Thứ bảy 13/12/2025 13:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, từ đó, nêu ra những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về những vấn đề này.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, từ đó, nêu ra những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về những vấn đề này.

Abstract: Within the scope of this article, the author focuses on researching regulations on the protection of crime whistleblowers, witnesses, victims and other participants in legal proceedings, thereby highlighting difficulties, obstacles and makes proposals to improve the Criminal Procedure Code of 2015 on these issues.

1. Dẫn nhập

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (VAHS), bị hại, người làm chứng, người tố giác tội phạm là những người tham gia tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh sự thật khách quan của VAHS, vì lời khai của họ chính là nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án, nhiều vụ án nhanh chóng được điều tra làm rõ chính là nhờ nguồn chứng cứ này. Chính vì vậy, họ là những người dễ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản trong quá trình tham gia tố tụng. Hiện nay, một số nhóm tội danh xâm hại về tính mạng, sức khỏe, về ma túy, tham nhũng, những đối tượng thực hiện loại tội phạm này rất tinh vi, manh động, sẵn sàng xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người tố giác tội phạm, người bị hại, người làm chứng khi họ cung cấp thông tin cho cơ quan tố tụng.

Hiến pháp năm 2013 dành riêng Chương II quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chế độ chính trị… được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14); “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19); “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm…” (khoản 1 Điều 20); “Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo…” (khoản 3 Điều 30). Việc quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Chương II ngay sau chương chế độ chính trị cho thấy quan điểm của Đảng, Nhà nước đánh giá tầm quan trọng về quyền con người cần được pháp luật bảo vệ.

Trên cơ sở đánh giá thực tiễn thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về cơ chế bảo vệ người tham gia tố tụng và bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013, để bảo vệ người tham gia tố tụng khỏi sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại do họ tham gia tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã chính thức ghi nhận chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác.

2. Nội dung của chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Thứ nhất, đối tượng được bảo vệ

Theo quy định tại Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể sau được áp dụng biện pháp bảo vệ: Người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại.

Thứ hai, căn cứ đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ

Khi tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại thì họ có quyền yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ.

Hình thức có thể làm văn bản đề nghị hoặc trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông qua phương tiện liên lạc nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự[1].

Khi nhận được yêu cầu bảo vệ, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải đánh giá, xem xét yêu cầu của họ có tính xác thực và có căn cứ hay không, nếu xét thấy yêu cầu của họ không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải giải thích rõ lý do cho người đã yêu cầu, đề nghị biết.

Thứ ba, biện pháp bảo vệ

Các biện pháp bảo vệ được quy định tại Điều 486 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm: (i) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ; (ii) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; (iii) Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; (iv) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý; (v) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; (vi) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ

- Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ gồm: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.

- Người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm:

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát quân sự trung ương.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ của Viện kiểm sát và Tòa án. Viện kiểm sát và Tòa án xét thấy cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì có văn bản đề nghị cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý vụ án trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ[2].

Thứ năm, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ

Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm các nội dung chính như: Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định; chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ; biện pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy cần thiết[3].

Thứ sáu, chấm dứt việc bảo vệ

Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.

Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo vệ phải được gửi cho người được bảo vệ, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ[4].

Thứ bảy, hồ sơ bảo vệ

Khi cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải lập hồ sơ bảo vệ riêng thể hiện quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ. Điều 490 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định hồ sơ bảo vệ gồm: (i) Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; biên bản về việc đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; (ii) Kết quả xác minh về hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ; (iii) Tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) và việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền; (iv) Văn bản yêu cầu, đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; (v) Quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; (vi) Tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ; (vii) Văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ; (viii) Báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ; (ix) Quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ; (x) Các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ.

3. Một số khó khăn, vướng mắc

Một là, về kỹ thuật lập pháp: Theo quy định tại Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác có chủ thể được bảo vệ là người tham gia tố tụng nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chủ thể được bảo vệ bao gồm cả người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại không phải là người tham gia tố tụng, chính điều này không bảo đảm sự đồng bộ giữa tên Chương với đối tượng bảo vệ trong Điều 484.

Hai là, Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 giới hạn các chủ thể được áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm: Người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Việc thực thi quy định này có một số khó khăn, vướng mắc sau:

(i) Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Như vậy, bị hại không chỉ là người mà còn có cả pháp nhân, do đó, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị thiệt hại khi bị đe dọa xâm hại đến tính mạng yêu cầu được bảo vệ thì không áp dụng được vì căn cứ áp dụng biện pháp bảo vệ được quy định tại khoản 1 Điều 486: “Khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại…”.

(ii) Theo quy định tại khoản 3 Điều 67, khoản 2 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền của người chứng kiến và người phiên dịch, người dịch thuật thì những chủ thể này cũng có quyền được đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa nhưng theo nội dung Điều 484 thì họ lại không nằm trong nhóm chủ thể được áp dụng các biện pháp bảo vệ, trong khi đó, tên Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xác định phạm vi áp dụng bao gồm người tham gia tố tụng khác[5].

Ba là, về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo vệ, Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ quy định chung nhất về thẩm quyền, biện pháp áp dụng biện pháp bảo vệ mà chưa có những hướng dẫn cụ thể về quy trình áp dụng như thế nào dẫn đến khó khăn khi áp dụng, cụ thể, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Vậy vấn đề đặt ra là, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra sẽ huy động lực lượng nào để áp dụng các biện pháp bảo vệ, vì rõ ràng, điều tra viên và cán bộ điều tra hiện nay rất thiếu không thể huy động để áp dụng biện pháp bảo vệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bốn là, về phạm vi chủ thể có thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ, theo quy định tại Điều 487 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì chỉ người được bảo vệ mới có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, vậy trường hợp người dưới 18 tuổi thì người đại diện theo pháp luật của họ có quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ hay không? Trong khi đó, vai trò của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ trong quá trình tiến hành lấy lời khai hoặc đề nghị khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.

Năm là, một số nội dung khác trong Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn vướng mắc khi áp dụng như: Một số từ ngữ chưa có giải thích như các biện pháp bảo vệ khác được quy định tại điểm e Điều 486 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là những biện pháp nào hoặc khoản 4 Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy “cần thiết” hoặc thời hạn đánh giá căn cứ để có quyết định bảo vệ là bao lâu hiện nay chưa có quy định.

4. Kiến nghị, đề xuất

Thứ nhất, bổ sung diện những người cần được áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để bảo đảm tính logíc, chặt chẽ về hình thức và nội dung trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

“Điều 484. Người được bảo vệ

Những người được bảo vệ gồm:

a) Người tố giác tội phạm;

b) Người làm chứng;

c) Bị hại;

d) Người thân thích của người tố giác, báo tin về tội phạm, người làm chứng, bị hại, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật;

đ) Người chứng kiến;

e) Người phiên dịch, người dịch thuật”.

Thứ hai, liên Ngành Tư pháp Trung ương cần nghiên cứu xây dựng thông tư hướng dẫn áp dụng chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác. Theo đó, thông tư cần tập trung hướng dẫn những vấn đề cụ thể về các biện pháp bảo vệ như: Trình tự, thủ tục áp dụng, chủ thể có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ và mối quan hệ giữa các chủ thể này khi áp dụng các biện pháp bảo vệ như thế nào. Ngoài ra, trong thông tư cần quy định thống nhất về thời hạn gửi quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ cho người được bảo vệ và hướng dẫn cụ thể các cụm từ mang tính tùy nghi, trừu tượng như “cần thiết” tại Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ ba, trước khi có văn bản hướng dẫn áp dụng chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra cần chủ động nghiên cứu và phối hợp với Viện kiểm sát trong việc áp dụng một số biện pháp bảo vệ cụ thể như: Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật…

Thứ tư, bổ sung một số chủ thể theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được hưởng các biện pháp bảo vệ như người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật và người thân thích của họ để đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như tính phù hợp của các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng, quy định này làm cho nhân dân tin tưởng, tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả hơn. Đồng thời, xác định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng là phải bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

TS. Bùi Đức Hứa
Đại học Cảnh sát nhân dân



[1]. Khoản 1 Điều 487 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Điều 485 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Điều 489 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]. Phùng Văn Hoàng, Kiến nghị hoàn thiện quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, https://tapchitoaan.vn › bai-viet › xay-dung-phat-luat, truy cập ngày 01/10/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.

Theo dõi chúng tôi trên: