Thứ bảy 24/10/2026 16:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Căn cứ xử lý kỷ luật sa thải theo Bộ luật Lao động và một số vấn đề cần lưu ý

Sa thải là hình thức xử lý kỷ luật nghiêm khắc nhất mà người sử dụng lao động có thể áp dụng đối với người lao động. Bởi hệ quả pháp lý kỷ luật sa thải khác với các hình thức xử lý kỷ luật khác là quan hệ lao động sẽ chấm dứt, tác động trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Chính vì vậy, nhằm hạn chế tình trạng người sử dụng lao động lợi dụng hình thức kỷ luật này để chấm dứt quan hệ lao động khi không còn nhu cầu sử dụng người lao động, Bộ luật Lao động đã quy định cụ thể các căn cứ mà người sử dụng lao động được áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ thực tiễn vận dụng các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 cũng có một số vấn đề cần lưu ý nhất định.

1. Căn cứ sa thải theo pháp luật lao động Việt Nam

Xuất phát từ hệ quả pháp lý của việc sa thải là quan hệ lao động sẽ chấm dứt, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động sẽ mất nguồn nhân lực cho nhu cầu hoạt động của mình, còn người lao động bị mất việc làm, nguồn thu nhập, ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của chính người lao động bị sa thải. Khi người lao động vi phạm kỷ luật lao động ở mức nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người sử dụng lao động có thể áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Những trường hợp này được quy định tại Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019, theo đó, hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp các sau:

Thứ nhất, người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc.

Khoản 1 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019 đã liệt kê các hành vi cụ thể khi người lao động vi phạm thì người sử dụng lao động có thể áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải, đây là nhóm hành vi có thể gây thiệt hại về tài sản và uy tín của người sử dụng lao động, khi người lao động thực hiện những hành vi này không chỉ đơn thuần là ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị mà còn ảnh hưởng đến tập thể lao động tại đơn vị. Bên cạnh đó, nhóm hành vi này xuất phát từ ý thức kỷ luật tại nơi làm việc của người lao động nên chỉ cần người lao động thực hiện các hành vi được liệt kê thì người sử dụng lao động có thể xử lý kỷ luật sa thải mà không cần xem xét người lao động vi phạm ở mức độ nào, có hậu quả xảy ra hay không. Đối với trường hợp này, Bộ luật Lao động năm 2019 đã có sự thay đổi so với Bộ luật Lao động năm 2012. Theo đó, Bộ luật Lao động năm 2012 sử dụng cụm từ “trong phạm vi nơi làm việc” thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã sửa đổi thành “tại nơi làm việc”. Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 nơi làm việc có thể hiểu “là bất cứ địa điểm nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động”. Do vậy, sự thay đổi này về cơ bản chỉ là thay đổi về mặt câu từ.

Thứ hai, người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động.

Khác với quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, nhóm các hành vi này trong Bộ luật Lao động năm 2019 đã được tách ra mà không còn gộp chung với nhóm hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 125. Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung thêm hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc là căn cứ xử lý sa thải người lao động. Theo đó, căn cứ này được chia thành ba hành vi cụ thể như sau:

- Hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động. Khi xử lý kỷ luật sa thải trong trường hợp này, người sử dụng lao động phải xác định rõ trong nội quy lao động những hành vi nào được xem là hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, từ đó mới có cơ sở để kỷ luật sa thải người lao động. Việc xác định như thế nào là bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Bộ luật Lao động năm 2019 không quy định rõ, vì vậy, người sử dụng lao động có thể căn cứ vào quy định của pháp luật liên quan để xác định. Tuy nhiên cũng lưu ý, đối với bí mật kinh doanh[1] và các hành xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ[2], hiện nay đã được quy định cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ. Còn đối với bí mật công nghệ bao gồm các hành vi nào, trường hợp nào thì hiện nay pháp luật sở hữu trí tuệ cũng chưa có quy định cụ thể.

- Hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động. Đây là căn cứ xử lý kỷ luật cho tới thời điểm hiện nay vẫn là vấn đề còn “bối rối”. Theo đó “hành vi” ở đây được hiểu là những hành vi nào. Mức độ như thế nào là “thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng” chưa có văn bản giải thích rõ ràng. Theo quan điểm của tác giả, “hành vi” ở đây là những hành vi do người sử dụng lao động quy định trong nội quy lao động nhưng phải bảo đảm là hành vi vi phạm kỷ luật lao động (tức phải là những hành vi liên quan đến công việc và trong thời gian làm việc). Bên cạnh đó, có thể hiểu đây là căn cứ mà pháp luật tạo cơ chế mở cho người sử dụng lao động nên định mức bao nhiêu được xem là thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng sẽ do người sử dụng lao động quy định trong nội quy lao động tùy vào tình hình lao động, sản xuất của đơn vị mình. Tuy nhiên, việc quy định như vậy cũng thể hiện sự hạn chế, cụ thể: Nếu như vốn, tài sản của đơn vị lớn nhưng thiệt hại mà người sử dụng lao động quy định trong nội quy lao động rất thấp thì có đảm bảo tính phù hợp không? Hay trường hợp người sử dụng lao động không quy định trong nội quy lao động mức độ thiệt hại thì khi có tranh chấp xảy ra cơ quan xét xử phải xác định như thế nào? Do đó, theo quan điểm của tác giả đây cũng là vấn đề cần có những quy định cụ thể của pháp luật.

- Hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Đây là một trong những điểm mới thể hiện sự tiến bộ và nhân văn của Bộ luật Lao động năm 2019. Việc bổ sung quy định này nhằm tăng tính hiệu quả đối với pháp luật và bảo đảm sự thống nhất giữa các điều luật. Theo đó, điểm mới trong các nội dung chủ yếu của nội quy lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc[3]. Người sử dụng lao động có thể xác định trong nội quy lao động hành vi quấy rối tình dục nào sẽ bị sa thải và căn cứ vào đó để xử lý kỷ luật đối với người lao động[4]. Việc Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép người sử dụng lao động sa thải người lao động khi người lao động có hành vi quấy rối tình dục đã khắc phục được bất cập trong quy định Bộ luật Lao động năm 2012, đó là chưa quy định chế tài cho hành vi này nên không có tính răn đe[5]. Bên cạnh đó, việc bổ sung thêm căn cứ về hành vi quấy rối tình dục của người lao động làm căn cứ xử lý kỷ luật sa thải là hoàn toàn phù hợp, nhằm đem lại môi trường làm việc thân thiện, lành mạnh. Tuy nhiên, cũng cần cân nhắc đến việc xác định thế nào là hành vi quấy rối tình dục, mức độ tác động của hành vi tương ứng với hình thức kỷ luật cao nhất này[6].

Thứ ba, người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Để xử lý kỷ luật sa thải trong trường hợp này, người sử dụng lao động phải xác định được người lao động có dấu hiệu “tái phạm”. Theo đó, “tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này”. Thời hạn chấp hành hình thức kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương tối đa là 06 tháng kể từ ngày bị xử lý và kỷ luật cách chức tối đa là 03 năm kể từ ngày bị xử lý[7]. Chính vì vậy, trong khoảng thời gian chấp hành một trong hai hình thức kỷ luật này (06 tháng hoặc 03 năm) mà người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật thì sẽ bị coi là tái phạm và người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷ luật sa thải.

Điểm bất cập trong Bộ luật Lao động năm 2012 và chưa được sửa đổi tại Bộ luật Lao động năm 2019 đó là vấn đề xác định dấu hiệu “tái phạm”. Trong quá trình góp ý dự thảo xây dựng Bộ luật Lao động năm 2019, đã có nhiều chuyên gia nhận định: “Nếu quy định tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý… như vậy sẽ khó khăn cho người sử dụng lao động nếu người lao động không lặp lại đúng hành vi đó mà lại có hành vi vi phạm khác ở mức xử lý tương đương”[8]. Tác giả đồng tình với quan điểm này, bởi lẽ mục đích cốt yếu của kỷ luật lao động là giáo dục, ý thức chấp hành kỷ luật kỷ cương của người lao động, giúp người lao động hiểu và khắc phục những sai lầm mà mình phạm phải khi chưa đến mức bị “loại bỏ” khỏi đơn vị sử dụng lao động, nhưng người lao động lại không nhận thức, sửa chữa mà tiếp tục vi phạm kỷ luật lao động. Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm kỷ luật lao động thông thường xảy ra với nhiều hành vi khác nhau khó có thể lặp lại hành vi đã vi phạm trước đó. Cho nên, việc xác định dấu hiệu “tái phạm” như Bộ luật Lao động năm 2019 gây ra bất lợi cho người sử dụng lao động, hạn chế khả năng “đào thải” những người lao động “vô kỷ luật có hệ thống” ra khỏi đơn vị của mình.

Thứ tư, người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Để xử lý kỷ luật sa thải người lao động trong trường hợp này cần phải xác định đủ hai điều kiện: (i) Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày; (ii) Không có lý do chính đáng. Không có lý do chính đáng là nghỉ việc vì những lý do không thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 4 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019.

Kỷ luật sa thải là hình thức xử lý kỷ luật nghiêm khắc nhất trong các hình thức kỷ luật lao động và khi áp dụng hình thức kỷ luật này tác động, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người lao động. Chính vì vậy, để hạn chế người sử dụng lao động làm dụng quyền sa thải người lao động khi không còn nhu cầu sử dụng, không chỉ pháp luật Việt Nam mà đa phần các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến hình thức xử lý kỷ luật sa thải, đặc biệt là quy định cụ thể căn cứ, trường hợp mà người sử dụng lao động có thể xử lý kỷ luật người lao động với hình thức sa thải[9]. Bên cạnh đó, một số quốc gia mặc dù không quy định cụ thể các căn cứ để sa thải người lao động nhưng để có thể sa thải người lao động thì người sử dụng lao động cần phải chứng minh được lý do và lý do đó phải thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực xã hội[10].

2. Một số lưu ý về căn cứ sa thải theo pháp luật lao động Việt Nam

Thứ nhất, người lao động có hành vi sử dụng ma túy tại nơi làm việc. Căn cứ này sẽ dễ dàng áp dụng và không có gì tranh cãi khi người lao động thực hiện hành vi sử dụng ma túy tại nơi làm việc. Tuy nhiên, thực tế phổ biến trường hợp người lao động sử dụng ma túy trước đó, nhưng khi đến nơi làm việc thì vì một số lý do đã bị phát hiện là dương tính với chất ma túy. Trong trường hợp này có thể áp dụng căn cứ tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật Lao động để sa thải người lao động hay không, hiện nay vẫn là vấn đề chưa rõ ràng. Để thực hiện quy định này, tác giả cho rằng nếu trong trường hợp người lao động sử dụng chất ma túy trước khi đến nơi làm việc nhưng sau đó đến nơi làm việc thì bị phát hiện đối với trường hợp này có thể chia thành hai trường hợp: (i) Khi đến nơi làm việc phát hiện người lao động dương tính với ma túy nhưng hiệu suất công việc không ảnh hưởng đến kết quả lao động thì người sử dụng lao động không áp dụng căn cứ này để sa thải người lao động; (ii) Nếu khi đến nơi làm việc phát hiện người lao động dương tính với ma túy và việc sử dụng ma túy đã làm ảnh hưởng đến hoạt động lao động bình thường của người lao động hoặc gây ra thiệt hại cho đơn vị người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động có thể áp dụng căn cứ này.

Hướng xử lý này cũng đã được thừa nhận tại Đức, theo đó, trong một bản án[11]: Bị đơn điều hành một công ty vận tải, nguyên đơn sinh năm 1984, được bị đơn thuê làm tài xế xe tải vào ngày 05/11/2013. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động nguyên đơn đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng do uống amphetamine và methamphetamine ngày 11/10/2014 và vẫn làm tài xế xe tải từ ngày 13/10/2014. Do đó, bị đơn đã quyết định sa thải nguyên đơn. Không đồng ý với quyết định sa thải, nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình xét xử Tòa án đã nhận định: Nguyên đơn đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, vi phạm đó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn ảnh hướng đến những người tham gia giao thông khác và hàng hóa của bị đơn ít nhất có khả năng gặp nguy hiểm.

Thứ hai, đối với hành vi tiết lộ bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nội quy lao động của đơn vị nên quy định rõ như thế nào là “bí mật kinh doanh”, “bí mật công nghệ”, “xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”, đặc biệt đối với hành vi “xâm phạm bí mật công nghệ”. Bởi lẽ, như đã phân tích, hiện nay Bộ luật Lao động không giải thích rõ đối với vấn đề này nên phải viện dẫn đến pháp luật liên quan để giải thích đối với vấn đề này, cụ thể là Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ cũng chỉ dừng lại ở việc giải thích bí mật kinh doanh và quy định các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Còn như thế nào là “bí mật công nghệ” là vấn đề còn bỏ ngỏ. Chính vì vậy, để bảo vệ tốt quyền lợi của đơn vị mình khi xây dựng và ban hành nội quy lao động người sử dụng lao động nên có quy định giải thích “bí mật công nghệ” bao gồm những vấn đề nào nhằm đảm bảo khách quan và minh bạch, không phát sinh tranh chấp khi áp dụng căn cứ này để xử lý kỷ luật sa thải người lao động. Hay nói cách khác, quy định như vậy góp phần đảm bảo cho người sử dụng lao động trong việc xây dựng các quy định liên quan trong nội quy lao động, bảo đảm tính phù hợp và tương thích với đơn vị của mình[12].

Thứ ba, đối với hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng. Cũng như nhóm hành vi nêu trên, Bộ luật Lao động và văn bản hướng dẫn thi hành không quy định cụ thể thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng bao gồm những thiệt hại nào, mức độ bao nhiêu. Vì vậy, căn cứ này được đánh giá là quy định mang tính mở, cho phép người sử dụng lao động quy định cụ thể định mức thiệt hại và các hành cụ thể phù hợp với tình hình của đơn vị mình, từ đó làm cơ sở để sa thải người lao động khi họ có hành vi sai phạm. Tuy nhiên, để tránh trường hợp người sử dụng lao động lạm dụng căn cứ này để sa thải người lao động, pháp luật cũng cần có hướng dẫn người sử dụng lao động ban hành nội dung này vào nội quy lao động của đơn vị phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị trên cơ sở vốn điều lệ hay tài sản của doanh nghiệp.

Thứ tư, xác định dấu hiệu “tái phạm”, khoản 3 Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 xác định: “Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này”. Theo đó, tác giả cho rằng việc Bộ luật Lao động năm 2019 xác định dấu hiệu tái phạm như hiện nay chưa thực sự linh hoạt, đồng thời, chưa thể hiện được mục đích của việc quy định “tái phạm” là một trong những căn cứ sa thải người lao động. Do đó, đối với vấn đề này, tác giả cho rằng Bộ luật Lao động nên theo hướng như “tái phạm là trường hợp người lao động tiếp tục có hành vi vi phạm đến mức phải áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật lao động mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này”./.

Trần Bảo Khanh

Sinh viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2010, 2019, 2022).

[2] Điều 28, Điều 35, Điều 126, Điều 127, Điều 129 và 188 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2010, 2019, 2022).

[3] Điểm d khoản 1 Điều 118 Bộ luật Lao động năm 2019.

[4] Xem Điều 84, 85 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

[5] Trần Thị Thuý Lâm (2020) Bình luận một số điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về kỷ luật lao động, Tạp chí Nghề Luật, số 3/2020, tr. 49.

[6] Hoàng Thị Minh Tâm, Nguyễn Thị Hoài Trâm (2021), Kỷ luật lao động theo dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi và một số kiến nghị, Kỷ yếu hội thảo Góp ý Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 275.

[7] Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2019.

[8] Lường Minh Sơn (2019), Một số góp ý về chế định kỷ luật lao động trong dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), Kỷ yếu hội thảo Góp ý cho Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 267.

[9] Ví dụ tai Điều 282 Bộ luật Lao động Philippin. Nguyên văn: “Art. 282. Termination by employer. An employer may terminate an employment for any of the following causes: (i) Serious misconduct or willful disobedience by the employee of the lawful orders of his employer or representative in connection with his work; (ii) Gross and habitual neglect by the employee of his duties; (iii) Fraud or willful breach by the employee of the trust reposed in him by his employer or duly authorized representative; (iv) Commission of a crime or offense by the employee against the person of his employer or any immediate member of his family or his duly authorized representatives; and (v) Other causes analogous to the foregoing.

[10] Chẳng hạn Điều 16 của Luật Hợp đồng lao động Nhật Bản quy định rằng “Việc sa thải, nếu thiếu căn cứ khách quan, hợp lý và không phù hợp với các chuẩn mực được xã hội chấp nhận, là vô hiệu vì bị coi là lạm quyền” hay khoản 2 § 1 Đạo luật về Bảo vệ chống sa thải Đức “Việc chấm dứt hợp đồng là không chính đáng về mặt xã hội nếu không phải vì lý do nằm ở con người hoặc hành vi của nhân viên, hoặc do các yêu cầu hoạt động khẩn cấp khiến nhân viên không thể tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp”.

[11] Xem phán quyết: BAG, Ur­teil vom 20.10.2016, 6 AZR 471/15.

[12] Đào Mộng Điệp (Chủ biên) (2021), Bình luận khoa học một số nội dung cơ bản của Bộ luật Lao động năm 2019, Nxb. Công an nhân dân, tr. 267.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: