Thứ tư 04/03/2026 09:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần bổ sung trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong hoạt động tống đạt văn bản

Tống đạt là một trong những thủ tục tố tụng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể để xác định tính hợp lệ của thủ tục này. Việc tống đạt không hợp lệ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Ngoài trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định hiện hành, nghiên cứu cho thấy, cần bổ sung thêm trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại mà hiện đang còn “bỏ ngỏ”.

1. Tính hợp lệ của việc tống đạt văn bản tố tụng dân sự

Về nguyên tắc, văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho cá nhân tại địa chỉ mà đương sự đã thông báo hợp lệ cho Tòa án hoặc tới địa chỉ mà đương sự đã thỏa thuận và đề nghị Tòa án liên hệ theo địa chỉ đó khoản 1 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho đương sự là phương thức mang lại hiệu quả cao nhất, bảo đảm thực hiện kịp thời, chính xác, ít bị đương sự khiếu nại và hủy án vì lý do tống đạt không hợp lệ. Tuy nhiên, nếu người được tống đạt vắng mặt thì người thực hiện việc tống đạt sẽ giải quyết như sau (khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015):

(i) Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt và sau đó quay lại nơi cư trú: người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.

(ii) Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ: người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.

Thủ tục này là bằng chứng chứng minh người có nghĩa vụ tống đạt đã thực hiện hết trách nhiệm của mình[1], do không thể thực hiện tống đạt trực tiếp, trong khi Tòa án vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ việc, tránh làm ảnh hưởng đến các đương sự khác. So với việc tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho đương sự, thủ tục niêm yết công khai là phương thức có tính hiệu quả không cao, đương sự khó có thể tiếp cận văn bản tố tụng, không bảo đảm tính kịp thời, chính xác của việc tống đạt.

Đối với các loại văn bản tố tụng như giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án, Tòa án có trách nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông báo cho đương sự (khoản 1 Điều 22 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, Tòa án và Văn phòng Thừa phát lại có thể thỏa thuận để tống đạt văn bản của Tòa án trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở Văn phòng Thừa phát lại (khoản 1 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại[2] (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP)). Thủ tục tống đạt của Văn phòng Thừa phát lại là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP).

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì được coi là hợp lệ. Pháp luật hiện hành chỉ quy định khái quát tính hợp lệ của việc tống đạt được xác định dựa trên quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mà không quy định cụ thể cơ sở nào để xác định tính hợp lệ này. Văn phòng Thừa phát lại thực hiện thủ tục tống đạt văn bản của Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng nên việc tống đạt được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng (khoản 2 Điều 33 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) thì được coi là hoàn thành. Như vậy, để xác định tính hợp lệ của việc tống đạt, cần căn cứ vào các quy định cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chương X Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thủ tục tống đạt gồm các nội dung: nghĩa vụ tống đạt các văn bản tố tụng, người thực hiện việc tống đạt, các phương thức tống đạt, thủ tục tống đạt, thủ tục niêm yết công khai, thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và thông báo kết quả việc tống đạt… Trong đó, tính hợp lệ của việc tống đạt căn cứ vào hai yếu tố cơ bản, đó là: căn cứ thực hiện việc tống đạt và trình tự, thủ tục tống đạt. Nếu việc tống đạt được thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, không dựa trên các căn cứ luật định, có sai sót trong quá trình thực hiện sẽ không được coi là hợp lệ. Việc tống đạt không hợp lệ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, quyền lợi hợp pháp của các đương sự.

2. Hậu quả pháp lý khi tống đạt văn bản tố tụng dân sự không hợp lệ

Thực tiễn trong một số trường hợp, do không quy định chế độ kiểm tra việc chuyển giao cho người được tống đạt từ người trung gian dễ dẫn đến việc người trung gian không giao hoặc giao không đúng thời hạn cho người được tống đạt dẫn đến việc người được tống đạt không thể biết việc Tòa án triệu tập mình để tham gia tố tụng[3]. Trong một vụ việc, thủ tục tống đạt trực tiếp cho nguyên đơn không hợp lệ dẫn đến hệ quả là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm. Cụ thể như sau:

“Tại văn bản tống đạt trực tiếp không thành của Văn phòng Thừa phát lại quận H ngày 03/11/2017 và ngày 07/9/2017 ghi nhận ông Nguyễn Văn A không có mặt ở nhà, không biết khi nào trở về, không có người nhận thay văn bản theo quy định nên không thể tống đạt và tiến hành niêm yết công khai. Những người tham gia nghe, xác nhận, ký tên gồm có: Thừa phát lại, thư ký thừa phát lại, đại diện Ủy ban nhân dân phường, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường. Tuy nhiên tại các văn bản trên không có sự xác nhận của tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn.

Tại phiếu yêu cầu xác minh ngày 20/11/2017 của Tòa án nhân dân Quận E thì cơ quan quản lý địa phương cho biết ông Nguyễn Văn A vẫn còn ở địa phương (địa chỉ không thay đổi), biên bản tống đạt quyết định đình chỉ do Văn phòng thừa phát lại Hóc Môn vẫn giao trực tiếp cho ông A tại địa chỉ nói trên.

Như vậy, Tòa án nhân dân Quận E tiến hành niêm yết công khai không đúng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nguyễn Văn A. Tòa án nhân dân Quận E căn cứ Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án với lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là chưa đảm bảo căn cứ và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông A, kháng cáo của ông Nguyễn Văn A và kháng nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận”[4].

(i) Về căn cứ thực hiện tống đạt: có mâu thuẫn giữa kết quả xác minh của Văn phòng Thừa phát lại quận H và Tòa án cấp sơ thẩm. Theo xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm, ông A vẫn còn ở địa phương và địa chỉ không thay đổi; theo ghi nhận của Văn phòng Thừa phát lại quận H, ông A không có mặt ở nhà và không biết khi nào trở về. Ngoài ra, biên bản tống đạt quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do Văn phòng thừa phát lại Hóc Môn tống đạt vẫn giao trực tiếp cho ông A. Qua đó có thể xác định, căn cứ niêm yết công khai của Văn phòng Thừa phát lại quận H là không đúng sự thật khách quan.

(ii) Về trình tự, thủ tục tống đạt: tại các biên bản tống đạt trực tiếp không thành của Thừa phát lại, mặc dù có xác nhận của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, nhưng không có sự xác nhận của tổ dân phố hay Công an xã, phường, thị trấn theo khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, thủ tục niêm yết công khai của Văn phòng Thừa phát lại quận H là không đúng trình tự luật định.

Về cả hai phương diện nêu trên, Văn phòng Thừa phát lại quận H đều không tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tống đạt này được xem là không hợp lệ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ thủ tục tống đạt giấy triệu tập của Văn phòng Thừa phát lại quận H và sự vắng mặt của nguyên đơn để ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đã ảnh hưởng đến quyền của ông A, ông A không có quyền khởi kiện lại theo khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, thủ tục tống đạt văn bản tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và có mối quan hệ mật thiết với các thủ tục, giai đoạn tố tụng khác, đơn cử là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự là cơ sở để đương sự có mặt tại Tòa án; việc đương sự không có mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai là căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó, nếu việc tống đạt giấy triệu tập không hợp lệ thì lần triệu tập này không có giá trị pháp lý, không được tính vào số lần triệu tập. Tòa án căn cứ vào lần triệu tập không hợp lệ mà đình chỉ giải quyết vụ án là chưa phù hợp.

3. Đề xuất bổ sung trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong hoạt động tống đạt văn bản

Theo Điều 32 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Văn phòng Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm trước Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự về việc tống đạt thiếu chính xác, không đúng thủ tục, đúng thời hạn của mình; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định. Khi việc tống đạt không hợp lệ, Thừa phát lại chỉ phải chịu trách nhiệm trước Tòa án về thủ tục này, vì Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt dựa trên cơ sở thỏa thuận với Tòa án; còn Tòa án phải chịu trách nhiệm về việc tống đạt không hợp lệ của Văn phòng Thừa phát lại, do đây là trách nhiệm của Tòa án đã được luật định. Trên thực tế, nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã bị hủy theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trong đó có các vi phạm liên quan đến tính hợp lệ của việc tống đạt các văn bản tố tụng[5]. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định ràng buộc cụ thể trách nhiệm pháp lý của Thừa phát lại trong trường hợp việc tống đạt không hợp lệ, làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Trong khi đó, ý nghĩa của việc “khai sinh” các tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam là nhằm xác định lại đúng mức độ, phạm vi can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp, giảm khối lượng công việc và gánh nặng chi phí của Nhà nước, tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan Nhà nước. Giá trị của việc giao Thừa phát lại thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng không chỉ đơn thuần là giảm tải công việc cho ngành Tòa án mà cao hơn, còn có tác động tôn vinh vị trí, vai trò của Tòa án, đồng thời, giúp “tách” cán bộ Tòa án khỏi các bên đương sự, bảo đảm sự khách quan trong giải quyết vụ việc. Tuy nhiên, giữa vị trí pháp lý, chức năng, vai trò của Thừa phát lại và trách nhiệm pháp lý của tổ chức này còn chưa tương xứng. Pháp luật cần có quy định cụ thể về trách nhiệm của Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị hủy do Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt không hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng hoặc nhẹ hơn là “chậm trễ” trong việc tống đạt.

Kết luận:

Mặc dù pháp luật chưa quy định rõ cơ sở pháp lý để đánh giá tính hợp lệ của việc tống đạt văn bản tố tụng dân sự nhưng từ thực tiễn xét xử, nghiên cứu cho thấy, tính hợp lệ của việc tống đạt dựa trên hai yếu tố cơ bản: căn cứ thực hiện việc tống đạt và trình tự, thủ tục tống đạt. Trường hợp tống đạt được thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, không dựa trên các căn cứ luật định có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình giải quyết vụ án, dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, không có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, trách nhiệm trước hết là ở cơ quan, người tiến hành tố tụng tại Tòa án. Tuy nhiên, trách nhiệm của Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại cũng cần được pháp luật quy định rõ ràng hơn, góp phần củng cố vị trí và giá trị pháp lý của chế định Thừa phát lại trong hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp của Việt Nam./.

Phan Duy Nhật

Học viên Lớp Đào tạo luật sư, Học viện Tư pháp - Cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Kim Giang, Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, tr. 51.

[2] Trước đây là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ.

[3] Lê Văn Quang, “Cần hướng dẫn thi hành quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5, 2018, tr. 55.

[4] Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 287/2018/QĐ-PT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[5] Bộ Tư pháp, “Điểm tin báo chí ngày 16/9 và sáng ngày 17/9/2014 - Thông tin liên quan đến công tác tư pháp”, https://moj.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/qt/thongtinbaochi/Lists/DiemTinBaoChi&ListId=f40803e2-3d26-43db-82e2-fefffe8e7709&SiteId=5d7ff17f-37bc-40e8-83bb-f20d380bacd0&ItemID=1624&SiteRootID=b71e67e4-9250-47a7-96d6-64e9cb69ccf3, truy cập ngày 22/4/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: