Thứ sáu 01/05/2026 00:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cải cách chính sách về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư của Ấn Độ

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích những thay đổi về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư của Ấn Độ, đánh giá những khó khăn mà nước này gặp phải và rút ra bài học

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích những thay đổi về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư của Ấn Độ, đánh giá những khó khăn mà nước này gặp phải và rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình cải cách chính sách giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư ở các nước đang phát triển khác trong thời điểm hiện nay.

Abstract: The article concentrates on analyzing the innovations in Foreign Investor-State Dispute Settlement of India and also mentions difficulties which will face India in the implementation and draws experiences for the process of reform of Foreign Investor - State Dispute Settlement policy in other developing countries at present.

1. Sự thay đổi chính sách giải quyết tranh chấp đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài ở Ấn Độ

Cùng với sự phát triển không ngừng của đầu tư quốc tế, giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư (Investor State Dispute Settlement - ISDS) đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nước có trình độ phát triển khác nhau trên thế giới. Số lượng vụ kiện ngày một gia tăng, nguy cơ phải bồi thường lớn, thời gian theo kiện dài... đặt ra cho Ấn Độ cũng như các nhà nước khác bài toán về cải cách chính sách ISDS, phải đáp ứng yêu cầu vừa không làm mất mục đích ban đầu là nhằm bảo đảm tự do hóa đầu tư, cân bằng quyền lợi giữa nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) và nhà nước tiếp nhận đầu tư (NNTNĐT), vừa không đặt NNTNĐT vào những mối quan hệ có nhiều rủi ro pháp lý. Mỗi Nhà nước sẽ xây dựng một cách thức khác nhau cho phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của từng nước. Tổng kết từ thực tế, Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã đưa ra 05 mô hình cải cách chính sách ISDS[1] đã và đang được áp dụng: (i) Thúc đẩy các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR), như hòa giải và trung gian hòa giải; (ii) Điều chỉnh cơ chế ISDS hiện tại thông qua các Hiệp định đầu tư quốc tế (IIA)[2] riêng lẻ; (iii) Hạn chế quyền tiếp cận ISDS của NĐTNN; (iv) Quy định về thủ tục phúc thẩm; (v) Xây dựng Tòa đầu tư quốc tế thường trực. Nhà nước có thể chỉ áp dụng riêng từng cách hoặc phối hợp tất cả các cách trên[3].

Là quốc gia đang phát triển với chính sách đầu tư thông thoáng nên Ấn Độ đã đạt được những thành tựu nổi bật về kinh tế, xã hội. Sự phát triển chính sách về ISDS gắn liền với tiến trình thay đổi chính sách đầu tư nước ngoài (FDI) của Ấn Độ, từ năm 1950 đến năm 1990 Ấn Độ chưa có các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (BIT), chính sách FDI thay đổi rất chậm chạp và vẫn xoay quanh thiên hướng bảo hộ, hỗ trợ, phát triển các thành phần kinh tế trong nước. Với điều kiện như vậy, nên ở giai đoạn này, ISDS chưa xuất hiện.

Quan điểm về FDI nói chung và sau đó là sự xuất hiện của ISDS nói riêng chỉ thực sự thay đổi sau năm 1990 khi mà Ấn Độ gặp những biến cố không lường trước của nền kinh tế. Nước này đã phải thực hiện một loạt các biện pháp cải tổ kinh tế vĩ mô mà trước đây chưa từng thực hiện, đặc biệt là các biện pháp nhằm tự do hóa FDI. Sự thay đổi chính sách trên đã được thể hiện ra bên ngoài bằng những BIT hoặc hiệp định xúc tiến đầu tư song phương (BIPA) giữa Ấn Độ và các quốc gia khác. Những hiệp định này được coi như một phần của chiến lược tự do hóa kinh tế toàn diện được khởi sướng năm 1991, mục tiêu rõ ràng của chiến lược này là nhằm thu hút đầu tư nước ngoài[4]. Do vậy, với tính chất bảo hộ cao hơn cho NĐTNN, ISDS lần đầu được ghi nhận trong các BIT như là một trong những công cụ góp phần quan trọng trong việc khẳng định chính sách tự do hóa đầu tư.

BIT giữa Ấn Độ với Anh năm 1994 là hiệp định đầu tư song phương đầu tiên mà Ấn Độ ký kết. Theo thống kê của UCTAD, hiện nay nước này đã ký kết tổng số 83 BIT. Kể từ BIT đầu tiên với Anh, tất cả các hiệp định được ký kết sau đó đều có điều khoản ISDS, Ấn Độ dành cho NĐTNN quyền được kiện Ấn Độ ra cơ quan tài phán quốc tế. Điều khoản ISDS của các BIT chính là các quy định về hình thức cho ISDS bao gồm những quy định về thủ tục, trình tự và cơ quan giải quyết tranh chấp. Nội dung quy định này thường được ghi nhận trong một điều của BIT. Đây được coi là điều kiện đủ để NĐTNN khởi kiện Ấn Độ ra các cơ quan tài phán quốc tế do vi phạm các nghĩa vụ trong BIT.

Bên cạnh các BIT, thỏa thuận có chứa cam kết về đầu tư còn bao gồm các Hiệp định thương mại tự do (FTA). Ấn Độ bắt đầu đàm phán và gia nhập FTA có chương đầu tư từ sau năm 2004. FTA đầu tiên được ký với Singapore năm 2005, hiện nay nước này đã ký kết tổng số 13 FTA (9 FTA đã có hiệu lực)[5], đây đều là các FTA có chứa đựng các cam kết về đầu tư và quan trọng bao gồm cả những quy định về ISDS.

Tính đúng đắn của hệ thống chính sách FDI của Ấn Độ với nền tảng pháp lý là hệ thống các BIT, các FTA đã được ký kết hoặc tham gia liên tục từ những năm 1990 sẽ luôn được khẳng định nếu như từ năm 2003, Ấn Độ không bị một loạt nhà đầu tư đến từ các nước phát triển khởi kiện vì nước này vi phạm nghĩa vụ theo cam kết trong các BIT[6]. Từ đây, thay vì tiếp tục thực hiện các BIT đã ký kết, đàm phán các hiệp định mới trên nền tảng áp dụng những nguyên tắc đã được xây dựng trong các BIT trước đó, Ấn Độ đã quyết định thực hiện chương trình cải tổ toàn diện hệ thống các BIT của nước này. Mối nguy hại lớn nhất của các cam kết trong BIT đối với Ấn Độ là quy định trao cho NĐTNN quyền được khởi kiện NNTNĐT trong điều kiện các cam kết về tự do hóa đầu tư rất mở với phạm vi khái niệm hoạt động đầu tư rộng, nội dung các nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN), đối xử quốc gia (NT), đối xử công bằng và thỏa đáng (FET), tước đoạt quyền sở hữu... thiếu rõ ràng, khó được hiểu và giải thích một cách thống nhất. Như vậy, cam kết về ISDS trở thành lý do chính để thực hiện chương trình cải cách và sự thay đổi phải được áp dụng đối với cả các cam kết về nội dung và hình thức, bằng cách Ấn Độ sẽ xây dựng và áp dụng mẫu BIT mới với nhiều điểm thay đổi so với BIT đã được nước này ký trong giai đoạn trước. Các BIT cũ được xây dựng theo mô hình các BIT của những nước phát triển, với chủ trương nhằm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư của họ ở NNTNĐT.

Để thực hiện sự điều chỉnh này, trước hết, Ấn Độ ra thông báo sẽ chấm dứt các BIT có chứa đựng cam kết về ISDS và xây dựng mẫu BIT cho đàm phán, ký kết các hiệp định mới. Mẫu BIT đầu tiên được xây dựng năm 2003, nhưng mẫu này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm soát vấn đề ISDS, có nội dung giống với BIT giữa Ấn Độ và Anh nên vẫn có nhiều căn cứ để NĐTNN khởi kiện NNTNĐT. Chính vì vậy, sau vụ kiện giữa Công ty White (Úc) và Ấn Độ (năm 2010) thì nước này tiếp tục theo đuổi việc xây dựng mẫu BIT khác nhằm hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của ISDS lên Ấn Độ, hướng tới việc bảo vệ nước này khỏi những rủi ro pháp lý có thể phát sinh khi bị NĐTNN khởi kiện, bảo đảm sự cân bằng hơn giữa quyền và nghĩa vụ của NĐTNN và Ấn Độ[7]. Chương trình được bắt đầu năm 2012 và bản mẫu BIT đã được soạn thảo năm 2015, có hiệu lực ngày 14/01/2016 (sau đây gọi là mẫu BIT 2015). Những điểm mới chủ yếu của mẫu BIT 2015 bao gồm: (i) Thay đổi khái niệm hoạt động đầu tư, chuyển từ khái niệm dựa trên tài sản sang doanh nghiệp; (ii) Loại trừ chế độ đối xử tối huệ quốc; (iii) Hạn chế phạm vi nguyên tắc NT bằng việc giới hạn phạm vi đối tượng của NT, không mở rộng việc áp dụng nguyên tắc này cho các giai đoạn thành lập, mua bán, mở rộng hoạt động đầu tư, lược bỏ các thuật ngữ trong lời văn của hiệp định có khả năng cho nhà đầu tư dẫn chiếu bất kỳ một ưu đãi có lợi hơn trong hiệp định khác và mở rộng phạm vi chủ thể bao gồm chính phủ của các bang của Ấn Độ; (iv) Nguyên tắc bảo vệ và an ninh đầy đủ (FPS) được giới hạn chỉ xoay quanh an ninh về vật chất của nhà đầu tư và hoạt động đầu tư; (v) Loại bỏ quy định về FET mà chỉ có quy định về “đối xử đầu tư”; (vi) Tước đoạt quyền sở hữu, Nhà nước không được quốc hữu hóa hoặc tước đoạt tài sản của hoạt động đầu tư hoặc áp dụng các biện pháp tương trừ với lý do vì lợi ích công cộng; (vii) Quy định về minh bạch, phải công bố hoặc sẵn sàng cho người quan tâm tất cả các luật, thủ tục hành chính về những vấn đề liên quan tới các BIT; (viii) Quy định về thẩm quyền và áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp trong nước.

Đồng thời với việc ban hành mẫu BIT 2015, Ấn Độ ra thông báo sẽ chấm dứt hiệu lực 57 BIT. Đến hết năm 2017, nước này đã chấm dứt 20 hiệp định; 57 hiệp định còn hiệu lực và 09 hiệp định chưa có hiệu lực.

Như vậy, mô hình thay đổi chính sách ISDS của Ấn Độ là áp dụng phối hợp một số cách thức như hạn chế quyền tiếp cận của NĐTNN, điều chỉnh các cơ chế ISDS trong các Hiệp định đầu tư quốc tế (IIA) riêng lẻ. Tuy nhiên, một cách cụ thể có thể thấy Ấn Độ đã thực hiện các hướng điều chỉnh trên bằng cách tập trung điều chỉnh nội dung các cam kết về tự do hóa thay vì loại trừ các quy định về thủ tục. Nước này duy trì một chính sách trung lập, không loại bỏ nhưng có điều chỉnh. Tức là chấp nhận sự tồn tại của ISDS trong chính sách đầu tư nhưng đặt ra các biện pháp về cả nội dung và hình thức giúp NNTNĐT có thể kiểm soát một cách tốt nhất các rủi ro.

Bằng việc xây dựng mẫu BIT 2015 chung, Ấn Độ đã khẳng định quan điểm nhất quán trong quá trình hoàn thiện chính sách ISDS, đồng thời tạo điều kiện cho Chính phủ Ấn Độ trong quá trình đàm phán lại các BIT và những IIA khác.

2. Khó khăn của Ấn Độ trong giai đoạn thực hiện chính sách mới về ISDS

Thứ nhất, phải tiếp tục thực thi các nghĩa vụ từ các BIT đã ký kết. Chính sách mới của Ấn Độ dẫn tới phải chấm dứt hàng loạt các BIT đã ký kết. Ấn Độ hoàn toàn có thể thể hiện chủ ý chấm dứt hiệp định vì có quy định gia hạn tự động (trong những BIT đã ký kết của Ấn Độ đều có quy định là hiệp định đã có hiệu lực 10 năm và sẽ được xem xét gia hạn tự động sau thời gian này, trừ khi có bất kỳ quốc gia thành viên nào của hiệp định đưa ra thông báo chấm dứt). Tuy nhiên, khi chấm dứt, nước này vẫn phải tiếp tục thực hiện bảo hộ đối với các hoạt động đầu tư nước ngoài trong 15 năm tiếp sau đó. Vì trong BIT có điều khoản hoàng hôn (tiếng Anh là “sunset clause”) nên Ấn Độ sẽ phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hiệp định. Ví dụ, Điều 15 Hiệp định đầu tư giữa Ấn Độ và Hà Lan quy định thời gian bảo hộ kéo dài cho hoạt động đầu tư được phê duyệt là 15 năm. Hiệp định này chấm dứt vào tháng 12/2016 nên các hoạt động đầu tư được thực hiện ở Ấn Độ trước thời điểm này sẽ được bảo hộ bởi Hiệp định này trong vòng 15 năm kể từ thời điểm trên. Những điều khoản như vậy cho phép các NĐTNN được bảo hộ tại NNTNĐT một khoảng thời gian nhất định sau khi hiệp định chấm dứt. Chấm dứt các BIT không dẫn đến chấm dứt ngay những bảo hộ của NNTNĐT với NĐTNN. Sự mở rộng này sẽ không làm giảm thiểu khả năng sử dụng các cam kết về ISDS để khởi kiện NĐTNN như một quyền của NĐTNN.

Thứ hai, phải tiếp tục theo các vụ kiện trên nền tảng cam kết đã có trước đó. Như trên đã nêu, trong tổng số 24 vụ kiện, trọng tài mới giải quyết xong 10 vụ, còn 14 vụ chưa ra phán quyết. Vì vậy, dù có ra thông báo về việc chấm dứt hiệu lực của những BIT, Ấn Độ vẫn phải tiếp tục tham gia vào quá trình giải quyết những tranh chấp này do vụ kiện đã xảy ra ở thời điểm các BIT vẫn còn hiệu lực. Đây không phải là trường hợp tiếp tục thực hiện nghĩa vụ từ các BIT khi áp dụng điều khoản hoàng hôn ở trên. Điều này cho thấy áp lực về ISDS chưa hề giảm ngay sau khi áp đặt chính sách mới đối với ISDS. Áp lực này trước hết và chủ yếu đến từ những đơn kiện cũ và không thể loại trừ những đơn kiện mới theo điều khoản hoàng hôn ở trên.

Thứ ba, đàm phán sửa đổi nhiều BIT cùng một lúc. Để áp dụng chính sách về ISDS theo BITs mẫu mới, Ấn Độ phải lên kế hoạch xử lý theo hướng thứ nhất là chấm dứt phần lớn các BIT có quy định tương tự nhau về ISDS đang có hiệu lực, đàm phán hiệp định mới theo mẫu BIT 2015 hoặc hướng thứ hai là sửa đổi hàng loạt những điều khoản quan trọng về tự do hóa và bảo hộ đầu tư cũng như những quy định trực tiếp về ISDS. Trong số 83 BIT được ký kết, nước này đã ra thông báo chấm dứt BIT với 57 nước, sau khi ra thông báo chấm dứt, Ấn Độ sẽ phải tiến hành đàm phán để xây dựng các hiệp định mới trên nền tảng của mẫu BIT 2015. Tuy nhiên, do điều kiện thương mại có những thay đổi nên bên cạnh việc hướng tới đàm phán phần lớn các BIT theo mẫu BIT 2015, Ấn Độ còn có thể tiến hành đàm phán các chương về đầu tư trong các FTA song phương hoặc đa phương như FTA với Liên minh Châu Âu (EU) hoặc Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện khu vực bao gồm 16 quốc gia.

Ngoài việc phải xử lý các trường hợp chấm dứt và đàm phán mới như trên, Ấn Độ còn đưa ra biện pháp riêng đối với hiệp định của 25 quốc gia còn lại như Trung Quốc, Phần Lan, Bangladesh, Mexico..., những hiệp định có thời hạn ban đầu sẽ được gia hạn từ tháng 7/2017 trở về trước. Nước này yêu cầu các nước phải ký thỏa thuận giải thích chung để làm sáng tỏ những yếu tố trừu tượng, chung chung trong quy định của hiệp định để tránh cách hiểu nhiều nghĩa gây tranh cãi hoặc quá rộng của cơ quan giải quyết tranh chấp. Ấn Độ sẽ soạn thảo một văn bản giải thích chung để giải thích đầy đủ ý nghĩa và chủ ý của các điều khoản chủ chốt[8].

3. Một số lưu ý với các nước đang phát triển

Một là, chú trọng tới luật nội dung điều chỉnh ISDS. Dễ dàng nhận thấy những cải cách trong chính sách của Ấn Độ tập trung vào các quy định về bảo hộ và tự do hóa đầu tư hơn là các quy định về thủ tục. Khác với chính sách của EU là chấp nhận cơ chế phúc thẩm hoặc thành lập Tòa đầu tư quốc tế thường trực. Thay đổi về thủ tục, chỉ có thể giúp cho kết quả giải quyết tranh chấp đúng đắn, khách quan hơn chứ không thể hạn chế việc NĐTNN khởi kiện quốc gia tiếp nhận đầu tư. Đặc biệt, trong trường hợp NĐTNN muốn khởi kiện nhằm mục đích trục lợi từ bồi thường của NNTNĐT. Như vậy, trong trường hợp các quốc gia lựa chọn cách chấp nhận ISDS nhưng tự có những biện pháp nhằm giới hạn và kiểm soát rủi ro, thì phải thay đổi những quy định về nội dung quyền và nghĩa vụ của NĐTNN và NNTNĐT. Với giải pháp này, ít nhất NNTNĐT sẽ giảm thiểu được việc bị kiện chứ không phải tốn thời gian, tiền bạc và áp lực khi bị NĐTNN khởi kiện thiếu căn cứ pháp lý. Chú trọng tới luật nội dung có nghĩa là tập trung vào những quy định về tự do hóa và bảo hộ đầu tư trong các IIA như Ấn Độ đã làm. Vì các cam kết về ISDS chủ yếu nằm trong các BIT, nên Ấn Độ tập trung trước hết vào điều chỉnh các BIT một cách có hệ thống và bài bản, sau đó mới là các IIA khác. Ấn Độ chưa tham gia Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà nước và công dân của Nhà nước khác (Công ước ICSID). Tuy nhiên, trong ISDS thì đây chỉ là một thủ tục có thể được sử dụng, còn nhiều trọng tài và thủ tục tố tụng khác nên mấu chốt của vấn đề không hẳn là có tham gia Công ước này nói riêng hay các cam kết về cơ quan giải quyết tranh chấp và thủ tục tố tụng khác nói chung, trừ khi quốc gia đó sử dụng quan điểm không chấp nhận cho NĐTNN được khởi kiện NNTNĐT.

Hai là, nghiên cứu các mô hình cải cách ISDS khác nhau. Cần đặt việc nghiên cứu trường hợp xử lý vấn đề ISDS của Ấn Độ bên cạnh các mô hình cải cách ISDS từ các quốc gia khác gồm cả quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển. Có những điểm tương đồng nhất định là mô hình cải cách của Indonesia. Nước này cũng phải ứng phó với ISDS bằng cách xem xét lại hệ thống IIA. Do phải đối mặt với 06 vụ kiện, nhiều nhất trong khu vực ASEAN, nên mối quan tâm lớn nhất của việc xem xét lại cũng là các quy định về ISDS trong các IIA[9]. Indonesia phải rà soát 64 BIT và 05 chương đầu tư trong các FTA, sau đó chấm dứt và đàm phán lại một số BIT trên cơ sở mẫu BIT mới. Ngược hẳn với mô hình của Ấn Độ và Indonesia, EU theo hướng sử dụng cơ chế phúc thẩm và thành lập Tòa đầu tư quốc tế thường trực. Để giảm thiểu những tác động của chính sách ISDS mới như Ấn Độ và có thể những quốc gia đang cải tổ khác cũng gặp phải như Indonesia, thì các quốc gia đang phát triển cần phải thấy được những khó khăn, thách thức phát sinh trong quá trình này, từ đó, xây dựng lộ trình, giải pháp thích hợp cho từng vấn đề ở các thời điểm khác nhau. Hơn nữa, cần nghiên cứu và kế thừa những ưu điểm trong mẫu BIT 2015 của Ấn Độ. Đồng thời ngoài BIT, các quy định về đầu tư quốc tế còn nằm trong rất nhiều các IIA khác như FTA, MAI, do đó không chỉ tính đến các BIT trong kiểm soát ISDS, mô hình cải cách BIT sẽ chỉ là một căn cứ quan trọng để có những thay đổi cam kết về đầu tư nói chung, ISDS nói riêng trong các IIA khác.

Tóm lại, đối với các nước đang phát triển, mô hình cải cách ISDS của Ấn Độ nên được đưa vào nghiên cứu và rút kinh nghiệm cùng với mô hình của các quốc gia khác. Mặc dù, chương trình vẫn đang được tiến hành và chưa có kết quả kiểm chứng cụ thể nhưng cũng cần nhận thấy rằng, Ấn Độ đã quyết đoán khi thực hiện những thay đổi cả về nội dung và hình thức các cam kết về đầu tư quốc tế nói chung, ISDS nói riêng, đồng thời mẫu BIT 2015 sẽ tạo tính thống nhất cao cho hệ thống chính sách về ISDS sau này của Ấn Độ.

ThS.Trần Thị Hồng Nhung

Đại học Kinh tế quốc dân



[1]. Kavaljit Singh and Burghard Iige (2016), “Rethinking Bilateral Investment Treaties: Critical Issue Policy Choices”, Both Ends, Madhyam và Somo, tr. 25.

[2]. Các BIT, MAI, hay các FTA có chương đầu tư còn được gọi chung là các IIA.

[3]. Kavaljit Singh and Burghard Iige (2016), Tlđd, tr. 26.

[4]. Kavaljit Singh and Burghard Iige (2016), Tlđd, tr. 105.

[5]. Kavaljit Singh and Burghard Iige (2016), Tlđd, tr. 25.

[6]. Theo UNCTAD, đến hết năm 2017, Ấn Độ là một trong 10 quốc gia bị kiện nhiều nhất với 24 vụ kiện. Trong số 24 vụ kiện, đã có 10 vụ được giải quyết xong, 14 vụ đang được giải quyết. Xem: http://investmentpolicyhub.unctad.org/ISDS/FilterByCountry, truy cập lần cuối ngày 20/4/2018.

[7]. Biswajit Dhar (2015), India’s Experience with BITs: Highlights from Recent ISDS Cases, Investment Policy Brief, số 3.

[8]. Kavaljit Singh and Burghard Iige (2016), Remodeling India’s Investment Treaty Regime, xem: https://thewire.in/52022/remodeling-indias-investment-treaty-regime/RemodelingIndia’s Investment Treaty Regime.

[9]. Kavaljit Singh and Burghard Iige (2016), Tlđd, tr. 114.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: