Thứ bảy 09/05/2026 21:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần bổ sung trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong hoạt động tống đạt văn bản

Tống đạt là một trong những thủ tục tố tụng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể để xác định tính hợp lệ của thủ tục này. Việc tống đạt không hợp lệ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Ngoài trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định hiện hành, nghiên cứu cho thấy, cần bổ sung thêm trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại mà hiện đang còn “bỏ ngỏ”.

1. Tính hợp lệ của việc tống đạt văn bản tố tụng dân sự

Về nguyên tắc, văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho cá nhân tại địa chỉ mà đương sự đã thông báo hợp lệ cho Tòa án hoặc tới địa chỉ mà đương sự đã thỏa thuận và đề nghị Tòa án liên hệ theo địa chỉ đó khoản 1 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho đương sự là phương thức mang lại hiệu quả cao nhất, bảo đảm thực hiện kịp thời, chính xác, ít bị đương sự khiếu nại và hủy án vì lý do tống đạt không hợp lệ. Tuy nhiên, nếu người được tống đạt vắng mặt thì người thực hiện việc tống đạt sẽ giải quyết như sau (khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015):

(i) Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt và sau đó quay lại nơi cư trú: người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.

(ii) Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ: người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.

Thủ tục này là bằng chứng chứng minh người có nghĩa vụ tống đạt đã thực hiện hết trách nhiệm của mình[1], do không thể thực hiện tống đạt trực tiếp, trong khi Tòa án vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ việc, tránh làm ảnh hưởng đến các đương sự khác. So với việc tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho đương sự, thủ tục niêm yết công khai là phương thức có tính hiệu quả không cao, đương sự khó có thể tiếp cận văn bản tố tụng, không bảo đảm tính kịp thời, chính xác của việc tống đạt.

Đối với các loại văn bản tố tụng như giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án, Tòa án có trách nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông báo cho đương sự (khoản 1 Điều 22 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, Tòa án và Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận để tống đạt văn bản của Tòa án trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở Văn phòng Thừa phát lại (khoản 1 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại[2] (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP)). Thủ tục tống đạt của Văn phòng Thừa phát lại là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP).

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì được coi là hợp lệ. Pháp luật hiện hành chỉ quy định khái quát tính hợp lệ của việc tống đạt được xác định dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mà không quy định cụ thể cơ sở nào để xác định tính hợp lệ này. Văn phòng Thừa phát lại thực hiện thủ tục tống đạt văn bản của Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng nên việc tống đạt được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng (khoản 2 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) thì được coi là hoàn thành. Như vậy, để xác định tính hợp lệ của việc tống đạt, cần căn cứ vào các quy định cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chương X Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thủ tục tống đạt gồm các nội dung: nghĩa vụ tống đạt các văn bản tố tụng, người thực hiện việc tống đạt, các phương thức tống đạt, thủ tục tống đạt, thủ tục niêm yết công khai, thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và thông báo kết quả việc tống đạt… Trong đó, tính hợp lệ của việc tống đạt căn cứ vào hai yếu tố cơ bản, đó là: căn cứ thực hiện việc tống đạt và trình tự, thủ tục tống đạt. Nếu việc tống đạt được thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, không dựa trên các căn cứ luật định, có sai sót trong quá trình thực hiện sẽ không được coi là hợp lệ. Việc tống đạt không hợp lệ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, quyền lợi hợp pháp của các đương sự.

2. Hậu quả pháp lý khi tống đạt văn bản tố tụng dân sự không hợp lệ

Thực tiễn trong một số trường hợp, do không quy định chế độ kiểm tra việc chuyển giao cho người được tống đạt từ người trung gian dễ dẫn đến việc người trung gian không giao hoặc giao không đúng thời hạn cho người được tống đạt dẫn đến việc người được tống đạt không thể biết việc Tòa án triệu tập mình để tham gia tố tụng[3]. Trong một vụ việc, thủ tục tống đạt trực tiếp cho nguyên đơn không hợp lệ dẫn đến hệ quả là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm. Cụ thể như sau:

“Tại văn bản tống đạt trực tiếp không thành của Văn phòng Thừa phát lại quận H ngày 03/11/2017 và ngày 07/9/2017 ghi nhận ông Nguyễn Văn A không có mặt ở nhà, không biết khi nào trở về, không có người nhận thay văn bản theo quy định nên không thể tống đạt và tiến hành niêm yết công khai. Những người tham gia nghe, xác nhận, ký tên gồm có: Thừa phát lại, thư ký thừa phát lại, đại diện Ủy ban nhân dân phường, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường. Tuy nhiên tại các văn bản trên không có sự xác nhận của tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn.

Tại phiếu yêu cầu xác minh ngày 20/11/2017 của Tòa án nhân dân Quận E thì cơ quan quản lý địa phương cho biết ông Nguyễn Văn A vẫn còn ở địa phương (địa chỉ không thay đổi), biên bản tống đạt quyết định đình chỉ do Văn phòng thừa phát lại Hóc Môn vẫn giao trực tiếp cho ông A tại địa chỉ nói trên.

Như vậy, Tòa án nhân dân Quận E tiến hành niêm yết công khai không đúng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nguyễn Văn A. Tòa án nhân dân Quận E căn cứ Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án với lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là chưa đảm bảo căn cứ và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông A, kháng cáo của ông Nguyễn Văn A và kháng nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận”[4].

(i) Về căn cứ thực hiện tống đạt: có mâu thuẫn giữa kết quả xác minh của Văn phòng Thừa phát lại quận H và Tòa án cấp sơ thẩm. Theo xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm, ông A vẫn còn ở địa phương và địa chỉ không thay đổi; theo ghi nhận của Văn phòng Thừa phát lại quận H, ông A không có mặt ở nhà và không biết khi nào trở về. Ngoài ra, biên bản tống đạt quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do Văn phòng thừa phát lại Hóc Môn tống đạt vẫn giao trực tiếp cho ông A. Qua đó có thể xác định, căn cứ niêm yết công khai của Văn phòng Thừa phát lại quận H là không đúng sự thật khách quan.

(ii) Về trình tự, thủ tục tống đạt: tại các biên bản tống đạt trực tiếp không thành của Thừa phát lại, mặc dù có xác nhận của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, nhưng không có sự xác nhận của tổ dân phố hay Công an xã, phường, thị trấn theo khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, thủ tục niêm yết công khai của Văn phòng Thừa phát lại quận H là không đúng trình tự luật định.

Về cả hai phương diện nêu trên, Văn phòng Thừa phát lại quận H đều không tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tống đạt này được xem là không hợp lệ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ thủ tục tống đạt giấy triệu tập của Văn phòng Thừa phát lại quận H và sự vắng mặt của nguyên đơn để ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đã ảnh hưởng đến quyền của ông A, ông A không có quyền khởi kiện lại theo khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, thủ tục tống đạt văn bản tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và có mối quan hệ mật thiết với các thủ tục, giai đoạn tố tụng khác, đơn cử là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự là cơ sở để đương sự có mặt tại Tòa án; việc đương sự không có mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai là căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó, nếu việc tống đạt giấy triệu tập không hợp lệ thì lần triệu tập này không có giá trị pháp lý, không được tính vào số lần triệu tập. Tòa án căn cứ vào lần triệu tập không hợp lệ mà đình chỉ giải quyết vụ án là chưa phù hợp.

3. Đề xuất bổ sung trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong hoạt động tống đạt văn bản

Theo Điều 32 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Văn phòng Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm trước Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự về việc tống đạt thiếu chính xác, không đúng thủ tục, đúng thời hạn của mình; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định. Khi việc tống đạt không hợp lệ, Thừa phát lại chỉ phải chịu trách nhiệm trước Tòa án về thủ tục này, vì Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt dựa trên cơ sở thỏa thuận với Tòa án; còn Tòa án phải chịu trách nhiệm về việc tống đạt không hợp lệ của Văn phòng Thừa phát lại, do đây là trách nhiệm của Tòa án đã được luật định. Trên thực tế, nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã bị hủy theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trong đó có các vi phạm liên quan đến tính hợp lệ của việc tống đạt các văn bản tố tụng[5]. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định ràng buộc cụ thể trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong trường hợp việc tống đạt không hợp lệ, làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Trong khi đó, ý nghĩa của việc “khai sinh” các tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam là nhằm xác định lại đúng mức độ, phạm vi can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp, giảm khối lượng công việc và gánh nặng chi phí của Nhà nước, tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan Nhà nước. Giá trị của việc giao Thừa phát lại thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng không chỉ đơn thuần là giảm tải công việc cho ngành Tòa án mà cao hơn, còn có tác động tôn vinh vị trí, vai trò của Tòa án, đồng thời, giúp “tách” cán bộ Tòa án khỏi các bên đương sự, bảo đảm sự khách quan trong giải quyết vụ việc. Tuy nhiên, giữa vị trí pháp lý, chức năng, vai trò của Thừa phát lại và trách nhiệm pháp lý của tổ chức này còn chưa tương xứng. Pháp luật cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị hủy do Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt không hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng hoặc nhẹ hơn là “chậm trễ” trong việc tống đạt.

Kết luận:

Mặc dù pháp luật chưa quy định rõ cơ sở pháp lý để đánh giá tính hợp lệ của việc tống đạt văn bản tố tụng dân sự nhưng từ thực tiễn xét xử, nghiên cứu cho thấy, tính hợp lệ của việc tống đạt dựa trên hai yếu tố cơ bản: căn cứ thực hiện việc tống đạt và trình tự, thủ tục tống đạt. Trường hợp tống đạt được thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, không dựa trên các căn cứ luật định có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, không có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, trách nhiệm trước hết là ở cơ quan, người tiến hành tố tụng tại Tòa án. Tuy nhiên, trách nhiệm của Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại cũng cần được pháp luật quy định rõ ràng hơn, góp phần củng cố vị trí và giá trị pháp lý của chế định Thừa phát lại trong hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp của Việt Nam./.

Phan Duy Nhật

Học viên Lớp Đào tạo luật sư, Học viện Tư pháp - Cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Kim Giang, Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr. 51.

[2] Trước đây là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ.

[3] Lê Văn Quang, “Cần hướng dẫn thi hành quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5, 2018, tr. 55.

[4] Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 287/2018/QĐ-PT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[5] Bộ Tư pháp, “Điểm tin báo chí ngày 16/9 và sáng ngày 17/9/2014 - Thông tin liên quan đến công tác tư pháp”, https://moj.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/qt/thongtinbaochi/Lists/DiemTinBaoChi&ListId=f40803e2-3d26-43db-82e2-fefffe8e7709&SiteId=5d7ff17f-37bc-40e8-83bb-f20d380bacd0&ItemID=1624&SiteRootID=b71e67e4-9250-47a7-96d6-64e9cb69ccf3, truy cập ngày 22/4/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: