Thứ bảy 27/06/2026 18:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

Bài viết này bàn luận về chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, từ đó, đưa ra kiến nghị để hoàn thiện những quy định pháp luật có liên quan.

1. Các chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

1.1. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh - Chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh

Chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh chính là người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vì những chủ thể này tiếp cận trực tiếp với người bệnh; thu thập, quản lý và sử dụng thông tin người bệnh. Các chủ thể này thu thập thông tin người bệnh bằng nhiều phương thức khác nhau như: Hỏi trực tiếp người bệnh, quan sát triệu chứng của người bệnh, theo dõi tình trạng bệnh, vô tình nhìn được hoặc nghe được những hình ảnh, thông tin của người bệnh trong suốt quá trình khám bệnh, chữa bệnh. Chính vì vậy, theo quy định pháp luật, những chủ thể này phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của người bệnh.

Khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định về nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quy định: “Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 11 và khoản 4 Điều 59 của Luật này”.

Điều 8 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 cũng quy định người bệnh được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án (khoản 1); thông tin này chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định (khoản 2).

Năm 2023, Quốc hội đã ban hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2024. Theo các quy định của Luật này thì việc giữ bí mật thông tin của người bệnh được quy định tại khoản 2 Điều 10 - Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe và tôn trọng bí mật riêng tư trong khám bệnh, chữa bệnh như sau: “Được giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án và thông tin khác về đời tư mà người bệnh đã cung cấp cho người hành nghề trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông tin theo quy định của pháp luật hoặc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 69 của Luật này”.

Ngoài ra, khi quy định về nghĩa vụ đối với nghề nghiệp của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, kế thừa những quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 tiếp tục quy định nghĩa vụ này tại khoản 5 Điều 45 như sau: “Giữ bí mật tình trạng bệnh của người bệnh, những thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông tin và trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 69 của Luật này”.

Bên cạnh đó, Quyết định số 4054/QĐ-BYT ngày 22/9/2020 của Bộ Y tế ban hành tạm thời hướng dẫn và quy định tổ chức hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa (Quyết định số 4054/QĐ-BYT) có quy định tại khoản 2 Điều 1 về Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa. Tại Hướng dẫn này, nghĩa vụ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm bí mật thông tin của người bệnh được quy định rõ dưới dạng các biện pháp để hạn chế chia sẻ các thông tin cá nhân của người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh từ xa cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa (mục 4 và 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa) cụ thể:

Thứ nhất, các biện pháp để hạn chế chia sẻ các thông tin cá nhân của người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh từ xa:

“- Không chia sẻ thông tin cá nhân của người bệnh như: Họ và tên đầy đủ, địa chỉ, hình ảnh mặt, cơ thể bệnh nhân hoặc các thông tin có thể định danh người bệnh bằng bất cứ hình thức nào (thông qua hình ảnh, văn bản, ghi âm…).

- Trường hợp buổi hội chẩn cần sự hiện diện của bệnh nhân: Phải sử dụng các biện pháp kỹ thuật để che, hoặc làm mờ hình ảnh mặt bệnh nhân.

- Không thực hiện tường thuật trực tiếp - “Live stream” các buổi hội chẩn, tư vấn khám chữa bệnh từ xa qua các mạng xã hội hoặc các hình thức khác mà có thể làm lộ thông tin cá nhân, hình ảnh mặt người bệnh và tình hình sức khỏe của người bệnh và những người tham gia buổi hội chẩn, hoặc tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

Thứ hai, về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa, Hướng dẫn yêu cầu cán bộ y tế tham gia hội chẩn, tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa “có trách nhiệm giữ bí mật và không chia sẻ thông tin người bệnh, người tham gia hội chẩn trong quá trình thực hiện hoạt động hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

Một số văn bản pháp luật và văn bản hành chính khác như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 (khoản 1 Điều 25); Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 (Điều 33); Luật Phòng, chống nhiễm vi-rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006 (sửa đổi năm 2020) (Điều 30); Công văn số 5877/BYT-BH ngày 22/7/2021 của Bộ Y tế về kiểm tra, rà soát về an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu của người bệnh trong khám, chữa bệnh có sử dụng bảo hiểm y tế trên toàn quốc là những cơ sở quan trọng nhằm khẳng định nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người hành nghề khám, chữa bệnh và cơ sở khám, chữa bệnh trong hoạt động khám, chữa bệnh tại Việt Nam.

1.2. Người bệnh - Chủ sở hữu đối với thông tin người bệnh

Trước tiên phải khẳng định rằng: Người bệnh là chủ sở hữu thông tin của chính mình, vì vậy, họ có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt những thông tin của mình. Tuy nhiên, quyền của người bệnh đối với thông tin cũng gắn liền với nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính người bệnh đó trong một số trường hợp cụ thể. Điều này có nghĩa là, nếu người bệnh không tự mình bảo đảm bí mật thông tin của chính mình trong một số trường hợp thì những chủ thể khác sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận những thông tin này một cách dễ dàng, dẫn đến tình trạng mua bán, tiết lộ thông tin người bệnh sẽ ngày càng phức tạp. Giả sử, ông A bị nhiễm HIV đang trong quá trình thử nghiệm một loại thuốc điều trị mới (chưa được công bố) và bản thân ông nắm được một số thông tin trong hồ sơ bệnh án của mình. Tuy nhiên, ông này lại chia sẻ, công bố thông tin về tình trạng bệnh cũng như loại thuốc mình đang điều trị với “người quen” hoặc các chủ thể khác mà ông ấy cho rằng đáng tin tưởng. Trong trường hợp này, thông tin về tình trạng bệnh của ông A và loại thuốc điều trị mới (chưa được công bố) có nguy cơ bị phát tán, chia sẻ và rò rỉ một cách dễ dàng vì ông này đã chủ động chia sẻ thông tin của bản thân đến các chủ thể khác. Ngược lại, nếu ông này ý thức về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin về tình trạng bệnh của mình, cũng như các thông tin liên quan đến hồ sơ bệnh án, loại thuốc điều trị thì thông tin này sẽ không có cơ hội bị tiết lộ và rò rỉ. Vì thế, nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh trong một số trường hợp cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên thực tế, nhất là trong thời đại công nghệ số phát triển nhanh, mạnh như hiện nay.

Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh không phải là nghĩa vụ tuyệt đối và xuyên suốt trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm và mọi trường hợp. Trái lại, người bệnh hoàn toàn có quyền cung cấp, tiết lộ thông tin của chính mình khi họ nhận thức được rằng việc chia sẻ thông tin trong những trường hợp đó là cần thiết và không nguy hại cho bản thân mình, cũng như không làm “rò rỉ” những thông tin liên quan đến chủ thể khác. Có thể khẳng định rằng, đây là điểm khác biệt đáng chú ý về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người bệnh so với nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của các chủ thể khác.

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành thì nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh chỉ được quy định tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT (điểm c mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa), cụ thể như sau: “Người bệnh hoặc người đại diện hợp pháp cho người bệnh đồng ý tham gia hội chẩn, tư vấn khám chữa bệnh từ xa, không tiết lộ danh tính và các thông tin cá nhân khác trong quá trình hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

1.3. Chủ thể thứ ba - Các chủ thể có liên quan

Chủ thể thứ ba là những chủ thể có được thông tin người bệnh thông qua sự ủy quyền của người bệnh, hoạt động nghề nghiệp, hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học hoặc nhiệm vụ công vụ. Những chủ thể này không phải là chủ sở hữu những thông tin người bệnh và cũng không phải là chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh. Vì vậy, để có thể thu thập, sử dụng thông tin của người bệnh, những chủ thể này sẽ phải thực hiện hành vi “đề nghị” cơ sở khám, chữa bệnh hoặc người bệnh cung cấp thông tin người bệnh cho mình. Việc tiết lộ và làm rò rỉ thông tin người bệnh sẽ không nguy hại đến bản thân những chủ thể này, do đó, họ sẽ có xu hướng tiết lộ và “mua bán thông tin người bệnh” để trục lợi hoặc thỏa mãn các nhu cầu cá nhân khác. Vì vậy, việc pháp luật cần có quy định rõ về nghĩa vụ của các chủ thể này trong việc bảo đảm bí mật thông tin người bệnh là đặc biệt cần thiết và quan trọng. Đây chính là cơ sở pháp lý để ngăn chặn những hành vi tiết lộ thông tin người bệnh và gây thiệt hại cho người bệnh.

Các chủ thể thứ ba ở đây bao gồm: (i) Học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu viên của các cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo; (ii) Người hành nghề khám, chữa bệnh của cơ sở khám, chữa bệnh khác; (iii) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về y tế, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, thanh tra chuyên ngành y tế, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư của người bệnh; (iv) Người hành nghề trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không trực tiếp tham gia khám, chữa bệnh cho người bệnh; (v) Đại diện cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước; (vi) Người đại diện của người bệnh…

Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định những chủ thể nêu trên muốn khai thác hồ sơ bệnh án của người bệnh (tiếp cận, đọc, nghiên cứu, đề nghị cấp bản sao…) có nghĩa vụ giữ bí mật khi sử dụng thông tin trong hồ sơ bệnh án và chỉ được sử dụng đúng mục đích như đã đề nghị với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Ngoài ra, trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa, Quyết định số 4054/QĐ-BYT (điểm d mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa) quy định một loại chủ thể thứ ba là: Tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có tham gia quản lý, cung cấp, vận hành, khai thác, ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa. Chủ thể này có nghĩa vụ:

“- Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế thực hiện tư vấn khám, chữa bệnh từ xa trong việc bảo mật thông tin cá nhân và thông tin sức khỏe của người bệnh tham gia tư vấn khám, chữa bệnh từ xa theo yêu cầu của Hướng dẫn này.

- Chịu trách nhiệm trước Pháp luật trong trường hợp tự ý tiết lộ thông tin cá nhân và thông tin sức khỏe của người bệnh tham gia tư vấn khám, chữa bệnh từ xa.

- Không được sử dụng hình ảnh, dữ liệu lưu trữ quá trình tư vấn khám, chữa bệnh từ xa với mục đích thương mại hoặc các mục đích khác dưới bất kỳ hình thức nào”.

2. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật

Thứ nhất, về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người hành nghề khám, chữa bệnh và của cơ sở khám, chữa bệnh:

Nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chủ thể này được ghi nhận rất rõ tại khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 dưới dạng là một trong những nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên, Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đã bỏ đi nguyên tắc này. Theo tác giả, đây là một “bước lùi” của Luật bởi chúng ta không thể phủ định tầm quan trọng của nguyên tắc này trong quá trình hành nghề khám, chữa bệnh, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Nhà nước ta đang đề cao vấn đề bảo đảm an toàn thông tin cá nhân.

Vì vậy, tác giả kiến nghị cần bổ sung lại nguyên tắc “Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án” vào Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.

Thứ hai, về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh trong một số trường hợp cụ thể:

Có thể nhận thấy, người bệnh là chủ sở hữu đối với thông tin của họ nên họ hoàn toàn có quyền đối với thông tin của bản thân mình, tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người bệnh đều có quyền “tiết lộ” thông tin của mình cho người khác mà họ cũng cần phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính mình.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ những trường hợp nào người bệnh cần phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính bản thân mình ngoài trường hợp quy định tại điểm c mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa (tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT).

Thực trạng pháp luật như vậy sẽ làm phát sinh một số bất cập trên thực tế, đó là: (i) Vậy người bệnh có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin trước các chủ thể nào và trong trường hợp nào?; (ii) Có phải người bệnh chỉ có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của mình trong quá trình hội chẩn, tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa?; (iii) Trong các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tiếp thì người bệnh có cần bảo đảm bí mật thông tin của mình hay không (vì rõ ràng rằng thông tin người bệnh không chỉ hình thành trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa mà còn phát sinh trong các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tiếp, truyền thống)?

Do đó, tác giả đề xuất trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành cần có các quy định nêu rõ: Những trường hợp nào người bệnh có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của mình trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh; người bệnh cần bảo đảm bí mật thông tin của mình trước những chủ thể nào?

Thứ ba, nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chủ thể thứ ba.

Hiện nay, chủ thể thứ ba có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh được quy định tại khoản 3 và 4 Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và điểm d mục 5 - trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chuẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chủ thể thứ ba thực hiện nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh. Tuy nhiên, còn rất nhiều chủ thể thứ ba có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh vẫn chưa được quy định tại khoản 3 và 4 Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023. Ví dụ như: Cơ quan thuế, cơ quan kinh doanh bảo hiểm nhân thọ… Vì vậy, để tránh bỏ sót các chủ thể, tác giả đề xuất bổ sung vào điểm a các khoản 4 Điều 69 như sau: “a) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về y tế, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, thanh tra chuyên ngành y tế, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư của người bệnh và các chủ thể khác theo luật định được tiếp cận, cung cấp hồ sơ bệnh án để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật có liên quan”.

Nguyễn Vương Quốc

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: