Thứ năm 05/03/2026 18:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019

Chấm dứt hợp đồng lao động là sự kiện pháp lý có ý nghĩa quan trọng vì nó gây ra các hệ quả pháp lý khác nhau và luôn tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp lao động. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 là sự kế thừa những quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012 có sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động Việt Nam.

Nội dung bài viết này phân tích về các vấn đề chính như: (i) Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động nói chung; (ii) Các trường hợp liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động; (iii) Các trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) là một hiện tượng khách quan của nền kinh tế thị trường. Nó có thể xuất phát từ người lao động hoặc người sử dụng lao động và do nhiều nguyên nhân khác nhau nên rất dễ xảy ra tranh chấp lao động làm ảnh hưởng đến những quan hệ khác. Bởi vậy, việc chấm dứt hợp đồng lao động luôn là vấn đề được người lao động và người sử dụng lao động quan tâm. Các quy định liên quan đến chấm dứt HĐLĐ bao gồm: (i) Các trường hợp (căn cứ) chấm dứt HĐLĐ; (ii) Trình tự, thủ tục chấm dứt HĐLĐ; (iii) Giải quyết hậu quả pháp lý khi chấm dứt HĐLĐ. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả bình luận về các quy định mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về các trường hợp (căn cứ) chấm dứt HĐLĐ.

1. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động nói chung

Trường hợp (căn cứ) chấm dứt HĐLĐ được quy định tại Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019. Theo đó, bên cạnh việc kế thừa các quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì có quy định bổ sung một số trường hợp chấm dứt HĐLĐ như sau:

Thứ nhất, người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu trước đây, khi người lao động bị áp dụng hình phạt trục xuất thì người sử dụng lao động khá lúng túng về phương án xử lý. Một số người sử dụng lao động áp dụng quy định về xử lý kỷ luật sa thải theo Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 với lý do người lao động tự ý bỏ việc cộng dồn quá 05 ngày trong vòng 01 tháng mà không có lý do chính đáng. Một số người sử dụng lao động lại ra quyết định đơn phương chấm dứt HĐLĐ… Quy định mới này đã giúp người sử dụng lao động có thể chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp người lao động bị trục xuất mà không phải lo lắng về các rủi ro pháp lý có thể xảy ra.

Thứ hai, người sử dụng lao động không phải là cá nhân bị cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật; người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. Thực tiễn những năm qua cho thấy, sau một thời gian hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam, một số chủ sử dụng lao động nước ngoài đã bỏ trốn dẫn đến tình trạng quyền lợi của người lao động không được đảm bảo. Trong trường hợp này, ngoài những vấn đề như tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội của người lao động có thể không được đảm bảo, còn nảy sinh vướng mắc là không có người làm thủ tục xác nhận bảo hiểm xã hội cho người lao động dẫn đến kiện tụng và phát sinh tranh chấp không cần thiết. Cơ quan bảo hiểm xã hội cũng không có căn cứ để xác nhận, chốt sổ bảo hiểm xã hội. Chính vì vậy, việc đưa ra quy định mới này sẽ giúp giải quyết được những vướng mắc trên.

Thứ ba, giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Một trong những điều kiện cần để người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là phải có giấy phép lao động, trừ trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định. Do đó, khi giấy phép lao động hết hiệu lực thì người lao động đó không còn đủ các điều kiện để lao động tại Việt Nam. Vì vậy, trường hợp giấy phép lao động đối với lao động là người nước ngoài hết hiệu lực, dẫn đến việc chấm dứt HĐLĐ cũng là phù hợp với quy định về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Thứ tư, thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động mà thử việc không đạt yêu cầu hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc. Khi thử việc với người lao động, người sử dụng lao động có thể lựa chọn giữa hai hình thức là ký kết hợp đồng thử việc hoặc ký kết HĐLĐ có nội dung thử việc. Đối với trường hợp ký kết hợp đồng thử việc, thì hợp đồng này không phải là HĐLĐ, chỉ phải chịu sự điều chỉnh của quy định về thử việc[1]. Đối với trường hợp ký kết HĐLĐ có nội dung thử việc, thì hợp đồng này không chỉ đơn thuần là thử việc mà còn có nội dung liên quan đến quan hệ lao động sau thử việc. Nếu theo quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012 trước đây thì trường hợp này HĐLĐ không đương nhiên chấm dứt. Điều này không hợp lý, vì nếu thử việc không đạt hoặc một bên hủy bỏ thỏa thuận thử việc thì đương nhiên các điều khoản liên quan đến HĐLĐ sẽ không phát sinh hiệu lực. Tuy nhiên, nếu người sử dụng lao động ra quyết định chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này lại phát sinh vướng mắc, bởi lẽ, hợp đồng các bên ký kết thuộc loại HĐLĐ và trường hợp này lại chưa được thêm vào các trường hợp chấm dứt HĐLĐ theo Bộ luật Lao động năm 2012. Từ đó, Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định mới này để tháo gỡ được tồn tại, bất cập nêu trên.

2. Các trường hợp liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Những điểm sửa đổi, bổ sung liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người lao động được quy định tại Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019, bao gồm:

Một là, cho phép người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần phải có lý do. Theo Bộ luật Lao động năm 2012, đối với người lao động làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn hoặc theo mùa vụ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi có những lý do nhất định[2]. Chỉ trường hợp người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn mới được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần nêu lý do[3]. Tuy nhiên, Bộ luật Lao động năm 2019 đã bãi bỏ hoàn toàn các lý do nêu trên và cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần lý do (dù là HĐLĐ không xác định thời hạn hay HĐLĐ xác định thời hạn) mà chỉ cần tuân thủ về thời hạn báo trước[4]. Quy định này nhằm đảm bảo quyền tự do việc làm của người lao động, đồng thời tránh việc sử dụng lao động cưỡng bức[5].

Hai là, bổ sung các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần báo trước. Theo khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần báo trước trong các trường hợp sau đây: “(a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận; (b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn; (c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; (d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; (đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc; (e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định; (g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực”.

Việc quy định đơn giản hóa các quy định đã giúp người lao động không cần báo trước trong các trường hợp không cần thiết phải báo trước hoặc cần “giải phóng” người lao động khỏi quan hệ lao động càng nhanh càng tốt[6]. Theo đó, người lao động được tự do lựa chọn công việc phù hợp mà không bị hạn chế, bó buộc bởi các điều kiện chấm dứt HĐLĐ như trước đây. Quy định này cũng là hợp lý bởi các trường hợp trên về cơ bản là do người sử dụng lao động có lỗi, nên người lao động có quyền chấm dứt ngay mà không cần báo trước. Về phần mình, người sử dụng lao động phải hết sức lưu ý trong quá trình sử dụng lao động, phải linh hoạt chuẩn bị các phương án để thay thế lao động cũng như áp dụng các chế độ phúc lợi và quan tâm đến người lao động nhiều hơn nếu không sẽ bị mất người lao động và bị động về nguồn nhân lực.

3. Các trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Người sử dụng lao động đã được Bộ luật Lao động năm 2019 mở rộng hơn quyền chấm dứt HĐLĐ đối với người lao động bằng việc quy định nhiều hơn các căn cứ để người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ nhằm đảm bảo sự linh hoạt trong việc sử dụng lao động, đồng thời, Bộ luật Lao động năm 2019 còn bổ sung thêm một số trường hợp:

Một là, người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Bộ luật Lao động năm 2019 đã sửa đổi cho phép người sử dụng lao động được quyền chấm dứt HĐLĐ đối với người lao động khi họ đến tuổi nghỉ hưu. Khác với Bộ luật Lao động năm 2012, việc người lao động đủ tuổi nghỉ hưu và đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội không còn là trường hợp đương nhiên chấm dứt HĐLĐ mà sẽ tùy thuộc vào phía người lao động cũng như người sử dụng lao động có muốn tiếp tục quan hệ lao động hay không? Nếu trường hợp không muốn tiếp tục quan hệ lao động thì một trong hai bên đều có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Có thể thấy, trường hợp chấm dứt HĐLĐ không yêu cầu điều kiện về người lao động phải đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội thì mới phát sinh quyền chấm dứt HĐLĐ. Sự sửa đổi này cũng là hợp lý.

Hai là, người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên. Đối với trường hợp người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên được Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung là một trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng xuất phát từ thực tiễn. Theo Bộ luật Lao động năm 2012, người sử dụng lao động muốn chấm dứt quan hệ với người lao động trong trường hợp nói trên chỉ có thể áp dụng hình thức kỷ luật sa thải. Có thể thấy, việc tự ý bỏ việc 05 ngày làm việc liên tục là một vi phạm nghiêm trọng và thông thường trong trường hợp này người sử dụng lao động khó liên lạc được với người lao động để thực hiện các thủ tục xử lý kỷ luật sa thải. Mặt khác, trình tự thủ tục để áp dụng xử lý kỷ luật sa thải rất chặt chẽ và mất nhiều công sức và thời gian để thực hiện. Bởi vậy, việc Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hợp lý, đảm bảo sự nhanh gọn, hạn chế được những thủ tục không cần thiết.

Ba là, người lao động cung cấp không trung thực thông tin khi giao kết HĐLĐ làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động. Đánh giá về thực trạng thực thi Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nhận xét: “Vẫn còn xảy ra tình trạng người lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng lao động, lừa dối doanh nghiệp bằng việc cung cấp văn bằng, chứng chỉ giả mạo để tìm kiếm việc làm”[7]. Người lao động cung cấp không trung thực thông tin khi giao kết HĐLĐ làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng là một trong những căn cứ được quy định bổ sung để người sử dụng lao động chấm dứt HĐLĐ đối với người lao động. Một trong những nguyên tắc của việc giao kết HĐLĐ là đòi hỏi các bên phải trung thực, thể hiện trong việc cung cấp các thông tin khi giao kết HĐLĐ. Người lao động phải cung cấp trung thực thông tin về họ tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan đến việc giao kết HĐLĐ. Việc cung cấp thông tin khi giao kết HĐLĐ được coi là nghĩa vụ của các bên khi giao kết HĐLĐ. Do đó, nếu người lao động cung cấp thông tin không trung thực (Ví dụ: Cung cấp bằng cấp chuyên môn giả) ảnh hưởng đến việc tuyển dụng của người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động có thể được áp dụng quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng là điều hợp lý.

Bốn là, cụ thể hóa các trường hợp được coi là doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế. Điều 44 Bộ luật Lao động năm 2012 đã có quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, tuy nhiên, mới chỉ nêu chung chung và phải cần thêm văn bản hướng dẫn để giải thích. Bộ luật Lao động năm 2019 đã pháp điển hóa các quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 và văn bản hướng dẫn đối với trường hợp này. Theo Điều 42 Bộ luật Lao động năm 2019, những trường hợp sau đây được coi là thay đổi cơ cấu, công nghệ: “(a) Thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động; (b) Thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động; (c) Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm. Những trường hợp sau đây được coi là vì lý do kinh tế: “(a) Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế; (b) Thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước khi cơ cấu lại nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế”. Ngoài ra, cũng cần lưu ý, để đảm bảo tính hợp pháp khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì các bên phải tuân thủ thời hạn báo trước, vì nếu vi phạm về thủ tục này thì dù việc chấm dứt có đúng về trường hợp (căn cứ) thì vẫn bị coi là chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật và phải chịu trách nhiệm nhất định[8]. Nhìn chung, thời hạn báo trước trong Bộ luật Lao động năm 2019 không có nhiều thay đổi so với Bộ luật Lao động năm 2012 và đều nhằm mục đích để các bên biết trước về thông tin cũng như có sự chuẩn bị cho sự kiện chấm dứt HĐLĐ - dù một bên không mong muốn. Sự thay đổi đáng kể nhất là việc quy định về thời hạn báo trước cho những công việc, ngành, nghề đặc thù[9].

Hướng dẫn liên quan đến thời hạn báo trước với ngành, nghề, công việc đặc thù, ở Điều 7 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động quy định như sau: “Ngành, nghề, công việc đặc thù và thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 35 và điểm d khoản 2 Điều 36 của Bộ luật Lao động bao gồm: (a) Thành viên tổ lái tàu bay; nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, nhân viên sửa chữa chuyên ngành hàng không; nhân viên điều độ, khai thác bay; (b) Người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; (c) Thuyền viên thuộc thuyền bộ làm việc trên tàu Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài; thuyền viên được doanh nghiệp Việt Nam cho thuê lại làm việc trên tàu biển nước ngoài”.

Tóm lại, quy định về các trường hợp (căn cứ) chấm dứt HĐLĐ trong Bộ luật Lao động năm 2019 là sự kế thừa những quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012 có sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng các nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động Việt Nam. Việc quy định có tính pháp điển hóa, tập trung các trường hợp chấm dứt HĐLĐ trong một điều luật (Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019) tạo điều kiện cho việc dễ tra cứu, dễ áp dụng với mọi đối tượng, chủ thể liên quan đến quan hệ lao động. Việc sửa đổi, bổ sung cũng đã chú ý hơn đến quyền và trách nhiệm của các bên khi chấm dứt HĐLĐ, đồng thời tạo ra tính linh hoạt, chủ động cho các bên khi tham gia quan hệ lao động.

Nguyễn Huyền Trang
Cao học Khóa 27, Đại học Luật Hà Nội




[1]. Xem thêm Điều 24 đến Điều 27 Bộ luật Lao động năm 2019.

[2]. Xem thêm khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012.

[3]. Xem thêm khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012.

[4]. Xem thêm khoản 1 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019.

[5]. Triển khai thi hành Bộ luật Lao động năm 2019, Nxb. Tư pháp, năm 2020, tr.36.

[6]. Nguyễn Xuân Thu, “Những điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động”, Tạp chí Nghề Luật số 3 năm 2020, tr. 30.

[7]. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật Lao động năm 2012, ngày 31/01/2018, tr. 14.

[8]. Nguyễn Thanh Việt, “Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 2 (347) năm 2021, tr. 43.

[9]. Điểm d, khoản 1 Điều 35; điểm d, khoản 2 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: