Chủ nhật 17/05/2026 04:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các quan điểm về hình phạt tử hình trên thế giới và sự vận dụng phù hợp trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận hình phạt tử hình không có khả năng răn đe người phạm tội. Thường sự răn đe này được suy đoán rằng, mọi người phạm tội ác đều suy tính đến hậu quả mà họ phải gánh chịu, tuy nhiên, trên thực tế khi họ thực hiện tội phạm thì họ đã loại trừ đi khả năng này, hoặc họ vẫn chấp nhận hậu quả pháp lý đó.

1. Các quan điểm về hình phạt tử hình trên thế giới

1.1. Quan điểm nên xóa bỏ hình phạt tử hình

Nhóm quan điểm nên xóa bỏ hình phạt tử hình, đưa ra các lý do, luận cứ trên các tiêu chí sau:

- Về mặt pháp lý, quyền sống là quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người. Và không ai được phép tước đi quyền sống của người khác, cho dù đó là Nhà nước. Do đó, việc duy trì án tử hình đã vi phạm quyền sống - quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người. Để bảo vệ cho quan điểm của mình, họ đã đưa ra các cơ sở pháp lý như: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948, theo đó, “mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân”[1]; hay theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (được viết tắt là ICCPR) thì “mỗi người đều có quyền được sống. Quyền này được pháp luật bảo vệ.”[2]; hay “quyền được sống” được khẳng định một cách dứt khoát trong tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945.


- Về mặt đạo lý, hình phạt tử hình có tính chất “quá tàn khốc” nên có thể coi đó là “sự phản ứng một cách thái quá với những vấn đề con người phức tạp”,“là triệu chứng của một nền văn hóa bạo lực chứ không phải là một phương thuốc cho nền văn hóa đó”[3]. Theo quan điểm của nhóm này, án tử hình không những ảnh hưởng rất lớn đến bản thân người bị kết án và thân nhân của họ, mà đối với những tử tù, nỗi đau thể chất diễn ra rất nhanh khi bị hành quyết, nhưng sự khủng hoảng tinh thần suốt thời gian chờ đợi thi hành án mới khủng khiếp. Đối với gia đình tử tù, nỗi đau tinh thần thậm chí còn đeo đẳng họ đến nhiều năm sau và không chỉ ảnh hưởng đến một thế hệ. Những người theo quan điểm này còn đưa ra khẩu hiệu: “Tại sao chúng ta lại giết những kẻ sát nhân để cho mọi người thấy rằng giết người là sai”[4], hay “lấy oán trả oán thì oán chồng chất”[5].

- Xét về hiệu quả, việc áp dụng hình phạt tử hình không góp phần vào việc làm giảm các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê tội phạm ở một số quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, cho thấy, việc xóa bỏ hình phạt tử hình không gây ra những tác động tiêu cực với việc phòng ngừa tội phạm. Ví dụ: ở Canada, tỷ lệ phạm tội giết người đã giảm từ 3,09 người trên 100.000 dân vào năm 1975 (năm trước khi xóa bỏ hình phạt tử hình với tội này), xuống còn 2,41 người vào năm 1980, và tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo. Đến năm 2003, sau 27 năm xóa bỏ hình phạt tử hình, tỷ lệ phạm tội này ở Canada chỉ còn 1.72 người trên 100.000 người dân. Tương tự, ngay ở Hoa Kỳ, thống kê của Cục thống kê đưa ra cho thấy ở 36 bang còn duy trì hình phạt tử hình, tỷ lệ phạm tội giết người cao lại cao hơn so với ở các bang mà hình phạt này đã được xóa bỏ hoặc vẫn duy trì nhưng không thường xuyên áp dụng[6].

Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận hình phạt tử hình không có khả năng răn đe người phạm tội. Thường sự răn đe này được suy đoán rằng, mọi người phạm tội ác đều suy tính đến hậu quả mà họ phải gánh chịu, tuy nhiên, trên thực tế khi họ thực hiện tội phạm thì họ đã loại trừ đi khả năng này, hoặc họ vẫn chấp nhận hậu quả pháp lý đó.

Ngoài ra, nhóm quan điểm này cho cho rằng, xóa hình phạt tử hình là tất yếu của thời đại. Trên thế giới, ngày càng có nhiều lãnh thổ, quốc gia, dân tộc xóa bỏ hình phạt tử hình, do đó, dù sớm hay muốn, dù muốn hay không thì chúng ta cũng không thể đi ngược với xu thế tất yếu của thời đại.

1.2. Quan điểm ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình

Những người theo quan điểm ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình đã đưa ra các lập luận để phản bác lại những lập luận của nhóm theo khuynh hướng xóa bỏ hình phạt tử hình, cụ thể:

Thứ nhất, về mặt pháp lý: Hình phạt tử hình không vi phạm đến quyền sống của con người. Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 có quy định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân”, tuy nhiên, hiểu một cách hợp lý thì quyền này chỉ được đảm bảo với điều kiện họ không được xâm phạm quyền sống, tự do và an ninh của người khác. Nếu trên cơ sở này, ai đó cho rằng hình phạt tử hình là xâm phạm quyền sống, thì hình phạt tù cũng xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác.

Trong ICCPR cũng không cấm việc áp dụng hình phạt tử hình, cụ thể: “Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ thì chỉ được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào pháp luật hiện hành ở thời điểm thực hiện tội ác và không trái với quy định của Công ước này và Công ước ngăn ngừa tội diệt chủng”[7]. Như vậy, theo Công ước này thì các quốc gia toàn quyền có thể xóa bỏ hoặc vẫn duy trì hình phạt tử hình.

Thứ hai, về mặt đạo lý: Việc áp dụng hình phạt tử hình, nếu bị coi là làm tổn hại phẩm giá của tử tù thì việc không áp dụng hình phạt này cũng có thể bị coi là làm tổn hại đến phẩm giá của nạn nhân. Hay nói cách khác, hình phạt tử hình là hình thức đền bù thích đáng nhất về tâm lý cho những mất mát của nạn nhân. Việc tử hình sẽ mang lại công lý cho nạn nhân và gia đình họ và để ngăn chặn tội phạm, do đó, gián tiếp có tác dụng bảo vệ nền tảng và những giá trị đạo đức trong xã hội.

Thứ ba, xét về hiệu quả của hình phạt: Nếu ai đó viện cớ việc xóa bỏ hình phạt tử hình làm giảm tình hình tội phạm, là không xác đáng. Ở một quốc gia, tình hình tội phạm giảm còn do nhiều yếu tố như: Kinh tế, chính trị, xã hội và ý thức pháp luật tác động. Còn ở các quốc gia khác, hình phạt tử hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tội phạm, đặc biệt là các tội ác nghiêm trọng nhất. Trong một cuộc khảo sát của Richard tại một số bang của Mỹ kéo dài 14 năm cho thấy: Bang Florida có 37 trường hợp tử hình, tỷ lệ tội phạm giảm 40,2%, bang Texas có 84 trường hợp tử hình, tỷ lệ giảm 46,1%, bang Goergia có 12 trường hợp tử hình, tỷ lệ tội phạm giảm 44%.... Ở Anh, vào những năm 1920 đến 1930, là nước biết đến với việc áp dụng án tử hình cao nhất (cao hơn Mỹ), khi đó tội giết người ở Anh thấp hơn bất cứ bang nào của Mỹ. Từ khi Anh bỏ hình phạt tử hình, tỷ lệ tội giết người tăng lên gấp đôi và ngày càng tăng theo thời gian[8].

Cuối cùng, việc xóa bỏ hình phạt tử hình không phải là xu thế tất yếu của thời đại. Mặc dù trên thế giới, các quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình chiếm tỷ lệ cao hơn các quốc gia còn duy trì hình phạt này, nhưng trong tình hình chính trị, kinh tế, xã hội bất ổn như hiện nay, có những quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, sau đó khôi phục lại, như: Năm 2015, Pakistan tuyên bố khôi phục án tử áp dụng với mọi loại tội phạm trong xã hội, trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, với điều kiện không còn có yếu tố nào nữa để bào chữa giảm án và đơn xin ân xá bị tổng thống bác, quy định này vốn bị bãi bỏ từ năm 2008; hay Indonesia, trong hơn 05 năm, kể từ 2008, Indonesia đã bãi bỏ án tử hình. Nhưng từ tháng 10/2014, sau khi lên nắm quyền, tân tổng thống Joko Widodo tuyên bố bất cứ tội phạm nào liên quan đến ma túy đều phải bị xử tử. Thậm chí, nhiều bang của Mỹ cũng từng xóa bỏ hình phạt tử hình sau đó khôi phục lại. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, chúng ta chưa thế nói xóa bỏ án tử là xu thế tất yếu của thời đại.

2. Sự vận dụng phù hợp về hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Trên cơ sở học tập kinh nghiệm và kế thừa tinh hoa của luật pháp quốc tế về hình phạt tử hình, đặc biệt, dựa vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước hiện nay, Việt Nam là một trong những nước còn duy trì hình phạt tử hình trong hệ thống pháp luật hình sự của mình.

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”[9]. Như vậy, Hiến pháp vẫn thừa nhận những hành vi tước đoạt tính mạng của người khác đúng pháp luật như: Phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết[10]... và trong đó có thi hành án tử hình. Tuy nhiên, qua mỗi giai đoạn sửa đổi số lượng các tội danh có mức án tử hình tăng, giảm khác nhau[11]. Có thể thấy, các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam khá tương thích với các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế và phù hợp với điều kiện đất nước[12].

Quy định về hình phạt tử hình được thể hiện một cách khái quát, tập trung tại Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015[13]. Với quy định tại Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta có thể thấy rằng, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với với “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”, quy định này tương tự như quy định tại ICCPR khi tuyên bố hình phạt tử hình “chỉ được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với tội ác nghiêm trọng nhất”. Điều này, nhằm nhấn mạnh các quan tòa chỉ được áp dụng đối với những hành vi, tội ác gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do sự chủ ý của người phạm tội. Tuy nhiên, không phải tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nào cũng áp dụng hình phạt tử hình, theo quy định tại điều này và một số điều trong phần tội phạm cụ thể thì hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với các tội “xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định”[14]. Xin được viện dẫn sự giải thích về thuật ngữ “tội phạm nghiêm trọng nhất” được đề cập trong ICCPR cũng như trong văn kiện “các đảm bảo về các quyền của những người bị kết án tử hình” do Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp quốc (ECOSOC) thông qua năm 1984, theo đó, trường hợp này khuyến nghị các quốc gia chỉ được áp dụng hình phạt tử hình trong một số trường hợp đặc biệt. Và những tội phạm sau đây không được xếp vào dạng tội phạm nghiêm trọng nhất để áp dụng hình phạt tử hình như: “Tội phạm kinh tế, trong đó bao gồm tội tham ô; các tội phạm về chính trị; tội trộm cướp; tội bắt cóc nhưng không gây hậu quả chết người; các tội liên quan đến tình dục trái phép, bao gồm tình dục đồng giới và bỏ đạo”. Khuyến nghị này thúc giục các quốc gia còn áp dụng hình phạt tử hình không được áp dụng với các hành vi phi bạo lực.

Quay trở lại với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta vẫn quy định hình phạt tử hình đối với những tội phạm phi bạo lực. Tuy nhiên, quy định này không trái với pháp luật quốc tế, và phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Có thể thấy, khi mà Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường, không ít các tổ chức, cá nhân vì mục đích lợi nhuận, làm giàu mà đã làm phương hại đặc biệt nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân, đặc biệt xâm phạm đến tính mạng con người, làm mất ổn định chính trị của đất nước. Ngoài ra, có nhiều thế lực thù địch vẫn lăm le đe dọa đến an ninh quốc gia cũng như đe dọa đến hòa bình ở Việt Nam và thế giới, do đó việc quy định trên là hoàn toàn phù hợp.

Luật Hình sự Việt Nam vừa thể hiện tính nghiêm minh, răn đe khi vẫn quy định hình phạt tử hình, nhưng vẫn đảm bảo được tính nhân đạo sâu sắc, tính nhân văn và hướng thiện đối với những người yếu thế, những đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt. Tại khoản 2 Điều 40 đã quy định những đối tượng không được áp dụng hoặc thi hành hình phạt tử hình, đó là: “Đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên”. Quy định này hoàn toàn tương thích với quy định của luật pháp quốc tế. Theo quy định của ICCPR thì “không được tuyên án tử hình với người phạm tội dưới 18 tuổi và không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai[15]”. Như vậy, có thể thấy Bộ luật Hình sự Việt Nam còn mở rộng thêm 2 trường hợp: Không tuyên án tử hình đối với phụ nữa mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; và không tuyên án tử hình hoặc thi hành án tử hình đối với phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Quy định này thể hiện tính nhân đạo sâu sắc đối với phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, đối tượng này hay bị tác động tiêu cực về mặt tâm lý cũng như sức khỏe trong khi mang thai và hậu sinh[16], mặt khác nhằm bảo vệ sức khỏe cũng như quyền và lợi ích tốt đẹp nhất cho đứa con.

Một điểm mới mà tác giả thấy sự tiến bộ vượt bậc trong lập pháp hình sự Việt Nam về tính nhân đạo, đó là Bộ luật Hình sự năm 2015 năm 2015 đã bổ sung thêm trường hợp không áp dụng hình phạt hoặc thi hành án tử hình đối với người “đủ 75 tuổi trở lên”.Quy định này không được đề cập trong ICCPR cũng như pháp luật của quốc tế. Đây là độ tuổi (đa số) bị hạn chế về vấn đề sức khỏe cũng như sự minh mẫn trong nhận thức khi họ thực hiện hành vi của mình, do đó Bộ luật Hình sự năm 2015 xem đây là đối tượng đặc biệt cần được quan tâm, bảo vệ và đương nhiên sẽ không áp dụng hình phạt tử hình.

Trong thời gia qua, ở Việt Nam các tội phạm liên quan đến chức vụ, đặc biệt là các tội tham nhũng đã gây ra nhiều hậu quả đặc biệt xã hội, mặc dù những đối tượng này đã nhận được sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật, tuy nhiên, hạn chế lớn nhất khi xử lý các tội phạm này đó là khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra. Ước tính, có những vụ án làm thiệt hại, thất thoát hàng ngàn tỷ đồng, nhưng thực tế thu về vài chục tỷ thậm chí vài tỷ, do đó, để khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, cũng như nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm này, tại điểm c khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng thêm đối tượng được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước, không bị áp dụng hình phạt tử hình, mà đáng lẽ ra họ bị áp dụng[17], đó là: “Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”. Quy định này, một lần nữa thấy được sự phù hợp trong đường lối xử lý và chính sách hình sự của Việt Nam đối với hình phạt tử hình. Đây là sự cụ thể hóa chính sách hình sự thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 cũng như các Nghị quyết của Bộ Chính trị, từ Nghị quyết số 08/NQ-TW năm 2002 đến Nghị quyết 48/NW-TW năm 2005, và đặc biệt Nghị quyết 49/NQ-TW năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp, theo đó, Bộ luật Hình sự phải xây dựng theo hướng: “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Từ những đánh giá, phân tích các quan điểm về hình phạt tử hình trên thế giới cũng như các chính sách pháp luật hình sự và quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả nhận thấy rằng, các quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đi đúng hướng, không trái với luật pháp quốc tế, thậm chí còn thể hiện sự tương thích trong quy định. Phù hợp với xu hướng của quốc tế và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đất nước trong giai đoạn hiện nay. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng, các chủ thể áp dụng và thực thi pháp luật cần thể hiện sự công tâm, khách quan và cân nhắc để đảm bảo chính xác khi áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội, bởi đây là hình phạt nghiêm khắc nhất, và chúng ta không có cơ hội để sửa sai trong quá trình tố tụng khi đã thi hành án tử đối với người phạm tội. Mặt khác, nhằm phát huy tối đa mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đem lại một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

Th.S Trần Văn Hải

Đại học Luật, Đại học Huế



Tài liệu tham khảo:

1. Phạm Văn Beo (2002), Một số suy nghĩ về hình phạt tử hình, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2002;

2. Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966

3. Vũ Thị Thúy (2010), Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh;

4. Đào Trí Úc, Vũ Công Giao, Trương Thị Hồng Hà (2015), Quyền sống và Hình phạt tử hình, Nxb. Chính trị Quốc gia;

5. United Nations Human Rights - Office of hight Commissioner: “Moving away from the death panalty, lesson from National expriences”, New York 2012.


[1] Trích Điều 3 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948.

[2] Trích Điều 6.1 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (Công ước có hiệu lực ngày 23/3/1976).

[3] Keith Harries và Derral Cheatwood: Phạm vi của việc hành quyết... Vũng lầy của hình phạt tử hình ở Mỹ, 1997,tr.6.

[4] Đăng Đại, Án tử hình: bỏ hay không bỏ?, Báo tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh phát hành ngày 25/11/2004.

[5] Quan điểm của Phật giáo.

[6] Xem: United Nations Human Rights – Office of hight Commissioner: “Moving away from the death panalty, lesson from National expriences”, New York 2012, tr. 18,22.

[7] Điều 6.2 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966.

[8] Phạm Văn Beo, một số suy nghĩ về hình phạt tử hình, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2002.

[9] Điều 19 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[10] Xem thêm: Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự - Chương IV, Bộ luật Hình sự năm 2015.

[11] Ví dụ: Bộ luật Hình sự năm 1985 có 29 tội danh áp dụng hình phạt tử hình, nhưng qua 4 lần sửa đổi, đến Bộ luật Hình sự năm 1999 đã tăng lên 44 tội danh, đến năm lần sửa đổi năm 2009 còn lại 22 tội danh và hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định 18 tội danh quy định hình phạt tử hình.

[12] Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin mạnh dạn theo quan điểm của nhóm vẫn duy trì hình phạt tử hình.

[13] Xem: Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[14]Một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác như: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; tộisản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421); tội chống loài người (Điều 422); tội phạm chiến tranh (Điều 423).

[15] Khoản 5 Điều 6 của ICCPR.

[16]Theo tác giả hậu sinh được hiểu là thời gian đầu, sau khi sinh con của phụ nữ.

[17] Người phạm tội đã bị tuyên hình phạt tử hình đối với tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, nhưng khi thi hành án thì họ đáp ứng được điều kiện tại điểm c khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: