Thứ năm 19/03/2026 03:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các quy định pháp luật về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Bài viết phân tích các quy định hiện hành về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và tài liệu, thông tin thu thập được từ các biện pháp đó; từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện.


1. Quy trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, chương XIV, từ điều 223 đến 228 quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Theo đó, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt bao gồm các hoạt động: (i) Ghi âm bí mật; (ii) ghi hình bí mật; (iii) nghe điện thoại bí mật; (iv) thu thập bí mật dữ liệu điện tử. Các hoạt động này chỉ được thực hiện trong phạm vi giới hạn là trong giai đoạn điều tra vụ án, tức chỉ được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố vụ án và phải kết thúc trước khi có kết luận điều tra[1].

Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ được sử dụng trong hai trường hợp, gồm: (i) Những vụ án liên quan tới tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền; hoặc (ii) Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng[2].

Về thẩm quyền áp dụng, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Truờng hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng[3]. Ở đây, có hai vấn đề cần lưu ý liên quan đến thẩm quyền của Viện kiểm sát:

Thứ nhất, Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, và điều luật không quy định về việc Thủ trưởng cơ quan điều tra có quyền từ chối. Mặt khác, về nguyên tắc, cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát[4]. Có nghĩa là, trong mọi trường hợp, khi Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu thực hiện các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra có nghĩa vụ phải ban hành quyết định thực hiện.

Thứ hai, căn cứ theo nội dung điều luật, về phía cơ quan điều tra, luật cho phép Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên có quyền ban hành quyết định áp dụng, nhưng lại chỉ cho phép Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu mà chưa đề cập tới Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp cao hơn trong việc yêu cầu cơ quan điều tra cùng cấp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Như vậy, có thể suy ra rằng, đối với các vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, hoặc thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì Viện kiểm sát hoàn toàn không có quyền yêu cầu phía Cơ quan điều tra thực hiện các biện pháp này[5]. Đây là một thiếu sót về thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát trong các hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt.

Khi ban hành quyết dịnh áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, thì quyết định phải ghi rõ thông tin cần thiết về đối tượng bị áp dụng, tên biện pháp được áp dụng, thời hạn, địa diểm áp dụng, cơ quan tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các nội dung khác theo quy định mà văn bản tố tụng phải có tại khoản 2 Ðiều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[6].

Sau khi ban hành, quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành[7]. Tuy nhiên, trong quy định này, luật lại không nói rõ thời hạn mà Cơ quan điều tra phải gửi quyết định áp dụng sang Viện kiểm sát và thời hạn mà Viện kiểm sát phải phê chuẩn kể từ khi nhận được quyết định áp dụng. Có lẽ, các nhà làm luật đã để các quy định này lại cho các văn bản phối hợp liên ngành dưới luật để phù hợp với tình hình thực tế.

Sau khi áp dụng, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ việc áp dụng biện pháp này, kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ nếu xét thấy không còn cần thiết[8].

Trước, trong và sau khi áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền và người thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải giữ bí mật về việc áp dụng này[9].

Về thời hạn áp dụng, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được thực hiện không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[10]. Như vậy, có nghĩa là thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể ngang bằng với thời hạn điều tra theo quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Theo đó, chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.

Trong quá trình áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải hủy bỏ quyết định đó khi thuộc một trong các trường hợp: (i) Có đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền; (ii) Có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; (iii) Không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt[11].

Cần lưu ý, điều luật quy định rằng khi thuộc một trong ba trường hợp trên, Viện trưởng Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ, nghĩa là đây là nghĩa vụ bắt buộc chứ không phải quyền tùy nghi.

Trong các trường hợp cần hủy bỏ, trường hợp có vi phạm trong quá trình áp dụng khá mơ hồ về nội hàm. Bởi lẽ, luật không quy định quá nhiều về quá trình thực hiện các biện pháp đó, mà chỉ quy định chung là Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, và người thi hành có nghĩa vụ giữ bí mật trong quá trình thực hiện. Trong khi đó, có vẻ như vi phạm theo quy định về các trường hợp phải hủy bỏ có nội hàm rộng hơn nghĩa vụ giữ bí mật, nếu không thì các nhà làm luật đã quy định trực tiếp về việc vi phạm giữ bí mật. Có lẽ, các trường hợp vi phạm này sẽ được quy định cụ thể hơn trong các văn bản phối hợp liên ngành dưới luật để phù hợp và uyển chuyển với tình hình thực tế.

2. Tài liệu, thông tin được thu thập từ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Khi áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, dựa vào các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, các loại thông tin, tài liệu có thể thu thập được bao gồm tệp tin hình ảnh, âm thanh và các dữ liệu điện tử khác. Theo quy định, các tài liệu, thông tin được thu thập từ các biện pháp này sẽ được xử lý theo hai hướng: Thứ nhất, các tài liệu, thông tin có liên quan đến vụ án có thể được sử dụng làm chứng cứ trong khởi tố, điều tra, truy tố, và xét xử vụ án hình sự; Thứ hai, các tài liệu, thông tin không liên quan đến vụ án phải được tiêu hủy kịp thời[12].

Các quy định về thông tin, tài liệu và chứng cứ được thu thập từ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chứa đựng một số vấn đề pháp lý chưa rõ như sau:

Một là, trong trường hợp các thông tin, tài liệu được thu thập từ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được sử dụng làm chứng cứ thì thuộc nhóm chứng cứ nào theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Căn cứ theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chứng cứ được sử dụng trong tố tụng hình sự gồm có 7 loại[13].

Đối với biện pháp thu thập dữ liệu điện tử, thì tài liệu, thông tin thu thập được có thể được xếp vào nhóm chứng cứ là dữ liệu điện tử. Nhưng với ba biện pháp còn lại gồm bí mật ghi âm, bí mật ghi hình, và nghe điện thoại bí mật thì tài liệu, thông tin được thu thập là các tiệp hình ảnh, âm thanh thì nên được xếp vào loại chứng cứ nào thì vẫn là câu hỏi mở. Bởi lẽ, nếu xếp các loại thông tin đó vào dữ liệu điện tử thì không phù hợp với sự phân loại về biện pháp thu thập khi các nhà làm luật đã quy định thu thập bí mật dữ liệu điện tử là một hoạt động riêng biệt với các hoạt động khác. Mặt khác, nếu xếp vào nhóm tài liệu, đồ vật khác thì không phù hợp với định nghĩa của luật. Cụ thể, Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định những tình tiết liên quan đến vụ án ghi trong tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ. Có nghĩa là nhóm chứng cứ các tài liệu, đồ vật khác phải được cung cấp bởi cơ quan, tổ chức, cá nhân chứ không phải bởi hoạt động thu thập chủ động của cơ quan điều tra. Như vậy, tính chất pháp lý của các tài liệu, thông tin được sử dụng làm chứng cứ chưa được xác định rõ.

Thứ hai, trong trường hợp nào thì các tài liệu, thông tin này được trở thành chứng cứ, và quy trình để các tài liệu, thông tin này trở thành chứng cứ cũng không được luật đề cập đến. Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án thì phải được tiêu hủy kịp thời và thông tin, tài liệu (có liên quan) có thể được sử dụng làm chứng cứ. Như vậy, để một tài liệu, thông tin được dùng làm chứng cứ thì phải có hai thuộc tính là “có liên quan vụ án” và “được sử dụng”. Hai thuộc tính trên là rất mơ hồ và chưa rõ ràng, đồng thời, việc chưa minh định hóa quy trình chuyển hóa các tài liệu, thông tin trở thành chứng cứ sẽ dẫn đến việc xử lý các tài liệu, thông tin này trở nên khó khăn.

Thứ ba, có một khoảng hở về hướng xử lý các thông tin, tài liệu được thu thập từ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Một mặt, các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án có thể được sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự. Mặt khác, các thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án cần phải được tiêu hủy kịp thời. Như vậy, hướng xử lý đối với các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án, nhưng không được người có thẩm quyền sử dụng như là chứng cứ trong vụ án thì chưa được đề cập đến. Liệu các tài liệu, thông tin đó có thể được lưu trữ như một phần của hồ sơ vụ án hay phải bị tiêu hủy để đảm bảo các quyền tự do về đời tư của cá nhân vẫn là câu hỏi mở.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, đối với thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc yêu cầu cơ quan điều tra thực hiện các biện pháp này, cần xem xét quy định quyền yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao cho phù hợp với thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng của cơ quan điều tra cấp Trung ương.

Thứ hai, về các thời hạn trong quy trình ban hành quyết định như thời hạn Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ban hành quyết định sau khi nhận được yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát, thời hạn Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định cần được sớm bổ sung. Đồng thời, cần quy định rõ hơn về các hành vi vi phạm trong khi áp dụng các biện pháp này, để làm cơ sở cho việc hủy bỏ quyết định áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thứ ba, quy định về điều kiện, thủ tục, và thẩm quyền chuyển hóa các tài liệu, thông tin thu thập được từ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trở thành chứng cứ trong vụ án hình sự. Theo đó, nên quy định mọi tài liệu, thông tin có liên quan đến các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự đều phải được sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự, tránh sự áp dụng tùy tiện của người có thẩm quyền. Đồng thời, thẩm quyền chuyển hóa các tài liệu, thông tin này thành chứng cứ nên được trao cho Viện kiểm sát. Bởi lẽ, Viện kiểm sát là chủ thể có thẩm quyền cuối cùng trong việc có quyết định truy tố hay không, nên Viện kiểm sát phải có quyền lựa chọn, cũng như sử dụng chứng cứ cần thiết trong các giai đoạn trước khi truy tố. Khi Viện kiểm sát giới thiệu các tài liệu, thông tin đó ra tại phiên tòa thì các tài liệu, thông tin đó đã mang tư cách là chứng cứ của vụ án hình sự, chứ không chỉ còn là tài liệu, thông tin được thu thập từ các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nên phần việc của Tòa án chỉ là xem xét các giá trị pháp lý của các chứng cứ này dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Mặt khác, việc quy định như vậy sẽ tránh được khoảng trống, nơi tồn tại các tài liệu, thông tin có liên quan đến vụ án nhưng không được sử dụng làm chứng cứ giải quyết vụ án. Khi đó, các tài liệu, thông tin được thu thập chỉ có thể rơi vào một trong hai trường hợp. Hoặc có liên quan đến vụ án và phải được sử dụng làm chứng cứ, hoặc không liên quan đến vụ án và phải bị tiêu hủy.

Thứ tư, nên bổ sung một quy định theo đó phân loại các tài liệu, thông tin được thu thập được từ các hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt cho phù hợp với loại chứng cứ đươc quy định trong luật. Cụ thể, nên ghi nhận các thông tin, tài liệu thu thập được từ các hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt đều thuộc về nguồn dữ liệu điện tử. Bởi lẽ, suy cho cùng, việc ghi âm, ghi hình, nghe điện thoại, và thu thập dữ liệu điện tử đều dẫn đến các phương tiện thể hiện là các dữ liệu điện tử như tiệp âm thanh, tiệp hình ảnh./.

Võ Minh Kỳ

Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ


[1] Điều 223 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

[2] Điều 224 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[3] Khoản 1 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[4] Khoản 1, Điều 167 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[5] Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, kiến nghị hoàn thiện, 29/12/2016, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2079 [ truy cập ngày 01/02/2018].

[6] Khoản 2 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[7] Khoản 3 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[8] Khoản 3 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[9] Khoản 4 Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[10] Điều 226 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[11] Điều 228 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[12] Điều 227 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

[13] Khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: