Giáo dục phổ thông tập trung vào trang bị kiến thức cơ bản, phổ thông từ thấp đến cao, phù hợp với quá trình hoàn thiện năng lực tư duy của học sinh phổ thông. Do vậy, hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông cũng là một bộ phận không thể tách rời của nội dung trong chương trình giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, trong hoạt động giáo dục phổ thông, việc trang bị kiến thức được coi trọng hơn việc trang bị, giáo dục kỹ năng sống, cách hành xử, lối suy nghĩ dựa trên quyền con người. Nội dung giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông cần đảm bảo tính thiết thực, liên quan đến cuộc sống hàng ngày của các em, các em đều có thể trải nghiệm thực tế.
Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục quyền con người chính thức do các trường phổ thông thực hiện với giáo dục quyền con người do các tổ chức đại diện của học sinh phổ thông như Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chi hội Phụ nữ… là một trong những nội dung quan trọng giúp cho việc gắn kết việc bảo vệ quyền con người với thực tiễn và phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người rất đa dạng như tham vấn về nội dung giáo dục quyền con người, hỗ trợ hoạt động giáo dục quyền con người chính thức trên lớp học.
2.4. Bảo đảm sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người
Với tư cách là đối tượng được giáo dục về quyền con người, hoạt động giáo dục quyền con người cho học sinh phổ thông phải tạo được môi trường có tính tranh luận để học sinh phổ thông có thể tự do phát biểu quan điểm, chính kiến của mình về các vấn đề liên quan đến quyền con người. Tạo lập môi trường cho học sinh phổ thông được chủ động trong hoạt động giáo dục quyền con người đòi hỏi các trường phổ thông phải xây dựng được môi trường giáo dục vì con người, tôn trọng con người và cho con người. Học sinh phổ thông phải được tôn trọng trong môi trường giáo dục phổ thông. Sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người được thể hiện qua nhiều phương thức như: Chủ động xây dựng tình huống; tham gia thuyết trình về quyền con người; tham gia giải quyết các bài tập tình huống dưới sự hướng dẫn của giáo viên, cán bộ làm công tác thực tiễn.
Bảo đảm sự tham gia chủ động của học sinh phổ thông vào hoạt động giáo dục quyền con người cần được tiến hành song song với qua trình đổi mới hoạt động giáo dục phổ thông, coi học sinh phổ thông là trung tâm của mọi hoạt động giáo dục, coi trọng việc gây dựng, rèn luyện kỹ năng sống dựa trên cơ sở quyền con người. Khi được tham gia chủ động vào hoạt động giáo dục quyền con người, học sinh phổ thông có điều kiện thực hành các lý thuyết quyền con người, vận dụng pháp luật quyền con người vào việc gây dựng, duy trì quan hệ xã hội hòa bình, khả năng chung sống, hòa nhập vào các môi trường văn hóa khác nhau.

Ngô Văn Nam
Sở Văn hóa, Du lịch & Thể thao Hà Nội

Tài liệu tham khảo:
[1]. Nguyễn Trường Giang, Giáo dục quyền con người tại các trường đại học hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2013.
[2]. Xem: Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
[3]. Xem: Vũ Văn Phúc, Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo tinh thần nghị quyết đại hội XI của Đảng: Quan điểm, thực trạng và giải pháp
[4]. Thông điệp của Tổng thư ký Liên hợp quốc Koffi Annan nhân ngày Quyền con người, 10/12/2000, Thông cáo báo chí Liên Hợp quốc, ngày 10/2/2000.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: