Thứ sáu 13/03/2026 05:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định kiểm định quan hệ lao động của pháp luật Hoa Kỳ, Trung Quốc và gợi mở cho Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số phép kiểm soát phổ biến trong phân định quan hệ lao động trong pháp luật của Hoa Kỳ và Trung Quốc nhằm tạo cơ sở đưa ra kiến nghị bổ sung cho pháp luật lao động của Việt Nam.


Abstract: The paper analyzes some popular verification methods in fixing labor relationships in the laws of the USA and China with a view to put forward supplemental recommendations for labor laws of Vietnam.

1. Chế định kiểm định quan hệ lao động theo pháp luật Hoa Kỳ và Trung Quốc

1.1. Chế định kiểm định quan hệ lao động theo pháp luật Hoa Kỳ

Có hai loại quan hệ công việc là người lao động và người làm việc tự do hay nhà thầu độc lập được xác định rõ trong pháp luật Hoa Kỳ[1]. Theo CFR 26-Internal Revenue, mục §31.3401(c)-1, người lao động là người làm công và có quan hệ lao động với người sử dụng lao động; trong khi đó nhà thầu độc lập là những người như bác sĩ, nha sĩ, bác sĩ thú y, luật sư, kế toán, nhà thầu phụ, thư ký tốc ký trong công sở, hoặc người bán đấu giá là những người buôn bán, kinh doanh, hoặc nghề nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ họ cung cấp cho công chúng. Tuy nhiên, liệu họ là nhà thầu độc lập hay người lao động tùy thuộc vào các yếu tố trong từng trường hợp. Quy tắc chung, họ là nhà thầu độc lập nếu người trả công cho họ chỉ có quyền kiểm soát hay chỉ đạo kết quả công việc chứ không phải kiểm soát sẽ làm gì và làm như thế nào[2]. Theo quy định này, việc xác định quyền kiểm soát là một trong những phép kiểm định quan trọng để xác định quan hệ lao động.

Phép kiểm định quyền kiểm soát là học thuyết phổ biến được dùng không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn cả một số nước khác trên thế giới[3], xuất phát từ học thuyết ông chủ - người hầu có từ giữa thế kỷ XIX, do các Tòa án Hoa Kỳ và Anh thiết lập để xác định giới hạn trách nhiệm pháp lý của người sử dụng lao động trong bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra. “Quyền kiểm soát” giúp hình thành trái tim của kiểm định pháp lý trong thông luậ[t4]. Phép kiểm định quyền kiểm soát được Tòa Tối cao thừa nhận trong vụ Singer Manufacturing Co. v. Rahn. Theo Tòa, “mối quan hệ ông chủ và người hầu” tồn tại bất cứ khi nào người sử dụng lao động có quyền ra lệnh cách thức làm việc, cũng như kết quả thu được. Phép kiểm định trong thông luật dựa trên các câu hỏi: “Liệu người này có chịu sự kiểm soát của người khác ở mức độ cho phép để rồi sau đó họ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người thực hiện”[5]. Tuy nhiên, học thuyết ông chủ - người hầu lại không đưa ra các ngoại lệ hay những tình huống khác nhau giữa “người hầu” và “ông chủ”, cho nên những người lao động cao cấp có thể không thỏa phép kiểm định này. Bởi vì, phép kiểm định này chỉ ra được mối quan hệ giữa bên cho và bên nhận lao động, nó không nói lên được bản chất của lao động hay tầm quan trọng của người lao động. Đơn cử như trường hợp: Vai trò của một vị giám đốc của các tập đoàn hay công ty, họ thường là những người lao động cao cấp. Khác với những người lao động làm việc dưới quyền mình, giám đốc cao cấp có thể có quyền tự quyết rất lớn trong điều hành doanh nghiệp vì doanh nghiệp ủy thác cho họ, cũng giống như một chuyên gia cao cấp tự quyết trong thực hiện công việc. Mặc dù người sử dụng lao động vẫn có quyền kiểm soát những người lao động cao cấp, tuy nhiên việc kiểm soát có thể không thường xuyên.

Cũng như trong vụ Roadway Package System, Inc, Ủy ban Quan hệ lao động quốc gia6 ghi nhận là dù thừa nhận phép kiểm định quyền kiểm soát của người sử dụng lao động lên người lao động của thông lệ, trong Restatement thiếu quy định về tỉ lệ khi đánh giá các yếu tố không kiểm soát trong lao động, yếu tố nào không quan trọng khi so với những yếu tố thể hiện sự kiểm soát[7]. Vì vậy, một danh sách các câu hỏi đã được sử dụng để xác định[8], nếu sau khi áp dụng các câu hỏi trên cho một tình huống cụ thể, kết quả cho thấy người sử dụng lao động kiểm soát người làm công, thì người làm công có là người lao động? Mười vấn đề được Restatement liệt kê chỉ là khung định hướng giúp cho việc xác định mối quan hệ, danh sách này không liệt kê được tất cả các thực tế trong cuộc sống và tất cả các yếu tố trong quan hệ lao động phải được đánh giá và không có yếu tố nào có tính quyết định hơn yếu tố còn lại9. Điều này có nghĩa là, thông luật đánh giá nhiều yếu tố khác chứ không chỉ đánh giá yếu tố kiểm soát trong kiểm định quan hệ lao động. Như vậy, quyền kiểm soát không phải là yếu tố duy nhất cần phải xem xét khi áp dụng phép kiểm định này, bên cạnh đó cần phải cân nhắc thêm nhiều yếu tố khác. Phép kiểm định trong thông luật bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố được cân nhắc khác nhau bởi những người đưa ra quyết định khác nhau.

Hoặc phép kiểm định thực trạng kinh tế có thể được dùng, để xác định liệu tình trạng kinh tế của người làm công có lệ thuộc bên thuê, hay vào việc kinh doanh của tự bản thân. Đạo luật Tiêu chuẩn lao động công bằng (FLSA) và Đạo luật Nghỉ phép với lý do gia đình hoặc Y tế (FMLA) dùng phép kiểm định này để xác định liệu một người làm công là người lao động hay là nhà thầu độc lập. Phép kiểm định này giảng giải khái niệm “người lao động” rộng hơn và bao phủ nhiều hơn cho những người dễ bị tổn thương như lao động nhỏ tuổi, người già, phụ nữ mang thai... Bởi vì ở một số khía cạnh nào đó, những người lao động dễ bị tổn thương tách biệt với công ty nhưng rõ ràng có sự phụ thuộc về mặt kinh tế. Cho nên, có học giả cho rằng, nên thay thế phép kiểm định quyền kiểm soát bằng phép kiểm định thực trạng kinh tế, vì nó tập trung vào khía cạnh phụ thuộc kinh tế và bảo vệ những người làm công dễ bị tổn thương nhiều hơn[10], tuy nhiên, phép kiểm định này vẫn chỉ giới hạn trong FLSA và FMLA.

Hoặc phép kiểm định cơ hội kinh doanh - Đây là khái niệm trung tâm trong nghiên cứu lý thuyết kinh doanh. Cơ hội kinh doanh là tình huống mà doanh nhân có thể thực hiện để tìm lợi nhuận. Phép kiểm định này được Tòa án tối cao sử dụng làm cơ sở cho một số vụ án[11] và cho rằng không chỉ nên tập trung vào quyền kiểm soát về phương tiện và cách thức công việc mà còn cần lưu ý đến việc có hoặc đánh mất cơ hội kinh doanh. Chẳng hạn, một đầu bếp làm việc toàn thời gian được xem là người lao động mà không phải là nhà thầu độc lập mặc dù người sử dụng lao động không chi phối vào việc nấu nướng. Tương tự, một người giám đốc điều hành cũng là người lao động mặc dù ít bị chị phối trong cách thức điều hành công việc. Nhưng một người cắt cỏ định kỳ cho một số nơi lại là nhà thầu độc lập, dù khách hàng của anh ta có giám sát và kiểm soát công việc của anh ta. Do đó, không phải bởi mức độ giám sát trên mỗi người làm công, mà do mức độ mà các bộ phận như một doanh nghiệp bị rủi ro kinh tế hoặc cơ hội lợi nhuận từ cách việc làm thông minh hơn chứ không chỉ chăm chỉ hơn.

1.2. Chế định kiểm định quan hệ lao động theo pháp luật Trung Quốc

Về vấn đề này, pháp luật lao động Trung Quốc cũng quy định rất chặt chẽ và có chế tài nghiêm minh, đồng thời đẩy mạnh việc thực thi luật lao động.

Từ ngày 01/01/2017, Bộ Nguồn Nhân lực và An sinh xã hội Trung Quốc (MOHRSS-PRC) đã ban hành các biện pháp đánh giá việc tuân thủ và sự liêm chính của người sử dụng lao động trong việc bảo hộ lao động, áp dụng cho tất cả chủ sử dụng lao động trong nước và nước ngoài[12]. Chúng tôi cho rằng, Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng quy chế này để gia tăng sự tuân thủ luật tại các doanh nghiệp. Người sử dụng lao động tại Trung Quốc sẽ được đánh giá hàng năm sự tuân thủ, mọi vi phạm pháp lý và được phân theo 03 nhóm gồm: A, B và C, trong đó C là nhóm thấp nhất[13]. Đối với chủ sử dụng lao động loại A, thì tần suất thanh tra hành chính bởi cơ quan quản lý lao động địa phương sẽ giảm xuống, ngược lại tần suất thanh tra các chủ sử dụng lao động loại B sẽ tăng phù hợp và chủ sử dụng lao động loại C sẽ thành đối tượng bị giám sát nhiều nhất. Cũng đối với chủ sử dụng lao động loại C, những người chịu trách nhiệm sẽ bị yêu cầu phối hợp với cơ quan quản lý lao động để được nhắc nhở về tầm quan trọng của việc tuân thủ các luật bảo vệ lao động. Các kết quả đánh giá sẽ được lưu hồ sơ tối thiểu 03 năm. Ngoài ra, các biện pháp công bố vi phạm nặng các luật bảo vệ lao động của MOHRSS cũng có hiệu lực ngày 01/01/2017. Theo quy định này, nếu người sử dụng lao động Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng luật lao động và sử dụng lao động của Trung Quốc thì bị cơ quan quản lý lao động công bố công chúng các quyết định về người sử dụng lao động vi phạm luật lao động[14]. Thông tin này sẽ có trong hồ sơ tín dụng người sử dụng lao động về sự liêm chính và tuân thủ luật, có thể được chia sẻ thông tin với các bộ của chính phủ khác.

2. Một số kiến nghị gợi mở cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong số các yếu tố chi phối, quy chế lao động giữ vai trò nền tảng quan trọng giúp môi trường đầu tư hấp dẫn, tạo nên công ăn việc làm trong thị trường lao động và dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (World Bank 2009), đồng thời, luật cần đảm bảo minh bạch, linh động và đảm bảo thực thi tốt[15]. Chính vì vậy, luật lao động Việt Nam cần có chế định rõ ràng để phân định quan hệ lao động và quan hệ dân sự (hợp đồng khoán việc). Như trên đã phân tích, hợp đồng khoán việc cũng có những ưu điểm, lợi ích nhất định, nên vẫn cho phép hình thức khoán việc cho nhà thầu độc lập nhưng phải có quy định rõ ràng để tránh việc lạm dụng và né tránh hợp đồng lao động cho quan hệ lao động. Trên tinh thần đó, có thể đưa ra hai nhóm kiến nghị như sau:

Thứ nhất, bổ sung quy định phân biệt quan hệ lao động và quan hệ dân sự trong luật lao động

Trên cơ sở phân tích các phép kiểm định của thông luật và đạo luật liên quan của Hoa Kỳ, chúng ta nhận thấy rằng, các khuyến nghị của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) khá tương đồng với các học thuyết đã và đang được sử dụng ở Hoa Kỳ như: Thuyết về quyền kiểm soát, về thực trạng kinh tế, về cơ hội kinh doanh... Tổ chức lao động thế giới khuyến nghị các nước thành viên nên đưa ra những hướng dẫn và tiêu chuẩn để phân biệt quan hệ công việc trong chính sách quốc gia. Theo đó, cần quy định rõ các chỉ dấu cụ thể để xác định mối quan hệ lao động[16]:

Yếu tố về công việc: Được thực hiện theo hướng dẫn và dưới sự kiểm soát của bên yêu cầu công việc; công việc cho phép người làm công tham gia vào tổ chức của doanh nghiệp; công việc chỉ/chủ yếu vì lợi ích của bên yêu cầu công việc; công việc phải do chính người làm công thực hiện; công việc được thực hiện trong những giờ làm việc cụ thể hoặc tại nơi làm việc cụ thể hoặc nơi được chỉ định bởi bên yêu cầu công việc; công việc diễn ra trong khoảng thời gian cụ thể và có một sự liên tục nhất định; người làm công phải dành thời gian cho công việc; hoặc liên quan quy định về công cụ, vật liệu và máy móc bởi bên yêu cầu công việc

Chi trả thù lao định kỳ cho người làm công; trên thực tế thù lao đó tạo thành nguồn thu nhập duy nhất hoặc chủ yếu cho người làm công; quy định khoản chỉ trả hiện vật, chẳng hạn như thực phẩm, chỗ ở hoặc vận chuyển; công nhận các quyền lợi như nghỉ cuối tuần và nghỉ lễ hàng năm; chi trả bởi bên yêu cầu công việc cho việc di chuyển của người làm công để thực hiện công việc; hoặc không có rủi ro tài chính cho người làm công.

Cũng theo kinh nghiệm ở Hoa Kỳ đã phân tích ở trên, việc phối hợp nhiều tiêu chí sẽ giúp đánh giá toàn diện hơn trong việc phân biệt một quan hệ công việc là quan hệ lao động hay quan hệ dân sự thông thường. Như vậy, các tiêu chí được ILO khuyến nghị và kinh nghiệm pháp luật Hoa Kỳ là cơ sở quan trọng cho Việt Nam nghiên cứu để xây dựng một chế định kiểm định quan hệ lao động rõ ràng và minh bạch hơn trong hệ thống luật lao động của nước ta.

Thứ hai, tăng cường giám sát và thực thi pháp luật lao động nhằm phòng tránh việc phân loại sai quan hệ lao động thành quan hệ dân sự

Như trên đã phân tích, có thể nhận thấy rằng, các quy định pháp luật của Trung Quốc mang tính răn đe cao, có tính khả thi, có nhiều điểm phù hợp, tương đồng với điều kiện văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, điều kiện kinh tế xã hội của nước ta.… Vì vậy, chúng tôi cho rằng để đẩy mạnh thực thi luật lao động nên tiếp thu kinh nghiệm của Trung Quốc đã thực thi, có như vậy mới đảm bảo tính răn đe các chủ doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.

TS. NGUYỄN XUÂN QUANG *

ThS. NGUYỄN XUÂN LÝ **

* Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

** Văn phòng đại diện Novartis Pharma TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo Đạo luật về mối quan hệ lao động quốc gia chỉ quy định về “người lao động” và loại trừ các trường hợp khác (National Labor Relations Act 29U.S.C§§ 157-158 (1974)).

[2]. Tham khảo tại: Cổng thông tin Sở Thuế Vụ Hoa Kỳ, https://www.irs.gov/businesses/small-businesses-self-employed/independent-contractor-defined, truy cập ngày 6/4/2018.

CFR 26-Internal Revenue, mục §31.3401(c)-1 Employee (c), (d), (e), https://www.gpo.gov/fdsys/pkg/CFR-2001-title26-vol14/pdf/CFR-2001-title26-vol14-sec31-3401c-1.pdf, truy cập ngày 06/04/2018.

[3]. Matthew T. Bodie, Participation as a Theory of Employment, Notre dame Law, Volume 89, Issue 2 (2-2014, Article 4), tr.675.

[4]. Katherine V. W. Stone, Legal Protections for Atypical Employees: employment Law for Worker Without Workplaces and Employees Without Employers, 27 BERKELEY J. EMP. & LAB. L. 251, 257 (2006).

Rethinking the Worker Classification Test: Employees, Entrepreneurship, and Empowerment, Griffin Toronjo Pivateau, Northern Illinois University Law Review, Vol. 34-2013), tr. 76.

[5]. Griffin Toronjo Pivateau, Rethinking the Worker Classification Test: Employee, Entrepreneurship, and Empowerment, Northern Illinois University Law review, Vol. 34, 2013, tr.67 - tr.108.

[6]. The National Labor Relations Board-NLRB là một cơ quan độc lập của Liên bang, được Quốc hội Hoa Kỳ thành lập năm 1935 với mục đích thi hành Đạo luật Quan hệ Lao động Quốc gia - luật cơ bản điều hành quan hệ giữa các công đoàn và người sử dụng lao động có các hoạt động ảnh hưởng đến thương mại giữa các tiểu bang.

[7]. Matthew T.Bodie , Participantion as a Theory of Employment, Volume 89, Issue 2, 2-2014, Saint Louis University School of Law, Notre Dame Law Review, tr.682.

United States Court of Appeals for the District of Columbia Circuit, No. 07-1391: FedEx Home Delivery, A separate operating pision of FedEx groud package system, incorporated, petitioner v. National Labour Relation Board, Respondent, Consolidated with 07-1436, Decided Apr 21, 2009, https://www.cadc.uscourts.gov/internet/opinions.nsf/ F52CAE60981DFB028525780000761CC4/$file/07-1391-1176680.pdf, truy cập ngày 06/04/2018.

[8]. Restatement (Second) of Agency § 220 (2) đưa ra hướng dẫn để xác định khi một bên làm việc cho bên khác là nhân viên hay là một nhà thầu độc lập. Tham khảo tại https://www.cadc.uscourts.gov/internet/opinions.nsf/ F52CAE60981DFB028525780000761CC4/$file/07-1391-1176680.pdf, truy cập ngày 07/04/2018.

[9]. Cổng thông tin Tòa Phúc Thẩm - Tòa quận Columbia (United States Court of Appeals-District of Columbia,https://www.cadc.uscourts.gov/internet/opinions.nsf/F52CAE60981DFB028525780000761CC4/$file/07-1391-1176680.pdf, truy cập ngày 09/04/2018.

Tham chiếu trong vụ Roadway III, 326 N.L.R.B at 850 (quoting United Ins., 390 U.S at 258); see, e.g., Ariz Republic, 349 N.L.R.B at 1042-46; St. Joseph News-Press, 345 N.L.R.B at 477-78.

[10]. John Thomas Dunlop, U.S. Commission on the Futer of Worker-Management Relations, Fact Finding Report: Commission on the Future of Worker-Management Relations, Cornell University ILR School, DigitalCommon@ILR, Federal Publications, May 1994, https://digitalcommons.ilr.cornell.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1279&context=key_workplace, truy cập ngày 09/04/2018.

[11]. Matthew T.Bodie, Participantion as a Theory of Employment, Volume 89, Issue 2, 2-2014, Saint Louis University School of Law, Notre Dame Law Review, tr.688.

[12]. Cổng thông tin China Law Blog-China Law for Business, Grace Yang, China Employers: Are you ready for January 1’s Big Changes?, đăng 11/12/2016, tại https://www.chinalawblog.com/2016/12/china-employers-are-you-ready-for-january-1s-big-changes.html, truy cập ngày 01/04/2018.

[13]. Trong quá trình đánh giá, các cơ quan liên quan nguồn nhân lực và xã hội sẽ cân nhắc các vấn đề sau: Chủ sử dụng lao động có xây dựng nguyên tắc và quy chế bảo vệ lao động nội bộ không? Có thực thi hợp đồng lao động với mọi người lao động hay không? Có tuân thủ luật chuyển nhượng lao động không? Có vi phạm luật lao động trẻ em không? Có tuân thủ luật về lao động nữ và lao động chưa đủ tuổi không; Có tuân thủ về giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi và nghỉ việc không; có tuân thủ luật về thù lao và mức lương tối thiểu không; đóng góp đầy đủ các khoảng bảo hiểm xã hội bắt buộc không; có tuân thủ luật và quy chế bảo vệ lao động khác không?

[14]. Các hành vi sau có thể được công bố: Không chi trả “đáng kể” tiền công cho nhân viên; không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động và các tình huống “nghiêm trọng” khác; vi phạm luật về giờ làm việc hay nghỉ ngơi hay nghỉ phép và các tình huống “nghiêm trọng” khác; vi phạm quy tắc đặc biệt về bảo vệ người lao động nữ và người lao động dưới tuổi lao động và các tình huống “nghiêm trọng” khác; vi phạm luật lao động trẻ em; gây ra những hậu quả xã hội nặng nề do việc vi phạm luật lao động; các hành vi phạm pháp nghiêm trọng khác. Khi công bố các quyết định vi phạm luật lao động này, thì các thông tin sau sẽ được thông tin cho công chúng (ngoại trừ vì vấn đề an ninh quốc gia, bí mật thương mại hay thông tin cá nhân): Tên đầy đủ của chủ sử dụng lao động, mã số tín dụng và địa chỉ; tên người đại diện pháp luật hay người phụ trách; thông tin chính về việc vi phạm; quyết định xử phạt của cơ quan quản lý.

[15]. Diego F. Angel-Urinola và Arvo Kuddo, Key Characteristics of Employment Regulation in the Middle East and North Africa, July 2010, SP Discussion Paper, No. 1006, Cổng thông tin Ngân hàng Thế giới (The World Bank), http://siteresources.worldbank.org/SOCIALPROTECTION/Resources/SP-Discussion-papers/Labor-Market-DP/1006.pdf, truy cập ngày 09/04/2018.

[16]. The Employment Relationship Recommendation, 2006, Cổng thông tin ILO, http://ilo.org/dyn/normlex/en/f?p= NORMLEXPUB:12100:0::NO::P12100_ILO_CODE:R198, truy cập ngày 09/04/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: