Thứ sáu 01/05/2026 18:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần nghiên cứu, đổi mới cơ chế hoạt động của Thừa phát lại ở nước ta hiện nay

Trên thực tế, hoạt động của Thừa phát lại đã góp phần quan trọng trong việc giảm bớt công việc của các cơ quan thi hành án dân sự, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện nay về Thừa phát lại vẫn đang tồn tại một số hạn chế, bất cập. Vì vậy, cần có sự nghiên cứu nhằm đổi mới cơ chế hoạt động của Thừa phát lại.


1. Đặt vấn đề

Một trong những nội dung quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp là đẩy mạnh công tác xã hội hóa thi hành án dân sự. Chế định Thừa phát lại được khôi phục với kỳ vọng tạo sự chuyển biến trong công tác thi hành án dân sự. Trên thực tế, hoạt động của Thừa phát lại đã góp phần quan trọng, trong việc giảm bớt án tồn đọng và số lượng công việc của các cơ quan thi hành án dân sự. Từ đó, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện nay về Thừa phát lại vẫn đang tồn tại một số hạn chế, bất cập. Chính vì vậy, hoạt động của Thừa phát lại vẫn chưa thật sự hiệu quả.

Hiện nay, nhằm tạo điều kiện cho mọi cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động thi hành án dân sự, công tác xã hội hóa thi hành án dân sự vẫn đang diễn ra rất mạnh mẽ. Trong đó, để cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa thi hành án dân sự của Đảng và Nhà nước, chế định pháp luật về Thừa phát lại (thừa hành viên) đã được khôi phục. Các văn phòng Thừa phát lại được thành lập tại một số địa bàn và ngày càng mở rộng trên khắp cả nước, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thi hành án dân sự. Đồng thời, góp phần nhanh chóng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động hiện nay của Thừa phát lại vẫn đang gặp phải không ít khó khăn, hạn chế. Bởi vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động hiện nay của Thừa phát lại góp phần vào việc xây dựng, hoàn thiện luật về Thừa phát lại trong thời gian tới.

2. Bản chất và vai trò của Thừa phát lại trong thi hành án dân sự

Chế định Thừa phát lại đã hình thành, tồn tại ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1950 và sau đó còn tiếp tục tồn tại dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975)[1]. Tại Việt Nam, Thừa phát lại đã từng tồn tại dưới nhiều tên gọi như: “Chưởng Tòa (miền Bắc); Mõ Tòa (miền Trung) và Thừa phát lại (miền Nam)”[2]. Trong đó, “Thừa phát lại còn gọi lầm là Trưởng Tòa, tuy nhiên, đáng lẽ phải nói là Chưởng Tòa: chưởng là giữ, Huis là cửa, Huissier - người gác cửa, Chưởng Tòa - viên chức giữ cửa phòng xử”[3]. Xét về mặt lịch sử thì Thừa phát lại không xa lạ gì với người dân Việt Nam. Bởi vậy, năm 2009, Nhà nước chủ trương khôi phục lại chế định Thừa phát lại và tiến hành thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh[4]. Sau đó, năm 2012, tiếp tục thực hiện thí điểm và mở rộng việc thực hiện chế định Thừa phát lại ra một số tỉnh, thành phố trên cả nước[5]. Đến cuối năm 2015, Quốc hội khóa XIII chính thức thông qua Nghị quyết về việc chấm dứt thực hiện thí điểm và cho phép thực hiện chế định Thừa phát lại trên phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016[6].

Thừa phát lại là người đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật để có thể hành nghề trong một số công việc thuộc lĩnh vực thi hành án dân sự. Thừa phát lại khá giống với luật sư khi mặc dù hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến pháp luật nhưng lại không thuộc biên chế của Nhà nước và được khách hàng lựa chọn thường dựa trên sự tín nhiệm, đồng thời chịu trách nhiệm trước khách hàng. Muốn được thực hiện các quyền hạn của mình, Thừa phát lại phải làm việc trong các văn phòng Thừa phát lại. Về bản chất thì tổ chức Thừa phát lại là tổ chức tư nhân, được thành lập theo quy định của pháp luật, để thực hiện một số công việc, nhiệm vụ về thi hành án dân sự. Hay nói cách khác, Thừa phát lại là tổ chức thi hành án dân sự tư nhân. Thừa phát lại là tổ chức xã hội - nghề nghiệp và hoạt động Thừa phát lại là hoạt động dịch vụ. Một tổ chức Thừa phát lại phải có các Thừa phát lại. Tổ chức Thừa phát lại thực hiện một số công việc, nhiệm vụ liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự trên cơ sở các quy định của pháp luật và phải chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình thực hiện các hoạt động thi hành án dân sự, Thừa phát lại vừa là đại diện cho Nhà nước thực hiện việc thi hành án dân sự nhưng cũng vừa đại diện cho chính đương sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Ngoài ra, chính vì tổ chức Thừa phát lại không phải là cơ quan, đơn vị thuộc biên chế Nhà nước, nên các Thừa phát lại đều không phải là công chức tư pháp, không hưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước và hoạt động cũng không theo chế độ công vụ. Còn pháp luật thời kỳ trước tại Việt Nam quy định, “Thừa phát lại (huissier) thuộc một nghề tư pháp gọi là công lại (officiers ministériels) nghĩa là những nhân viên có độc quyền hành một nghề do chính phủ tổ chức và kiểm soát để giúp công lý, mở cho các người đủ điều kiện và năng lực chuyên môn nhưng không có quyền từ chối trợ hiệp mỗi khi dân chúng cần đến”[7]. Hiện nay, Thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Đồng thời, Thừa phát lại hành nghề thông qua văn phòng Thừa phát lại. Văn phòng Thừa phát lại do Thừa phát lại thành lập. Theo quy định hiện nay, văn phòng Thừa phát lại do một Thừa phát lại thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; văn phòng Thừa phát lại do hai Thừa phát lại trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Trưởng văn phòng Thừa phát lại phải là Thừa phát lại[8].

Về vai trò của Thừa phát lại thì có thể thấy rằng, “hoạt động của tổ chức Thừa phát lại góp phần giảm bớt công việc của các cơ quan thi hành án dân sự và án tồn đọng từ đó, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức thi hành án dân sự”[9]. Với sự ra đời của Thừa phát lại, người dân có quyền lựa chọn dịch vụ thi hành án phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc thực thi bản án, quyết định của Tòa án một cách nhanh chóng, chính xác và kịp thời. Thừa phát lại được kỳ vọng như một lực lượng mới, có thể sẻ chia trách nhiệm với hệ thống cơ quan thi hành án hiện hành, gánh vác một phần trách nhiệm về tổ chức thi hành án[10]. Trên thực tế, thi hành án dân sự là một quá trình khó khăn, phức tạp bởi thường xuyên gặp phải sự chống đối, cản trở của người phải thi hành án cũng như từ phía gia đình của người phải thi hành án. Ngoài ra, các yếu tố như người phải thi hành án không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ, đều gây khó khăn và làm kéo dài quá trình tổ chức thi hành án của các cơ quan thi hành án dân sự. Vì vậy, nhiều vụ việc thi hành án phải chờ đợi rất lâu mới có thể thi hành xong. Mặt khác, số lượng các tranh chấp phát sinh trong đời sống kinh tế, xã hội, ngày càng có xu hướng gia tăng, nên từ đó, nhu cầu thi hành án lại càng nặng nề hơn trước. Đối với cơ quan thi hành án dân sự, mặc dù các cơ quan này đã rất cố gắng nhưng cũng không thể đáp ứng kịp với yêu cầu, đòi hỏi của các đương sự có nhu cầu thi hành án. Việc cho phép Thừa phát lại tham gia một số hoạt động của thi hành án dân sự, có thể góp phần giúp cho quá trình thực hiện các bản án, quyết định được nhanh chóng và thuận tiện hơn. Thừa phát lại hưởng phí dịch vụ từ phía khách hàng, nên đòi hỏi phải chuyên tâm và luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Từ đó, quyền và lợi ích của khách hàng luôn được nhanh chóng thực hiện. Mặt khác, Thừa phát lại cũng góp phần giảm tải áp lực, công việc cho các cơ quan thi hành án dân sự. Bởi vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay thì Thừa phát lại được coi là một nội dung quan trọng[11].

3. Hoạt động của Thừa phát lại

Nhiệm vụ chính của Thừa phát lại là tổ chức thi hành án dân sự. Bên cạnh quyền hạn này và khác với các cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước, Thừa phát lại còn được pháp luật cho phép hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể của công tác thi hành án dân sự. Theo đó, hiện nay, Thừa phát lại được thực hiện các quyền hạn như: Tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự và của Tòa án; lập vi bằng; xác minh điều kiện thi hành án dân sự; và trực tiếp thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự.

Đối với quyền hạn tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự và của Tòa án: Về bản chất, tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự và của Tòa án, do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật. Văn phòng Thừa phát lại được quyền thỏa thuận để tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự và của Tòa án trên địa bàn nơi đặt văn phòng Thừa phát lại. Các quy định về tống đạt được quy định từ Điều 21 đến Điều 24 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 và các khoản 6, 7 của Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013. Trên thực tế, so với các hoạt động còn lại thì tống đạt và lập vi bằng, là hai hoạt động chủ yếu hiện nay của các văn phòng Thừa phát lại. Theo số liệu thống kê các văn phòng Thừa phát lại trên cả nước, “tính đến ngày 30/9/2015, trong các mảng công việc, hoạt động tống đạt chiếm tỷ trọng lớn với 939.544 văn bản được tống đạt và doanh thu gần 70 tỷ đồng (chiếm 51 % tổng doanh thu); kế đến là hoạt động lập vi bằng với 42.911 vi bằng được lập và doanh thu gần 59 tỷ đồng (chiếm 43 % tổng doanh thu). Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án chiếm tỷ trọng nhỏ với 885 việc xác minh và 378 vụ việc trực tiếp tổ chức thi hành án, doanh thu của 02 loại công việc trên mới đạt gần 8 tỷ đồng (chiếm 6% tổng doanh thu)”[12]. Hoạt động tống đạt được giao cho Thư ký Thừa phát lại tiến hành. Tuy nhiên, khó khăn hiện nay trong công tác tống đạt cho thấy, “thủ tục tống đạt đối với Tòa án vẫn chưa có sự thống nhất về việc tống đạt, mỗi Tòa có một yêu cầu khác nhau cho cùng một trường hợp tống đạt, gây khó khăn rất nhiều cho Văn phòng Thừa phát lại khi thực hiện”[13].

Đối với quyền hạn lập vi bằng của Thừa phát lại: Đây là hoạt động “độc quyền” của riêng Thừa phát lại. Bởi hiện nay, pháp luật quy định chỉ Thừa phát lại mới có quyền lập vi bằng. Về bản chất thì vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Hay nói cách khác, vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Vì vậy, nội dung vi bằng thể hiện sự phong phú trên khá nhiều lĩnh vực khác nhau. Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ trường hợp các việc mà Thừa phát lại không được làm, các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, xâm phạm đời tư, đạo đức xã hội và các trường hợp pháp luật cấm; hoặc các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng, thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định. Vi bằng sau khi được lập phải được đăng ký tại Sở Tư pháp thì mới được coi là hợp lệ. Các quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại được quy định từ Điều 25 đến Điều 29 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và các khoản 8, 9 của Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP. Trên thực tế, lập vi bằng là hoạt động chính và là nguồn thu chủ yếu của văn phòng Thừa phát lại. Tuy nhiên, khó khăn trong công tác lập vi bằng hiện nay chính là việc một số Sở Tư pháp “căn cứ vào Công văn số 1128/BTP-TCTHADS ngày 18/4/2014 của Bộ Tư pháp (về việc tổ chức thực hiện thí điểm Thừa phát lại) từ chối đăng ký các vi bằng có nội dung ghi nhận sự kiện các bên ký tên vào văn bản (hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng, hoặc các tờ khai, cam kết, xác nhận, trình bày…) với lý do là thuộc lĩnh vực công chứng, chứng thực. Thực chất, các văn phòng Thừa phát lại chỉ lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi, chứ không chứng nhận nội dung hợp đồng, giao dịch hay chứng thực chữ ký. Việc từ chối đăng ký một số vi bằng nêu trên, gây khó khăn rất nhiều cho các văn phòng Thừa phát lại trong quá trình hoạt động”[14].

Đối với hoạt động xác minh điều kiện thi hành án dân sự: Bản chất của xác minh điều kiện thi hành án chính là tìm kiếm thông tin liên quan đến điều kiện tài sản của đương sự. Thừa phát lại tiến hành xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của khách hàng. Bởi trong thi hành án dân sự, về nguyên tắc, người được thi hành án phải cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự các thông tin về điều kiện tài sản của người phải thi hành án. Khi xác minh điều kiện thi hành án, Thừa phát lại có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin tương tự thẩm quyền của chấp hành viên. Hiện nay, các quy định về xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại được quy định từ Điều 30 đến Điều 33 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và các khoản 10, 11 của Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, công tác xác minh điều kiện thi hành án do Thừa phát lại tiến hành hiện đang gặp khá nhiều khó khăn, như có trường hợp, cơ quan thuế, các tổ chức tín dụng và một số cơ quan đăng ký tài sản từ chối cung cấp thông tin phục vụ cho việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại. Các cơ quan này đưa ra lý do, luật chuyên ngành không quy định Thừa phát lại là đối tượng được cung cấp thông tin. Ngoài ra, cũng có khá nhiều trường hợp, các cơ quan này khi cung cấp thông tin thì thường cung cấp thông tin rất chậm trễ (hay xảy ra tại một số văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất). Hoặc có trường hợp, “nhiều cơ quan, tổ chức không hợp tác với Thừa phát lại trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án vì cho rằng Thừa phát lại không phải là cơ quan nhà nước”[15].

Đối với quyền hạn trực tiếp thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự: Căn cứ Điều 34 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và khoản 12 Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP thì Thừa phát lại được quyền trực tiếp tổ chức thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự trong một số trường hợp do pháp luật quy định. Với quy định này, Thừa phát lại không được tổ chức thi hành các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án. Để thi hành án thì Thừa phát lại phải có những quyền hạn giống chấp hành viên. Mặc dù vậy, do đây là hoạt động phức tạp, dễ phát sinh nhiều hậu quả nghiêm trọng, nên pháp luật quy định Thừa phát lại chỉ có một số quyền hạn như của chấp hành viên[16]. Tuy nhiên, so với chấp hành viên thì một số quyền hạn mà Thừa phát lại không có gồm: Không được sử dụng các công cụ, hỗ trợ khi thi hành án, phải thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và Thừa phát lại không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra, trong quá trình tổ chức thi hành những vụ việc cần huy động lực lượng tham gia cưỡng chế thì văn phòng Thừa phát lại phải lập kế hoạch cưỡng chế và gửi đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, để Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự xem xét, ra quyết định cưỡng chế thi hành án và phê duyệt kế hoạch cưỡng chế thi hành án[17]. Trên thực tế, vấn đề này hiện đang gây khá nhiều khó khăn cho cả cơ quan thi hành án dân sự và Thừa phát lại. Bởi vẫn chưa có quy định pháp luật điều chỉnh về cơ chế chịu trách nhiệm hay hậu quả phát sinh trong quá trình giao Thừa phát lại thực hiện nhiệm vụ cưỡng chế huy động lực lượng. Vấn đề này đã từng được báo chí phản ánh trong thời gian qua nhưng đến nay, vẫn chưa có quy định pháp luật điều chỉnh[18].

4. Một vài kiến nghị

Trước đây, đương sự chỉ có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành các bản án, quyết định thì nay, đương sự có thêm lựa chọn khi có thể yêu cầu văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án[19]. Có thể nói, hoạt động của tổ chức Thừa phát lại, đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Đồng thời, đây cũng là lực lượng trợ giúp các cơ quan thi hành án dân sự, trong quá trình tổ chức các hoạt động thi hành án dân sự. Tuy nhiên, hoạt động thi hành án dân sự của Thừa phát lại hiện đang gặp không ít khó khăn, hạn chế. Một phần xuất phát từ các quy định của pháp luật về Thừa phát lại vẫn chưa thực sự đầy đủ, hoàn thiện. Chính vì vậy, để hoạt động thi hành án dân sự của Thừa phát lại được hiệu quả hơn, cần thiết xem xét các giải pháp sau:

Thứ nhất, đối với công tác tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng của Thừa phát lại: Sau một thời gian thực hiện cho thấy, vai trò của Thừa phát lại trong tổ chức thi hành các bản án, quyết định khá mờ nhạt. Trên thực tế, quá trình tổ chức thi hành án thường rất khó khăn, phức tạp và nhiều khi gặp sự chống đối quyết liệt của chủ thể phải thi hành án. Để có thể thi hành được thì trong nhiều vụ việc, buộc Thừa phát lại phải tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng. Tuy nhiên, trong trường hợp này thì pháp luật quy định văn phòng Thừa phát lại phải lập kế hoạch và gửi đến Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự để xem xét, ra quyết định cưỡng chế thi hành án và phê duyệt kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Nói cách khác, Thừa phát lại chưa có quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành án. Đây lại chính là vấn đề phát sinh vướng mắc, bởi hiện chưa có quy định pháp luật nào liên quan đến vấn đề giải quyết hậu quả phát sinh hay cơ chế chịu trách nhiệm khi Thừa phát lại thực hiện tổ chức thi hành án sử dụng lực lượng tham gia cưỡng chế. Bởi văn phòng Thừa phát lại bản chất là thi hành án dân sự mang tính tư nhân. Nên nếu phát sinh hậu quả khi tổ chức cưỡng chế thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có phải chịu trách nhiệm cùng với Thừa phát lại hay không? Vì chính cơ quan thi hành án dân sự lại là nơi phê duyệt kế hoạch cưỡng chế thi hành án của Thừa phát lại. Bởi vậy, trên thực tế, cơ quan thi hành án dân sự thường khá e ngại khi quyết định phê duyệt kế hoạch cưỡng chế thi hành án để cho phép Thừa phát lại đứng ra tổ chức thi hành. Đây là sự khó khăn, bất cập, rào cản trong công tác tổ chức thi hành án có sử dụng lực lượng tham gia cưỡng chế của Thừa phát lại.

Trước đây, có quan điểm cho rằng, để thực hiện triệt để chủ trương xã hội hóa thi hành án mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, đồng thời tạo sự bình đẳng giữa chấp hành viên và Thừa phát lại và bảo đảm cho hoạt động của Thừa phát lại có hiệu quả thì Thừa phát lại cần phải có đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn giống như chấp hành viên, kể cả việc ra quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự[20]. Mặt khác, Thừa phát lại cũng giống như luật sư vì đều là các hoạt động độc lập, hành nghề tự do và tự chịu trách nhiệm nên họ có thể tự mình đảm nhiệm công việc tham gia. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, để Thừa phát lại thực hiện tốt chức năng tổ chức thi hành án trong trường hợp cưỡng chế huy động lực lượng thì cần thiết phải xây dựng những quy định pháp lý riêng cho Thừa phát lại. Trong quá trình xây dựng luật về Thừa phát lại thì cần thiết nghiên cứu quy định theo hướng cho phép văn phòng Thừa phát lại tự tổ chức thi hành án và tự huy động lực lượng tham gia cưỡng chế. Theo đó, trưởng văn phòng Thừa phát lại có quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành án và nếu phát sinh hậu quả thì trưởng văn phòng Thừa phát lại và Thừa phát lại chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án sẽ phải cùng chịu trách nhiệm. Có như vậy, hoạt động tổ chức thi hành án dân sự của Thừa phát lại mới đơn giản và nhanh chóng được thực hiện. Qua đó, kịp thời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự. Đồng thời, còn góp phần “xóa bỏ sự lệ thuộc của văn phòng Thừa phát lại đối với cơ quan thi hành án dân sự”[21].

Thứ hai, đối với công tác ủy thác giữa các văn phòng Thừa phát lại. Hiện nay, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, chỉ quy định ủy thác thi hành án giữa các cơ quan thi hành án dân sự với nhau[22]. Đồng thời, các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của Thừa phát lại hiện nay, cũng chưa có quy định về ủy thác giữa các văn phòng Thừa phát lại. Điều này gây khá nhiều khó khăn cho các văn phòng Thừa phát lại. Bởi trên thực tế, nhiều trường hợp, các văn phòng Thừa phát lại cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, để thực hiện được vụ việc đang tiến hành thi hành án. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, để tổ chức tốt các hoạt động thi hành án dân sự của văn phòng Thừa phát lại trên khắp cả nước thì về lâu dài, nên xây dựng quy định về cơ chế ủy thác giữa các văn phòng Thừa phát lại với nhau trên cơ sở thỏa thuận, hợp tác giữa các văn phòng này. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả thi hành án của Thừa phát lại và cũng đồng thời giảm bớt một phần việc cho các cơ quan thi hành án dân sự thì cần có cơ chế ủy thác thi hành án từ cơ quan thi hành án dân sự cho văn phòng Thừa phát lại hoặc ngược lại. Cơ sở của việc ủy thác có thể dựa trên yêu cầu của người được thi hành án hoặc theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự. Thiết nghĩ, với xu hướng phát triển của các văn phòng Thừa phát lại trong thời gian tới thì việc quy định cơ chế ủy thác càng trở nên cấp bách và quan trọng.

TS. Nguyễn Vinh Hưng

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Học viện Tư pháp (2010), Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự (phần chung), Nxb. Tư pháp, tr. 13.

[2]. Tổng cục Thi hành án dân sự (2010), Sổ tay Thừa phát lại, Nxb. Thời đại, tr. 18.

[3]. Nguyên Huy Đấu (1962), Luật Dân sự tố tụng Việt Nam, xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, tr. 213.

[4]. Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 19/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh”.

[5]. Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại.

[6]. Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về thực hiện chế định Thừa phát lại.

[7]. Nguyên Huy Đấu (1962), Luật Dân sự tố tụng Việt Nam, sđd, tr. 212.

[8]. Khoản 3 và khoản 4 Điều 1 Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 19/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh”.

[9]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 110.

[10]. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2016), Thực tiễn hoạt động Thừa phát lại quận Bình Thạnh, nguồn truy cập: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=124 , ngày 19/12/2016.

[11]. Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh (2015), Nghị quyết 107/2015/QH13 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại - một nội dung quan trọng trong Chiến lược cải cách tư pháp, nguồn truy cập: http://www.sotuphap.hochiminhcity.gov.vn/to-chuc-hanh-nghe-cc/Lists/Posts/Post.aspx?List=083510bd-ad39-4456-867f-91341c25f78f&ID=142 ,ngày 19/10/2016.

[12]. Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ về “Tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội”, tr. 9.

[13]. Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2016), Thực tiễn hoạt động Thừa phát lại quận Bình Thạnh,.

[14]. Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2016), Thực tiễn hoạt động Thừa phát lại quận Bình Thạnh.

[15]. Báo điện tử Pháp luật TP. Hồ Chí Minh (2015), Tăng quyền thi hành án cho Thừa phát lại, nguồn: http://plo.vn/phap-luat/tang-yen-thi-hanh-an-cho-thua-phat-lai-578498.html , truy cập 19/10/2016.

[16]. Điều 20 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[17]. Khoản 1 Điều 40 của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

[18]. Báo điện tử Pháp luật TP. Hồ Chí Minh (2015), Tăng quyền thi hành án cho Thừa phát lại.

[19]. Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

[20]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam, tr. 111- 112.

[21]. Phạm Phúc Thịnh (2014), Thừa phát lại trong thi hành án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 86.

[22]. Các điều 55, 56 và 57 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Điều 16 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: