Thứ năm 20/08/2026 03:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, từ đó, nêu ra những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về những vấn đề này.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, từ đó, nêu ra những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về những vấn đề này.

Abstract: Within the scope of this article, the author focuses on researching regulations on the protection of crime whistleblowers, witnesses, victims and other participants in legal proceedings, thereby highlighting difficulties, obstacles and makes proposals to improve the Criminal Procedure Code of 2015 on these issues.

1. Dẫn nhập

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS), bị hại, người làm chứng, người tố giác tội phạm là những người tham gia tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh sự thật khách quan của VAHS, vì lời khai của họ chính là nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án, nhiều vụ án nhanh chóng được điều tra làm rõ chính là nhờ nguồn chứng cứ này. Chính vì vậy, họ là những người dễ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản trong quá trình tham gia tố tụng. Hiện nay, một số nhóm tội danh xâm hại về tính mạng, sức khỏe, về ma túy, tham nhũng, những đối tượng thực hiện loại tội phạm này rất tinh vi, manh động, sẵn sàng xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người tố giác tội phạm, người bị hại, người làm chứng khi họ cung cấp thông tin cho cơ quan tố tụng.

Hiến pháp năm 2013 dành riêng Chương II quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chế độ chính trị… được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14); “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19); “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm…” (khoản 1 Điều 20); “Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo…” (khoản 3 Điều 30). Việc quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Chương II ngay sau chương chế độ chính trị cho thấy quan điểm của Đảng, Nhà nước đánh giá tầm quan trọng về quyền con người cần được pháp luật bảo vệ.

Trên cơ sở đánh giá thực tiễn thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về cơ chế bảo vệ người tham gia tố tụng và bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013, để bảo vệ người tham gia tố tụng khỏi sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại do họ tham gia tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã chính thức ghi nhận chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác.

2. Nội dung của chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Thứ nhất, đối tượng được bảo vệ

Theo quy định tại Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể sau được áp dụng biện pháp bảo vệ: Người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại.

Thứ hai, căn cứ đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ

Khi tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại thì họ có quyền yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ.

Hình thức có thể làm văn bản đề nghị hoặc trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông qua phương tiện liên lạc nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự[1].

Khi nhận được yêu cầu bảo vệ, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải đánh giá, xem xét yêu cầu của họ có tính xác thực và có căn cứ hay không, nếu xét thấy yêu cầu của họ không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải giải thích rõ lý do cho người đã yêu cầu, đề nghị biết.

Thứ ba, biện pháp bảo vệ

Các biện pháp bảo vệ được quy định tại Điều 486 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm: (i) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ; (ii) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; (iii) Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; (iv) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý; (v) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; (vi) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ

- Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ gồm: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.

- Người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm:

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ của Viện kiểm sát và Tòa án. Viện kiểm sát và Tòa án xét thấy cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì có văn bản đề nghị cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý vụ án trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ[2].

Thứ năm, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ

Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm các nội dung chính như: Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định; chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ; biện pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy cần thiết[3].

Thứ sáu, chấm dứt việc bảo vệ

Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.

Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo vệ phải được gửi cho người được bảo vệ, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ[4].

Thứ bảy, hồ sơ bảo vệ

Khi cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải lập hồ sơ bảo vệ riêng thể hiện quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ. Điều 490 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định hồ sơ bảo vệ gồm: (i) Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; biên bản về việc đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; (ii) Kết quả xác minh về hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ; (iii) Tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) và việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền; (iv) Văn bản yêu cầu, đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; (v) Quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; (vi) Tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ; (vii) Văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ; (viii) Báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ; (ix) Quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ; (x) Các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ.

3. Một số khó khăn, vướng mắc

Một là, về kỹ thuật lập pháp: Theo quy định tại Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác có chủ thể được bảo vệ là người tham gia tố tụng nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chủ thể được bảo vệ bao gồm cả người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại không phải là người tham gia tố tụng, chính điều này không bảo đảm sự đồng bộ giữa tên Chương với đối tượng bảo vệ trong Điều 484.

Hai là, Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 giới hạn các chủ thể được áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm: Người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Việc thực thi quy định này có một số khó khăn, vướng mắc sau:

(i) Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Như vậy, bị hại không chỉ là người mà còn có cả pháp nhân, do đó, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị thiệt hại khi bị đe dọa xâm hại đến tính mạng yêu cầu được bảo vệ thì không áp dụng được vì căn cứ áp dụng biện pháp bảo vệ được quy định tại khoản 1 Điều 486: “Khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại…”.

(ii) Theo quy định tại khoản 3 Điều 67, khoản 2 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền của người chứng kiến và người phiên dịch, người dịch thuật thì những chủ thể này cũng có quyền được đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa nhưng theo nội dung Điều 484 thì họ lại không nằm trong nhóm chủ thể được áp dụng các biện pháp bảo vệ, trong khi đó, tên Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xác định phạm vi áp dụng bao gồm người tham gia tố tụng khác[5].

Ba là, về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo vệ, Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ quy định chung nhất về thẩm quyền, biện pháp áp dụng biện pháp bảo vệ mà chưa có những hướng dẫn cụ thể về quy trình áp dụng như thế nào dẫn đến khó khăn khi áp dụng, cụ thể, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Vậy vấn đề đặt ra là, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra sẽ huy động lực lượng nào để áp dụng các biện pháp bảo vệ, vì rõ ràng, điều tra viên và cán bộ điều tra hiện nay rất thiếu không thể huy động để áp dụng biện pháp bảo vệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bốn là, về phạm vi chủ thể có thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ, theo quy định tại Điều 487 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chỉ người được bảo vệ mới có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, vậy trường hợp người dưới 18 tuổi thì người đại diện theo pháp luật của họ có quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ hay không? Trong khi đó, vai trò của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ trong quá trình tiến hành lấy lời khai hoặc đề nghị khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.

Năm là, một số nội dung khác trong Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn vướng mắc khi áp dụng như: Một số từ ngữ chưa có giải thích như các biện pháp bảo vệ khác được quy định tại điểm e Điều 486 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là những biện pháp nào hoặc khoản 4 Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy “cần thiết” hoặc thời hạn đánh giá căn cứ để có quyết định bảo vệ là bao lâu hiện nay chưa có quy định.

4. Kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, bổ sung diện những người cần được áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để bảo đảm tính logíc, chặt chẽ về hình thức và nội dung trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

“Điều 484. Người được bảo vệ

Những người được bảo vệ gồm:

a) Người tố giác tội phạm;

b) Người làm chứng;

c) Bị hại;

d) Người thân thích của người tố giác, báo tin về tội phạm, người làm chứng, bị hại, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật;

đ) Người chứng kiến;

e) Người phiên dịch, người dịch thuật”.

Thứ hai, liên Ngành Tư pháp Trung ương cần nghiên cứu xây dựng thông tư hướng dẫn áp dụng chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác. Theo đó, thông tư cần tập trung hướng dẫn những vấn đề cụ thể về các biện pháp bảo vệ như: Trình tự, thủ tục áp dụng, chủ thể có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ và mối quan hệ giữa các chủ thể này khi áp dụng các biện pháp bảo vệ như thế nào. Ngoài ra, trong thông tư cần quy định thống nhất về thời hạn gửi quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ cho người được bảo vệ và hướng dẫn cụ thể các cụm từ mang tính tùy nghi, trừu tượng như “cần thiết” tại Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ ba, trước khi có văn bản hướng dẫn áp dụng chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra cần chủ động nghiên cứu và phối hợp với Viện kiểm sát trong việc áp dụng một số biện pháp bảo vệ cụ thể như: Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật…

Thứ tư, bổ sung một số chủ thể theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được hưởng các biện pháp bảo vệ như người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật và người thân thích của họ để đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như tính phù hợp của các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng, quy định này làm cho nhân dân tin tưởng, tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả hơn. Đồng thời, xác định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng là phải bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

TS. Bùi Đức Hứa
Đại học Cảnh sát nhân dân



[1]. Khoản 1 Điều 487 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Điều 485 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Điều 489 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]. Phùng Văn Hoàng, Kiến nghị hoàn thiện quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, https://tapchitoaan.vn › bai-viet › xay-dung-phat-luat, truy cập ngày 01/10/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: