Thứ năm 14/05/2026 02:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các quy định pháp luật về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Bài viết phân tích các quy định hiện hành về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và tài liệu, thông tin thu thập được từ các biện pháp đó; từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện.


1. Quy trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, chương XIV, từ điều 223 đến 228 quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Theo đó, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt bao gồm các hoạt động: (i) Ghi âm bí mật; (ii) ghi hình bí mật; (iii) nghe điện thoại bí mật; (iv) thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Các hoạt động này chỉ được thực hiện trong phạm vi giới hạn là trong giai đoạn điều tra vụ án, tức chỉ được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố vụ án và phải kết thúc trước khi có kết luận điều tra[1].

Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ được sử dụng trong hai trường hợp, gồm: (i) Những vụ án liên quan tới tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền; hoặc (ii) Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng[2].

Về thẩm quyền áp dụng, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Truờng hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng[3]. Ở đây, có hai vấn đề cần lưu ý liên quan đến thẩm quyền của Viện kiểm sát:

Thứ nhất, Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, và điều luật không quy định về việc Thủ trưởng cơ quan điều tra có quyền từ chối. Mặt khác, về nguyên tắc, cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát[4]. Có nghĩa là, trong mọi trường hợp, khi Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu thực hiện các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra có nghĩa vụ phải ban hành quyết định thực hiện.

Thứ hai, căn cứ theo nội dung điều luật, về phía cơ quan điều tra, luật cho phép Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên có quyền ban hành quyết định áp dụng, nhưng lại chỉ cho phép Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu mà chưa đề cập tới Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp cao hơn trong việc yêu cầu cơ quan điều tra cùng cấp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Như vậy, có thể suy ra rằng, đối với các vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, hoặc thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì Viện kiểm sát hoàn toàn không có quyền yêu cầu phía Cơ quan điều tra thực hiện các biện pháp này[5]. Đây là một thiếu sót về thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát trong các hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt.

Khi ban hành quyết dịnh áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, thì quyết định phải ghi rõ thông tin cần thiết về đối tượng bị áp dụng, tên biện pháp được áp dụng, thời hạn, địa diểm áp dụng, cơ quan tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các nội dung khác theo quy định mà văn bản tố tụng phải có tại khoản 2 Ðiều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[6].

Sau khi ban hành, quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành[7]. Tuy nhiên, trong quy định này, luật lại không nói rõ thời hạn mà Cơ quan điều tra phải gửi quyết định áp dụng sang Viện kiểm sát và thời hạn mà Viện kiểm sát phải phê chuẩn kể từ khi nhận được quyết định áp dụng. Có lẽ, các nhà làm luật đã để các quy định này lại cho các văn bản phối hợp liên ngành dưới luật để phù hợp với tình hình thực tế.

Sau khi áp dụng, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ việc áp dụng biện pháp này, kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ nếu xét thấy không còn cần thiết[8].

Trước, trong và sau khi áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền và người thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải giữ bí mật về việc áp dụng này[9].

Về thời hạn áp dụng, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được thực hiện không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[10]. Như vậy, có nghĩa là thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể ngang bằng với thời hạn điều tra theo quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Theo đó, chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.

Trong quá trình áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải hủy bỏ quyết định đó khi thuộc một trong các trường hợp: (i) Có đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền; (ii) Có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; (iii) Không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt[11].

Cần lưu ý, điều luật quy định rằng khi thuộc một trong ba trường hợp trên, Viện trưởng Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ, nghĩa là đây là nghĩa vụ bắt buộc chứ không phải quyền tùy nghi.

Trong các trường hợp cần hủy bỏ, trường hợp có vi phạm trong quá trình áp dụng khá mơ hồ về nội hàm. Bởi lẽ, luật không quy định quá nhiều về quá trình thực hiện các biện pháp đó, mà chỉ quy định chung là Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, và người thi hành có nghĩa vụ giữ bí mật trong quá trình thực hiện. Trong khi đó, có vẻ như vi phạm theo quy định về các trường hợp phải hủy bỏ có nội hàm rộng hơn nghĩa vụ giữ bí mật, nếu không thì các nhà làm luật đã quy định trực tiếp về việc vi phạm giữ bí mật. Có lẽ, các trường hợp vi phạm này sẽ được quy định cụ thể hơn trong các văn bản phối hợp liên ngành dưới luật để phù hợp và uyển chuyển với tình hình thực tế.

2. Tài liệu, thông tin được thu thập từ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Khi áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, dựa vào các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, các loại thông tin, tài liệu có thể thu thập được bao gồm tệp tin hình ảnh, âm thanh và các dữ liệu điện tử khác. Theo quy định, các tài liệu, thông tin được thu thập từ các biện pháp này sẽ được xử lý theo hai hướng: Thứ nhất, các tài liệu, thông tin có liên quan đến vụ án có thể được sử dụng làm chứng cứ trong khởi tố, điều tra, truy tố, và xét xử vụ án hình sự; Thứ hai, các tài liệu, thông tin không liên quan đến vụ án phải được tiêu hủy kịp thời[12].

Các quy định về thông tin, tài liệu và chứng cứ được thu thập từ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chứa đựng một số vấn đề pháp lý chưa rõ như sau:

Một là, trong trường hợp các thông tin, tài liệu được thu thập từ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được sử dụng làm chứng cứ thì thuộc nhóm chứng cứ nào theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Căn cứ theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chứng cứ được sử dụng trong tố tụng hình sự gồm có 7 loại[13].

Đối với biện pháp thu thập dữ liệu điện tử, thì tài liệu, thông tin thu thập được có thể được xếp vào nhóm chứng cứ là dữ liệu điện tử. Nhưng với ba biện pháp còn lại gồm bí mật ghi âm, bí mật ghi hình, và nghe điện thoại bí mật thì tài liệu, thông tin được thu thập là các tiệp hình ảnh, âm thanh thì nên được xếp vào loại chứng cứ nào thì vẫn là câu hỏi mở. Bởi lẽ, nếu xếp các loại thông tin đó vào dữ liệu điện tử thì không phù hợp với sự phân loại về biện pháp thu thập khi các nhà làm luật đã quy định thu thập bí mật dữ liệu điện tử là một hoạt động riêng biệt với các hoạt động khác. Mặt khác, nếu xếp vào nhóm tài liệu, đồ vật khác thì không phù hợp với định nghĩa của luật. Cụ thể, Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định những tình tiết liên quan đến vụ án ghi trong tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ. Có nghĩa là nhóm chứng cứ các tài liệu, đồ vật khác phải được cung cấp bởi cơ quan, tổ chức, cá nhân chứ không phải bởi hoạt động thu thập chủ động của cơ quan điều tra. Như vậy, tính chất pháp lý của các tài liệu, thông tin được sử dụng làm chứng cứ chưa được xác định rõ.

Thứ hai, trong trường hợp nào thì các tài liệu, thông tin này được trở thành chứng cứ, và quy trình để các tài liệu, thông tin này trở thành chứng cứ cũng không được luật đề cập đến. Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án thì phải được tiêu hủy kịp thời và thông tin, tài liệu (có liên quan) có thể được sử dụng làm chứng cứ. Như vậy, để một tài liệu, thông tin được dùng làm chứng cứ thì phải có hai thuộc tính là “có liên quan vụ án” và “được sử dụng”. Hai thuộc tính trên là rất mơ hồ và chưa rõ ràng, đồng thời, việc chưa minh định hóa quy trình chuyển hóa các tài liệu, thông tin trở thành chứng cứ sẽ dẫn đến việc xử lý các tài liệu, thông tin này trở nên khó khăn.

Thứ ba, có một khoảng hở về hướng xử lý các thông tin, tài liệu được thu thập từ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Một mặt, các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án có thể được sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự. Mặt khác, các thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án cần phải được tiêu hủy kịp thời. Như vậy, hướng xử lý đối với các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án, nhưng không được người có thẩm quyền sử dụng như là chứng cứ trong vụ án thì chưa được đề cập đến. Liệu các tài liệu, thông tin đó có thể được lưu trữ như một phần của hồ sơ vụ án hay phải bị tiêu hủy để đảm bảo các quyền tự do về đời tư của cá nhân vẫn là câu hỏi mở.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, đối với thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc yêu cầu cơ quan điều tra thực hiện các biện pháp này, cần xem xét quy định quyền yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao cho phù hợp với thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng của cơ quan điều tra cấp Trung ương.

Thứ hai, về các thời hạn trong quy trình ban hành quyết định như thời hạn Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ban hành quyết định sau khi nhận được yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát, thời hạn Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định cần được sớm bổ sung. Đồng thời, cần quy định rõ hơn về các hành vi vi phạm trong khi áp dụng các biện pháp này, để làm cơ sở cho việc hủy bỏ quyết định áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thứ ba, quy định về điều kiện, thủ tục, và thẩm quyền chuyển hóa các tài liệu, thông tin thu thập được từ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trở thành chứng cứ trong vụ án hình sự. Theo đó, nên quy định mọi tài liệu, thông tin có liên quan đến các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự đều phải được sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự, tránh sự áp dụng tùy tiện của người có thẩm quyền. Đồng thời, thẩm quyền chuyển hóa các tài liệu, thông tin này thành chứng cứ nên được trao cho Viện kiểm sát. Bởi lẽ, Viện kiểm sát là chủ thể có thẩm quyền cuối cùng trong việc có quyết định truy tố hay không, nên Viện kiểm sát phải có quyền lựa chọn, cũng như sử dụng chứng cứ cần thiết trong các giai đoạn trước khi truy tố. Khi Viện kiểm sát giới thiệu các tài liệu, thông tin đó ra tại phiên tòa thì các tài liệu, thông tin đó đã mang tư cách là chứng cứ của vụ án hình sự, chứ không chỉ còn là tài liệu, thông tin được thu thập từ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nên phần việc của Tòa án chỉ là xem xét các giá trị pháp lý của các chứng cứ này dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Mặt khác, việc quy định như vậy sẽ tránh được khoảng trống, nơi tồn tại các tài liệu, thông tin có liên quan đến vụ án nhưng không được sử dụng làm chứng cứ giải quyết vụ án. Khi đó, các tài liệu, thông tin được thu thập chỉ có thể rơi vào một trong hai trường hợp. Hoặc có liên quan đến vụ án và phải được sử dụng làm chứng cứ, hoặc không liên quan đến vụ án và phải bị tiêu hủy.

Thứ tư, nên bổ sung một quy định theo đó phân loại các tài liệu, thông tin được thu thập được từ các hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt cho phù hợp với loại chứng cứ đươc quy định trong luật. Cụ thể, nên ghi nhận các thông tin, tài liệu thu thập được từ các hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt đều thuộc về nguồn dữ liệu điện tử. Bởi lẽ, suy cho cùng, việc ghi âm, ghi hình, nghe điện thoại, và thu thập dữ liệu điện tử đều dẫn đến các phương tiện thể hiện là các dữ liệu điện tử như tiệp âm thanh, tiệp hình ảnh./.

Võ Minh Kỳ

Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ


[1] Điều 223 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[2] Điều 224 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[3] Khoản 1 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[4] Khoản 1, Điều 167 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[5] Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, kiến nghị hoàn thiện, 29/12/2016, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2079 [ truy cập ngày 01/02/2018].

[6] Khoản 2 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[7] Khoản 3 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[8] Khoản 3 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[9] Khoản 4 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[10] Điều 226 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[11] Điều 228 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[12] Điều 227 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[13] Khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: