Thứ bảy 14/03/2026 19:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chính sách an sinh xã hội cho phụ nữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích chính sách an sinh xã hội đối với phụ nữ dân tộc thiểu số trên các phương diện về tiếp cận việc làm, giáo dục, các chính sách về chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách an sinh xã hội cho phụ nữ dân tộc thiểu số.



1. Mở đầu

Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy, Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó, dân tộc Kinh chiếm nhiều nhất (85,3%); 53 dân tộc thiểu số còn lại có 14,1 triệu người, chiếm 14,7% tổng dân số cả nước. Sau 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2019, quy mô dân số của 53 dân tộc thiểu số đã tăng gần 1,9 triệu người, trong đó, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới, tương ứng là 50,1% so với 49,9%. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất lần lượt là Tày, Thái, Mường, Mông, Khmer, Nùng, Dao, Hoa, Gia Rai, Ê Đê. Các dân tộc thiểu số có quy mô dân số ít nhất là Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, PuPéo, Si La; trong đó, dân tộc Ơ Đu có dân số ít nhất (428 người)1. Theo thống kê, phụ nữ dân tộc thiểu số chiếm 49,8% trong tổng số hơn 14,2 triệu người dân tộc thiểu số trên toàn quốc. Tỷ lệ lao động có việc làm trên tổng số người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên là 82,1%, tương đương 7,9 triệu người, trong đó nữ chiếm 78,3%2.

Phân tích số liệu tách biệt giới tính trong giai đoạn 2015 - 2019 tại Báo cáo số liệu về phụ nữ và nam giới các dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019 và Tóm tắt chính sách các vấn đề giới trong vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam do Cơ quan Liên Hợp Quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) phối hợp với Viện Khoa học - Lao động và Xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Vụ Dân tộc thiểu số (Ủy ban Dân tộc) và Đại sứ quán Ireland tại Việt Nam công bố mới đây, cũng đã cho thấy những thành tựu nổi bật về bình đẳng giới trong các vùng dân tộc thiểu số và miền núi ở Việt Nam. Có thể kể đến như: Tỷ lệ tảo hôn của người dân tộc thiểu số đã giảm 4,7%; tỷ lệ hộ gia đình dân tộc thiểu số có kết nối internet (wifi, cáp hoặc 3G) tăng 9,4 lần, từ 6,5% năm 2015 lên 61,3% năm 2019; thu nhập bình quân một nhân khẩu/tháng của người dân tộc thiểu số năm 2018 đã tăng mạnh 1,8 lần so với năm 2014 và thu nhập trung bình hàng tháng của hộ gia đình dân tộc thiểu số có chủ hộ là nữ luôn cao hơn so với chủ hộ là nam. Tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em dân tộc thiểu số tăng 15,2% trong giai đoạn 2015 - 2019; tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế đạt 93,5%, trong đó không có sự khác biệt giữa nam và nữ3.

2. Hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với phụ nữ dân tộc thiểu số

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm, ban hành nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng, nhờ đó, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện.

Về cơ bản, hệ thống các chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số khá toàn diện, bao quát các lĩnh vực, trong đó, các chính sách riêng dành cho phụ nữ dân tộc thiểu số cũng đã được xây dựng và thực hiện có hiệu quả. Chính phủ cũng triển khai các chương trình, dự án nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết thực hiện Các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc, với nguyên tắc “không bỏ ai ở lại phía sau”, thì những vấn đề dân tộc thiểu số và thúc đẩy bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi cũng được quan tâm. Đảng và Nhà nước đã xây dựng khuôn khổ pháp luật quốc gia về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ khá tiến bộ, bao gồm các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Luật Bình đẳng giới năm 2006, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015 và Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020 đều có chính sách thúc đẩy bình đẳng giới ở vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, còn có một số chính sách đặc thù cho vùng dân tộc thiểu số như Đề án Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025, Đề án Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018 - 2025 và gần đây nhất là Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Mục tiêu của các chính sách này là bảo đảm an sinh xã hội, tạo sự chuyển biến tích cực trong thực hiện bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số4.

Số liệu thống kê cho thấy, tính đến tháng 7/2019, Quốc hội đã ban hành 108 luật, hơn 30 nghị quyết có nội dung chính sách liên quan đến lĩnh vực dân tộc thiểu số, miền núi và vùng đặc biệt khó khăn, bao quát các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, lao động và việc làm, văn hóa, thông tin, giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, y tế, bảo vệ môi trường, công tác cán bộ… Hệ thống chính sách dân tộc do Chính phủ và các bộ, ngành ban hành là 118 văn bản, trong đó, có 54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi5. Tuy vậy, trong số các văn bản này, chỉ có bốn chính sách liên quan tới bình đẳng giới (chiếm khoảng 3,4%), gồm hai chính sách trực tiếp cho phụ nữ dân tộc thiểu số. Vì vậy, phụ nữ dân tộc thiểu số dường như vẫn nằm ở “điểm khuất của góc khuất”, ít cơ hội tiếp cận chính sách nói chung, ngoài hai chính sách trực tiếp là quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số và Đề án Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018 - 20256.

Hệ thống chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng được thể hiện ở các phương diện gồm:

Về chính sách giải quyết việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo: Đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng luôn là một trong những đối tượng ưu tiên nhóm chính sách giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo. Theo đó, nhiều chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số đã được ban hành và đạt được những kết quả quan trọng. Số liệu thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2016 - 2018, khoảng 480.000 người dân tộc thiểu số được học nghề, trong đó, 130.000 người học trung cấp, cao đẳng; 350.000 người được hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp và dưới 03 tháng theo chính sách của Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”7. Bên cạnh những điểm tích cực đó, chính sách giải quyết việc làm cho phụ nữ dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện. Thực tế, phụ nữ dân tộc thiểu số có xu hướng tham gia lao động rất sớm, nhiều trẻ em gái dân tộc thiểu số đã làm việc như người trưởng thành từ trước khi đủ 15 tuổi. Trong khi ở độ tuổi này, phần lớn trẻ em gái người Kinh còn đang tiếp tục đi học. Lao động nữ dân tộc thiểu số làm các công việc không ổn định, dễ bị tổn thương nhiều hơn so với lao động nam dân tộc thiểu số và lao động nữ người Kinh. Những nhóm lao động nữ dân tộc thiểu số yếu thế không đáp ứng được các điều kiện tuyển dụng để làm việc trong các nhà máy, doanh nghiệp trong nước hoặc đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lại tìm việc làm bất hợp pháp ngoài biên giới là lựa chọn ngày càng phổ biến8.

Để góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, chương trình tín dụng chính sách dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được ban hành, giúp đồng bào cải thiện cuộc sống, hội nhập với xu hướng phát triển chung của cả nước. Tính đến ngày 31/8/2019, có hơn 1,4 triệu khách hàng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số đang thụ hưởng hầu hết các chương trình tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội. Tuy vậy, do rào cản về tri thức, phụ nữ dân tộc thiểu số thường ít thông tin về các quyền được tham gia và hưởng lợi từ các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất ở địa phương, ít được tham gia các khóa tập huấn nâng cao năng lực hay đứng tên vay vốn tín dụng ưu đãi. Phụ nữ dân tộc thiểu số bất lợi hơn nam giới dân tộc thiểu số trong tiếp cận tín dụng chính thức để phát triển sinh kế, hoạt động sản xuất - kinh doanh - dịch vụ. Mặc dù phụ nữ dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất - kinh doanh - dịch vụ các sản phẩm truyền thống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, tuy nhiên, tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội năm 2019 chỉ đạt 15,8%, thấp hơn gần 5% so với tỷ lệ tương ứng của hộ gia đình dân tộc thiểu số do nam giới làm chủ hộ là 20,7%. Các chính sách hỗ trợ cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng ít đề cập đến vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong xây dựng, thực hiện, giám sát - đánh giá các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Phụ nữ dân tộc thiểu số cũng ít tham gia các tổ chức xã hội, đoàn thể, do vậy, đa số phụ nữ dân tộc thiểu số chưa nhận thức đầy đủ về giá trị bản thân, chưa mạnh dạn vươn lên trong học tập và phát triển sinh kế, cải thiện việc làm và thu nhập.

Về chính sách chăm sóc sức khỏe: Để chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia đã được triển khai như: Chương trình tiêm chủng mở rộng, Chương trình chăm sóc sức khỏe và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em, Chương trình y tế học đường, Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống HIV - AIDS… Cùng với đó, chính sách bảo hiểm y tế đã được triển khai rộng rãi đến người dân. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số có thẻ bảo hiểm y tế tăng cao, trong đó, nhiều đối tượng người dân tộc thiểu số được cấp phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Có thể nói, chính sách bảo hiểm y tế được ban hành rộng rãi đã làm thay đổi thói quen, quan niệm, nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân tộc thiểu số thay vì đến các thầy lang như trước, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Bên cạnh những kết quả tích cực, các nghiên cứu vẫn chỉ ra thực trạng phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh mới đạt 38,5%, thấp hơn so với phụ nữ người Kinh và Hoa là 44,4%. Có 89,9% phụ nữ dân tộc thiểu số có thẻ bảo hiểm y tế hoặc số thẻ khám chữa bệnh miễn phí. Việc phụ nữ một số dân tộc thiểu số chưa sử dụng thẻ bảo hiểm y tế là do họ không thông thạo tiếng phổ thông, e ngại khi đi khám, chữa bệnh và phải phụ thuộc vào chồng khi làm các thủ tục khám, chữa bệnh. Ngoài ra, khi sinh đẻ, phụ nữ dân tộc thiểu số tại một số vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, chọn sinh đẻ tại nhà thay vì tới các cơ sở y tế. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe bà mẹ, trẻ em mà họ cũng mất đi cơ hội được chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế, thụ hưởng chính sách ưu việt trong khám, chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế9.

Về chính sách trợ giúp xã hội: Nhằm bảo đảm thu nhập và các điều kiện sinh sống ở mức tối thiểu (bằng các hình thức và biện pháp khác nhau) cho đồng bào dân tộc thiểu số gặp rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi trong cuộc sống không đủ khả năng tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình, phụ nữ dân tộc thiểu số đã được thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội thông qua các chương trình chung do các địa phương tổ chức từ nguồn huy động ngân sách địa phương, cộng đồng và các nhà hảo tâm hỗ trợ. Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai và thực hiện các chương trình trợ giúp xã hội cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các chương trình hành động, các cuộc vận động hội viên, các chương trình kết hợp với các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế. Ví dụ như: Chương trình “Trao khoản hỗ trợ tiền đa mục đích cho phụ nữ dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19”10, chương trình “Triệu phần quà san sẻ yêu thương”…

Về chính sách tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: Giáo dục là một trong những điểm sáng trong việc thực hiện các chính sách dịch vụ xã hội cơ bản đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng. Giáo dục có nhiều sự cải thiện, có sự đảo ngược về khoảng cách giới trong tiếp cận giáo dục giữa trẻ em trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số: Tỷ lệ biết đọc, biết viết năm 2019 của nhóm dân tộc thiểu số cũng đã tăng 5,1% so với năm 2015. Trung bình, năm 2019, khoảng cách đến trường của trẻ em dân tộc thiểu số là 2,2 km (đối với tiểu học), 3,7 km (đối với trung học cơ sở) và 10,9 km (đối với trung học phổ thông). Tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số đi học đúng tuổi năm 2019 cũng tăng so với năm 2015, ở mọi cấp học. Mặc dù phụ nữ và trẻ em gái dân tộc thiểu số biết đọc, biết viết chữ phổ thông ít hơn đáng kể so với nam giới dân tộc thiểu số và phụ nữ dân tộc Kinh, tuy nhiên, trẻ em gái dân tộc thiểu số có tỷ lệ đi học đúng tuổi cao hơn và tỷ lệ ngoài nhà trường thấp hơn trẻ em trai dân tộc thiểu số ở tất cả các cấp học11. Bên cạnh đó, các dịch vụ y tế cũng được triển khai có hiệu quả khi mạng lưới cơ sở y tế ngày càng phát triển, chất lượng khám, chữa bệnh ngày càng tăng. Báo cáo tổng kết 09 năm thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh của Ủy ban Dân tộc cho thấy, thời gian qua, chính sách y tế chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số luôn được thực hiện theo hướng: Ưu tiên giải quyết các vấn đề sức khỏe; tăng cường khả năng tiếp cận cũng như cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng; giảm gánh nặng chi phí chăm sóc sức khỏe. Trong đó, Nhà nước đã ưu tiên bố trí ngân sách thực hiện chương trình mục tiêu, các chương trình, dự án để đầu tư xây dựng, nâng cấp, phát triển hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh, trang thiết bị y tế, nhất là đầu tư cho bệnh viện tuyến huyện, trạm y tế xã. Bên cạnh đó, nhiều chính sách như hỗ trợ nhà ở, chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được thực hiện đã góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao nhận thức của người dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho phụ nữ dân tộc thiểu số, thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển kinh tế - xã hội.

3. Giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách an sinh xã hội cho phụ nữ dân tộc thiểu số

Thứ nhất, rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống chính sách về dân tộc thiểu số, trong đó chú ý đến luật hóa các quy định về quyền, về sự tham gia của phụ nữ và luật hóa các cam kết quốc tế; các chính sách pháp luật cũng cần chú ý nhiều hơn đến cách tiếp cận các mục tiêu bình đẳng giới từ quyền của phụ nữ và các cam kết quốc tế. Các cơ quan chức năng cần phân tích các chính sách hiện hành; đề xuất sửa đổi những bất cập của chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số nói chung, chính sách đối với phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng, qua đó rút ngắn dần khoảng cách giữa vùng đồng bào dân tộc miền núi với vùng đồng bằng, giữa các cộng đồng dân tộc, giữa đàn ông và phụ nữ dân tộc thiểu số.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới công tác chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện, rà soát phân định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện chính sách dân tộc thiểu số. Tăng cường trách nhiệm của các bộ, ngành, các cấp trong việc thực hiện chính sách dân tộc, trong đó chú trọng đến công tác truyền thông, tổ chức các mô hình phù hợp với trình độ, với văn hóa của từng khu vực, từng nhóm đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả nguồn lực đầu tư, ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho địa bàn đặc biệt khó khăn; tích cực vận động các nguồn hỗ trợ từ cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức trong nước và quốc tế để hỗ trợ mô hình phụ nữ dân tộc thiểu số khởi nghiệp cải thiện sinh kế, việc làm và thu nhập. Đổi mới cơ chế, chính sách dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ dân tộc thiểu số phù hợp với nhu cầu, yêu cầu của thị trường lao động. Tăng cường cơ hội cho các nhóm nữ dân tộc thiểu số yếu thế được tiếp cận và thụ hưởng các chính sách, dịch vụ và nguồn lực hỗ trợ phát triển kinh tế và thị trường lao động nhằm cải thiện việc làm và địa vị kinh tế của họ. Tăng cường cơ hội cho các nhóm nữ dân tộc thiểu số yếu thế được tiếp cận và thụ hưởng các chính sách, dịch vụ hỗ trợ giáo dục và đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ dân tộc thiểu số.

Thứ tư, nâng cao trình độ dân trí, bảo đảm tiếp cận giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế có chất lượng đối với phụ nữ dân tộc thiểu số. Cần có chính sách khôi phục các loại hình thể thao, văn hóa, văn nghệ truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số mà ở đó, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng. Tăng cường khả năng tiếp cận của phụ nữ dân tộc thiểu số tới các dịch vụ chất lượng về chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng các chương trình y tế quốc gia, đặc biệt với phụ nữ và trẻ em gái, vận động thực hiện hiệu quả chương trình kế hoạch hóa gia đình, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em và đảm bảo vệ sinh môi trường.

Thứ năm, tiếp tục tác động mạnh mẽ để thay đổi nhận thức và hành động của xã hội đối với phụ nữ dân tộc thiểu số; khuyến khích sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào quá trình thay đổi cuộc sống. Khơi dậy niềm tự hào, tự tin, tiềm năng, thế mạnh của phụ nữ dân tộc thiểu số.

Trịnh Thị Hoàng Anh
Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam


[1]. Tổng cục Thống kê, 2019, Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019.

[2]. https://baodantoc.vn/vi-the-moi-cua-phu-nu-dan-toc-thieu-so-1615081573141.htm.

[3]. http://www.cema.gov.vn/tin-tuc/tin-tuc-su-kien/kinh-te-xa-hoi/binh-dang-gioi-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-nhieu-thanh-tuu-nhung-lam-thach-thuc.htm.

[4]. Tóm tắt chính sách: Các vấn đề giới trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, UN Women, 2021.

[5]. Nguyễn Thị Kim Oanh, 2020, “Một số giải pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số”, truy cập tại https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/09/17/mot-so-giai-phap-day-manh-thuc-hien-chinh-sach-an-sinh-xa-hoi-doi-voi-vung-dan-toc-thieu-so/.

[6]. http://hoiphunu.hoabinh.gov.vn/di-n-dan/3011-4-nhom-van-de-giup-phu-nu-dan-toc-thieu-so-khong-bi-bo-lai-phia-sau.

[7]. https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=37644.

[8]. Tóm tắt chính sách: Các vấn đề giới trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, UN Women, 2021.

[9]. http://consosukien.vn/giai-phap-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-tiep-can-day-du-co-hoi-phat-trien.htm.

[10]. http://www.cema.gov.vn/phong-chong-dich-covid-19/thong-tin-tuyen-truyen/ho-tro-tien-cho-phu-nu-dan-toc-thieu-so-bi-anh-huong-boi-dai-dich-covid-19.htm.

[11]. http://hoilhpn.org.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/mot-so-phat-hien-ve-phu-nu-dan-toc-thieu-so-qua-bao-cao-cua-unwomen-40649-6601.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: