Thứ bảy 13/12/2025 22:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần bổ sung trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong hoạt động tống đạt văn bản

Tống đạt là một trong những thủ tục tố tụng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể để xác định tính hợp lệ của thủ tục này. Việc tống đạt không hợp lệ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Ngoài trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định hiện hành, nghiên cứu cho thấy, cần bổ sung thêm trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại mà hiện đang còn “bỏ ngỏ”.

1. Tính hợp lệ của việc tống đạt văn bản tố tụng dân sự

Về nguyên tắc, văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho cá nhân tại địa chỉ mà đương sự đã thông báo hợp lệ cho Tòa án hoặc tới địa chỉ mà đương sự đã thỏa thuận và đề nghị Tòa án liên hệ theo địa chỉ đó khoản 1 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho đương sự là phương thức mang lại hiệu quả cao nhất, bảo đảm thực hiện kịp thời, chính xác, ít bị đương sự khiếu nại và hủy án vì lý do tống đạt không hợp lệ. Tuy nhiên, nếu người được tống đạt vắng mặt thì người thực hiện việc tống đạt sẽ giải quyết như sau (khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015):

(i) Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt và sau đó quay lại nơi cư trú: người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.

(ii) Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ: người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.

Thủ tục này là bằng chứng chứng minh người có nghĩa vụ tống đạt đã thực hiện hết trách nhiệm của mình[1], do không thể thực hiện tống đạt trực tiếp, trong khi Tòa án vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ việc, tránh làm ảnh hưởng đến các đương sự khác. So với việc tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho đương sự, thủ tục niêm yết công khai là phương thức có tính hiệu quả không cao, đương sự khó có thể tiếp cận văn bản tố tụng, không bảo đảm tính kịp thời, chính xác của việc tống đạt.

Đối với các loại văn bản tố tụng như giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án, Tòa án có trách nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông báo cho đương sự (khoản 1 Điều 22 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, Tòa án và Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận để tống đạt văn bản của Tòa án trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở Văn phòng Thừa phát lại (khoản 1 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại[2] (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP)). Thủ tục tống đạt của Văn phòng Thừa phát lại là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP).

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì được coi là hợp lệ. Pháp luật hiện hành chỉ quy định khái quát tính hợp lệ của việc tống đạt được xác định dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mà không quy định cụ thể cơ sở nào để xác định tính hợp lệ này. Văn phòng Thừa phát lại thực hiện thủ tục tống đạt văn bản của Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng nên việc tống đạt được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng (khoản 2 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) thì được coi là hoàn thành. Như vậy, để xác định tính hợp lệ của việc tống đạt, cần căn cứ vào các quy định cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chương X Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thủ tục tống đạt gồm các nội dung: nghĩa vụ tống đạt các văn bản tố tụng, người thực hiện việc tống đạt, các phương thức tống đạt, thủ tục tống đạt, thủ tục niêm yết công khai, thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và thông báo kết quả việc tống đạt… Trong đó, tính hợp lệ của việc tống đạt căn cứ vào hai yếu tố cơ bản, đó là: căn cứ thực hiện việc tống đạt và trình tự, thủ tục tống đạt. Nếu việc tống đạt được thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, không dựa trên các căn cứ luật định, có sai sót trong quá trình thực hiện sẽ không được coi là hợp lệ. Việc tống đạt không hợp lệ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, quyền lợi hợp pháp của các đương sự.

2. Hậu quả pháp lý khi tống đạt văn bản tố tụng dân sự không hợp lệ

Thực tiễn trong một số trường hợp, do không quy định chế độ kiểm tra việc chuyển giao cho người được tống đạt từ người trung gian dễ dẫn đến việc người trung gian không giao hoặc giao không đúng thời hạn cho người được tống đạt dẫn đến việc người được tống đạt không thể biết việc Tòa án triệu tập mình để tham gia tố tụng[3]. Trong một vụ việc, thủ tục tống đạt trực tiếp cho nguyên đơn không hợp lệ dẫn đến hệ quả là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm. Cụ thể như sau:

“Tại văn bản tống đạt trực tiếp không thành của Văn phòng Thừa phát lại quận H ngày 03/11/2017 và ngày 07/9/2017 ghi nhận ông Nguyễn Văn A không có mặt ở nhà, không biết khi nào trở về, không có người nhận thay văn bản theo quy định nên không thể tống đạt và tiến hành niêm yết công khai. Những người tham gia nghe, xác nhận, ký tên gồm có: Thừa phát lại, thư ký thừa phát lại, đại diện Ủy ban nhân dân phường, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường. Tuy nhiên tại các văn bản trên không có sự xác nhận của tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn.

Tại phiếu yêu cầu xác minh ngày 20/11/2017 của Tòa án nhân dân Quận E thì cơ quan quản lý địa phương cho biết ông Nguyễn Văn A vẫn còn ở địa phương (địa chỉ không thay đổi), biên bản tống đạt quyết định đình chỉ do Văn phòng thừa phát lại Hóc Môn vẫn giao trực tiếp cho ông A tại địa chỉ nói trên.

Như vậy, Tòa án nhân dân Quận E tiến hành niêm yết công khai không đúng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nguyễn Văn A. Tòa án nhân dân Quận E căn cứ Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án với lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là chưa đảm bảo căn cứ và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông A, kháng cáo của ông Nguyễn Văn A và kháng nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận”[4].

(i) Về căn cứ thực hiện tống đạt: có mâu thuẫn giữa kết quả xác minh của Văn phòng Thừa phát lại quận H và Tòa án cấp sơ thẩm. Theo xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm, ông A vẫn còn ở địa phương và địa chỉ không thay đổi; theo ghi nhận của Văn phòng Thừa phát lại quận H, ông A không có mặt ở nhà và không biết khi nào trở về. Ngoài ra, biên bản tống đạt quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do Văn phòng thừa phát lại Hóc Môn tống đạt vẫn giao trực tiếp cho ông A. Qua đó có thể xác định, căn cứ niêm yết công khai của Văn phòng Thừa phát lại quận H là không đúng sự thật khách quan.

(ii) Về trình tự, thủ tục tống đạt: tại các biên bản tống đạt trực tiếp không thành của Thừa phát lại, mặc dù có xác nhận của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, nhưng không có sự xác nhận của tổ dân phố hay Công an xã, phường, thị trấn theo khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, thủ tục niêm yết công khai của Văn phòng Thừa phát lại quận H là không đúng trình tự luật định.

Về cả hai phương diện nêu trên, Văn phòng Thừa phát lại quận H đều không tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tống đạt này được xem là không hợp lệ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ thủ tục tống đạt giấy triệu tập của Văn phòng Thừa phát lại quận H và sự vắng mặt của nguyên đơn để ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đã ảnh hưởng đến quyền của ông A, ông A không có quyền khởi kiện lại theo khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, thủ tục tống đạt văn bản tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và có mối quan hệ mật thiết với các thủ tục, giai đoạn tố tụng khác, đơn cử là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự là cơ sở để đương sự có mặt tại Tòa án; việc đương sự không có mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai là căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó, nếu việc tống đạt giấy triệu tập không hợp lệ thì lần triệu tập này không có giá trị pháp lý, không được tính vào số lần triệu tập. Tòa án căn cứ vào lần triệu tập không hợp lệ mà đình chỉ giải quyết vụ án là chưa phù hợp.

3. Đề xuất bổ sung trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong hoạt động tống đạt văn bản

Theo Điều 32 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Văn phòng Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm trước Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự về việc tống đạt thiếu chính xác, không đúng thủ tục, đúng thời hạn của mình; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định. Khi việc tống đạt không hợp lệ, Thừa phát lại chỉ phải chịu trách nhiệm trước Tòa án về thủ tục này, vì Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt dựa trên cơ sở thỏa thuận với Tòa án; còn Tòa án phải chịu trách nhiệm về việc tống đạt không hợp lệ của Văn phòng Thừa phát lại, do đây là trách nhiệm của Tòa án đã được luật định. Trên thực tế, nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã bị hủy theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trong đó có các vi phạm liên quan đến tính hợp lệ của việc tống đạt các văn bản tố tụng[5]. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định ràng buộc cụ thể trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong trường hợp việc tống đạt không hợp lệ, làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Trong khi đó, ý nghĩa của việc “khai sinh” các tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam là nhằm xác định lại đúng mức độ, phạm vi can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp, giảm khối lượng công việc và gánh nặng chi phí của Nhà nước, tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan Nhà nước. Giá trị của việc giao Thừa phát lại thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng không chỉ đơn thuần là giảm tải công việc cho ngành Tòa án mà cao hơn, còn có tác động tôn vinh vị trí, vai trò của Tòa án, đồng thời, giúp “tách” cán bộ Tòa án khỏi các bên đương sự, bảo đảm sự khách quan trong giải quyết vụ việc. Tuy nhiên, giữa vị trí pháp lý, chức năng, vai trò của Thừa phát lại và trách nhiệm pháp lý của tổ chức này còn chưa tương xứng. Pháp luật cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị hủy do Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt không hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng hoặc nhẹ hơn là “chậm trễ” trong việc tống đạt.

Kết luận:

Mặc dù pháp luật chưa quy định rõ cơ sở pháp lý để đánh giá tính hợp lệ của việc tống đạt văn bản tố tụng dân sự nhưng từ thực tiễn xét xử, nghiên cứu cho thấy, tính hợp lệ của việc tống đạt dựa trên hai yếu tố cơ bản: căn cứ thực hiện việc tống đạt và trình tự, thủ tục tống đạt. Trường hợp tống đạt được thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, không dựa trên các căn cứ luật định có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, không có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, trách nhiệm trước hết là ở cơ quan, người tiến hành tố tụng tại Tòa án. Tuy nhiên, trách nhiệm của Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại cũng cần được pháp luật quy định rõ ràng hơn, góp phần củng cố vị trí và giá trị pháp lý của chế định Thừa phát lại trong hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp của Việt Nam./.

Phan Duy Nhật

Học viên Lớp Đào tạo luật sư, Học viện Tư pháp - Cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Kim Giang, Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr. 51.

[2] Trước đây là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ.

[3] Lê Văn Quang, “Cần hướng dẫn thi hành quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5, 2018, tr. 55.

[4] Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 287/2018/QĐ-PT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[5] Bộ Tư pháp, “Điểm tin báo chí ngày 16/9 và sáng ngày 17/9/2014 - Thông tin liên quan đến công tác tư pháp”, https://moj.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/qt/thongtinbaochi/Lists/DiemTinBaoChi&ListId=f40803e2-3d26-43db-82e2-fefffe8e7709&SiteId=5d7ff17f-37bc-40e8-83bb-f20d380bacd0&ItemID=1624&SiteRootID=b71e67e4-9250-47a7-96d6-64e9cb69ccf3, truy cập ngày 22/4/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.

Theo dõi chúng tôi trên: