Thứ sáu 23/01/2026 12:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

Bài viết này bàn luận về chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, từ đó, đưa ra kiến nghị để hoàn thiện những quy định pháp luật có liên quan.

1. Các chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

1.1. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh - Chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh

Chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh chính là người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vì những chủ thể này tiếp cận trực tiếp với người bệnh; thu thập, quản lý và sử dụng thông tin người bệnh. Các chủ thể này thu thập thông tin người bệnh bằng nhiều phương thức khác nhau như: Hỏi trực tiếp người bệnh, quan sát triệu chứng của người bệnh, theo dõi tình trạng bệnh, vô tình nhìn được hoặc nghe được những hình ảnh, thông tin của người bệnh trong suốt quá trình khám bệnh, chữa bệnh. Chính vì vậy, theo quy định pháp luật, những chủ thể này phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của người bệnh.

Khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định về nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quy định: “Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 11 và khoản 4 Điều 59 của Luật này”.

Điều 8 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 cũng quy định người bệnh được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án (khoản 1); thông tin này chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định (khoản 2).

Năm 2023, Quốc hội đã ban hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2024. Theo các quy định của Luật này thì việc giữ bí mật thông tin của người bệnh được quy định tại khoản 2 Điều 10 - Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe và tôn trọng bí mật riêng tư trong khám bệnh, chữa bệnh như sau: “Được giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án và thông tin khác về đời tư mà người bệnh đã cung cấp cho người hành nghề trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông tin theo quy định của pháp luật hoặc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 69 của Luật này”.

Ngoài ra, khi quy định về nghĩa vụ đối với nghề nghiệp của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, kế thừa những quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 tiếp tục quy định nghĩa vụ này tại khoản 5 Điều 45 như sau: “Giữ bí mật tình trạng bệnh của người bệnh, những thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông tin và trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 69 của Luật này”.

Bên cạnh đó, Quyết định số 4054/QĐ-BYT ngày 22/9/2020 của Bộ Y tế ban hành tạm thời hướng dẫn và quy định tổ chức hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa (Quyết định số 4054/QĐ-BYT) có quy định tại khoản 2 Điều 1 về Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa. Tại Hướng dẫn này, nghĩa vụ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm bí mật thông tin của người bệnh được quy định rõ dưới dạng các biện pháp để hạn chế chia sẻ các thông tin cá nhân của người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh từ xa cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa (mục 4 và 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa) cụ thể:

Thứ nhất, các biện pháp để hạn chế chia sẻ các thông tin cá nhân của người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh từ xa:

“- Không chia sẻ thông tin cá nhân của người bệnh như: Họ và tên đầy đủ, địa chỉ, hình ảnh mặt, cơ thể bệnh nhân hoặc các thông tin có thể định danh người bệnh bằng bất cứ hình thức nào (thông qua hình ảnh, văn bản, ghi âm…).

- Trường hợp buổi hội chẩn cần sự hiện diện của bệnh nhân: Phải sử dụng các biện pháp kỹ thuật để che, hoặc làm mờ hình ảnh mặt bệnh nhân.

- Không thực hiện tường thuật trực tiếp - “Live stream” các buổi hội chẩn, tư vấn khám chữa bệnh từ xa qua các mạng xã hội hoặc các hình thức khác mà có thể làm lộ thông tin cá nhân, hình ảnh mặt người bệnh và tình hình sức khỏe của người bệnh và những người tham gia buổi hội chẩn, hoặc tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

Thứ hai, về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa, Hướng dẫn yêu cầu cán bộ y tế tham gia hội chẩn, tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa “có trách nhiệm giữ bí mật và không chia sẻ thông tin người bệnh, người tham gia hội chẩn trong quá trình thực hiện hoạt động hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

Một số văn bản pháp luật và văn bản hành chính khác như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 (khoản 1 Điều 25); Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 (Điều 33); Luật Phòng, chống nhiễm vi-rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006 (sửa đổi năm 2020) (Điều 30); Công văn số 5877/BYT-BH ngày 22/7/2021 của Bộ Y tế về kiểm tra, rà soát về an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu của người bệnh trong khám, chữa bệnh có sử dụng bảo hiểm y tế trên toàn quốc là những cơ sở quan trọng nhằm khẳng định nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người hành nghề khám, chữa bệnh và cơ sở khám, chữa bệnh trong hoạt động khám, chữa bệnh tại Việt Nam.

1.2. Người bệnh - Chủ sở hữu đối với thông tin người bệnh

Trước tiên phải khẳng định rằng: Người bệnh là chủ sở hữu thông tin của chính mình, vì vậy, họ có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt những thông tin của mình. Tuy nhiên, quyền của người bệnh đối với thông tin cũng gắn liền với nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính người bệnh đó trong một số trường hợp cụ thể. Điều này có nghĩa là, nếu người bệnh không tự mình bảo đảm bí mật thông tin của chính mình trong một số trường hợp thì những chủ thể khác sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận những thông tin này một cách dễ dàng, dẫn đến tình trạng mua bán, tiết lộ thông tin người bệnh sẽ ngày càng phức tạp. Giả sử, ông A bị nhiễm HIV đang trong quá trình thử nghiệm một loại thuốc điều trị mới (chưa được công bố) và bản thân ông nắm được một số thông tin trong hồ sơ bệnh án của mình. Tuy nhiên, ông này lại chia sẻ, công bố thông tin về tình trạng bệnh cũng như loại thuốc mình đang điều trị với “người quen” hoặc các chủ thể khác mà ông ấy cho rằng đáng tin tưởng. Trong trường hợp này, thông tin về tình trạng bệnh của ông A và loại thuốc điều trị mới (chưa được công bố) có nguy cơ bị phát tán, chia sẻ và rò rỉ một cách dễ dàng vì ông này đã chủ động chia sẻ thông tin của bản thân đến các chủ thể khác. Ngược lại, nếu ông này ý thức về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin về tình trạng bệnh của mình, cũng như các thông tin liên quan đến hồ sơ bệnh án, loại thuốc điều trị thì thông tin này sẽ không có cơ hội bị tiết lộ và rò rỉ. Vì thế, nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh trong một số trường hợp cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên thực tế, nhất là trong thời đại công nghệ số phát triển nhanh, mạnh như hiện nay.

Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh không phải là nghĩa vụ tuyệt đối và xuyên suốt trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm và mọi trường hợp. Trái lại, người bệnh hoàn toàn có quyền cung cấp, tiết lộ thông tin của chính mình khi họ nhận thức được rằng việc chia sẻ thông tin trong những trường hợp đó là cần thiết và không nguy hại cho bản thân mình, cũng như không làm “rò rỉ” những thông tin liên quan đến chủ thể khác. Có thể khẳng định rằng, đây là điểm khác biệt đáng chú ý về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người bệnh so với nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của các chủ thể khác.

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành thì nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh chỉ được quy định tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT (điểm c mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa), cụ thể như sau: “Người bệnh hoặc người đại diện hợp pháp cho người bệnh đồng ý tham gia hội chẩn, tư vấn khám chữa bệnh từ xa, không tiết lộ danh tính và các thông tin cá nhân khác trong quá trình hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

1.3. Chủ thể thứ ba - Các chủ thể có liên quan

Chủ thể thứ ba là những chủ thể có được thông tin người bệnh thông qua sự ủy quyền của người bệnh, hoạt động nghề nghiệp, hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học hoặc nhiệm vụ công vụ. Những chủ thể này không phải là chủ sở hữu những thông tin người bệnh và cũng không phải là chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh. Vì vậy, để có thể thu thập, sử dụng thông tin của người bệnh, những chủ thể này sẽ phải thực hiện hành vi “đề nghị” cơ sở khám, chữa bệnh hoặc người bệnh cung cấp thông tin người bệnh cho mình. Việc tiết lộ và làm rò rỉ thông tin người bệnh sẽ không nguy hại đến bản thân những chủ thể này, do đó, họ sẽ có xu hướng tiết lộ và “mua bán thông tin người bệnh” để trục lợi hoặc thỏa mãn các nhu cầu cá nhân khác. Vì vậy, việc pháp luật cần có quy định rõ về nghĩa vụ của các chủ thể này trong việc bảo đảm bí mật thông tin người bệnh là đặc biệt cần thiết và quan trọng. Đây chính là cơ sở pháp lý để ngăn chặn những hành vi tiết lộ thông tin người bệnh và gây thiệt hại cho người bệnh.

Các chủ thể thứ ba ở đây bao gồm: (i) Học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu viên của các cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo; (ii) Người hành nghề khám, chữa bệnh của cơ sở khám, chữa bệnh khác; (iii) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về y tế, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, thanh tra chuyên ngành y tế, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư của người bệnh; (iv) Người hành nghề trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không trực tiếp tham gia khám, chữa bệnh cho người bệnh; (v) Đại diện cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước; (vi) Người đại diện của người bệnh…

Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định những chủ thể nêu trên muốn khai thác hồ sơ bệnh án của người bệnh (tiếp cận, đọc, nghiên cứu, đề nghị cấp bản sao…) có nghĩa vụ giữ bí mật khi sử dụng thông tin trong hồ sơ bệnh án và chỉ được sử dụng đúng mục đích như đã đề nghị với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Ngoài ra, trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa, Quyết định số 4054/QĐ-BYT (điểm d mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa) quy định một loại chủ thể thứ ba là: Tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có tham gia quản lý, cung cấp, vận hành, khai thác, ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa. Chủ thể này có nghĩa vụ:

“- Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế thực hiện tư vấn khám, chữa bệnh từ xa trong việc bảo mật thông tin cá nhân và thông tin sức khỏe của người bệnh tham gia tư vấn khám, chữa bệnh từ xa theo yêu cầu của Hướng dẫn này.

- Chịu trách nhiệm trước Pháp luật trong trường hợp tự ý tiết lộ thông tin cá nhân và thông tin sức khỏe của người bệnh tham gia tư vấn khám, chữa bệnh từ xa.

- Không được sử dụng hình ảnh, dữ liệu lưu trữ quá trình tư vấn khám, chữa bệnh từ xa với mục đích thương mại hoặc các mục đích khác dưới bất kỳ hình thức nào”.

2. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật

Thứ nhất, về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người hành nghề khám, chữa bệnh và của cơ sở khám, chữa bệnh:

Nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chủ thể này được ghi nhận rất rõ tại khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 dưới dạng là một trong những nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên, Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đã bỏ đi nguyên tắc này. Theo tác giả, đây là một “bước lùi” của Luật bởi chúng ta không thể phủ định tầm quan trọng của nguyên tắc này trong quá trình hành nghề khám, chữa bệnh, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Nhà nước ta đang đề cao vấn đề bảo đảm an toàn thông tin cá nhân.

Vì vậy, tác giả kiến nghị cần bổ sung lại nguyên tắc “Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án” vào Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.

Thứ hai, về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh trong một số trường hợp cụ thể:

Có thể nhận thấy, người bệnh là chủ sở hữu đối với thông tin của họ nên họ hoàn toàn có quyền đối với thông tin của bản thân mình, tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người bệnh đều có quyền “tiết lộ” thông tin của mình cho người khác mà họ cũng cần phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính mình.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ những trường hợp nào người bệnh cần phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính bản thân mình ngoài trường hợp quy định tại điểm c mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa (tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT).

Thực trạng pháp luật như vậy sẽ làm phát sinh một số bất cập trên thực tế, đó là: (i) Vậy người bệnh có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin trước các chủ thể nào và trong trường hợp nào?; (ii) Có phải người bệnh chỉ có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của mình trong quá trình hội chẩn, tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa?; (iii) Trong các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tiếp thì người bệnh có cần bảo đảm bí mật thông tin của mình hay không (vì rõ ràng rằng thông tin người bệnh không chỉ hình thành trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa mà còn phát sinh trong các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tiếp, truyền thống)?

Do đó, tác giả đề xuất trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành cần có các quy định nêu rõ: Những trường hợp nào người bệnh có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của mình trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh; người bệnh cần bảo đảm bí mật thông tin của mình trước những chủ thể nào?

Thứ ba, nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chủ thể thứ ba.

Hiện nay, chủ thể thứ ba có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh được quy định tại khoản 3 và 4 Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và điểm d mục 5 - trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chuẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chủ thể thứ ba thực hiện nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh. Tuy nhiên, còn rất nhiều chủ thể thứ ba có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh vẫn chưa được quy định tại khoản 3 và 4 Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023. Ví dụ như: Cơ quan thuế, cơ quan kinh doanh bảo hiểm nhân thọ… Vì vậy, để tránh bỏ sót các chủ thể, tác giả đề xuất bổ sung vào điểm a các khoản 4 Điều 69 như sau: “a) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về y tế, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, thanh tra chuyên ngành y tế, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư của người bệnh và các chủ thể khác theo luật định được tiếp cận, cung cấp hồ sơ bệnh án để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật có liên quan”.

Nguyễn Vương Quốc

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: