Thứ ba 13/10/2026 11:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

Bài viết này bàn luận về chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, từ đó, đưa ra kiến nghị để hoàn thiện những quy định pháp luật có liên quan.

1. Các chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh

1.1. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh - Chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh

Chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh chính là người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vì những chủ thể này tiếp cận trực tiếp với người bệnh; thu thập, quản lý và sử dụng thông tin người bệnh. Các chủ thể này thu thập thông tin người bệnh bằng nhiều phương thức khác nhau như: Hỏi trực tiếp người bệnh, quan sát triệu chứng của người bệnh, theo dõi tình trạng bệnh, vô tình nhìn được hoặc nghe được những hình ảnh, thông tin của người bệnh trong suốt quá trình khám bệnh, chữa bệnh. Chính vì vậy, theo quy định pháp luật, những chủ thể này phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của người bệnh.

Khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định về nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh quy định: “Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 11 và khoản 4 Điều 59 của Luật này”.

Điều 8 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 cũng quy định người bệnh được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án (khoản 1); thông tin này chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định (khoản 2).

Năm 2023, Quốc hội đã ban hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2024. Theo các quy định của Luật này thì việc giữ bí mật thông tin của người bệnh được quy định tại khoản 2 Điều 10 - Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe và tôn trọng bí mật riêng tư trong khám bệnh, chữa bệnh như sau: “Được giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án và thông tin khác về đời tư mà người bệnh đã cung cấp cho người hành nghề trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông tin theo quy định của pháp luật hoặc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 69 của Luật này”.

Ngoài ra, khi quy định về nghĩa vụ đối với nghề nghiệp của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, kế thừa những quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 tiếp tục quy định nghĩa vụ này tại khoản 5 Điều 45 như sau: “Giữ bí mật tình trạng bệnh của người bệnh, những thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông tin và trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 69 của Luật này”.

Bên cạnh đó, Quyết định số 4054/QĐ-BYT ngày 22/9/2020 của Bộ Y tế ban hành tạm thời hướng dẫn và quy định tổ chức hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa (Quyết định số 4054/QĐ-BYT) có quy định tại khoản 2 Điều 1 về Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa. Tại Hướng dẫn này, nghĩa vụ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm bí mật thông tin của người bệnh được quy định rõ dưới dạng các biện pháp để hạn chế chia sẻ các thông tin cá nhân của người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh từ xa cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa (mục 4 và 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa) cụ thể:

Thứ nhất, các biện pháp để hạn chế chia sẻ các thông tin cá nhân của người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh từ xa:

“- Không chia sẻ thông tin cá nhân của người bệnh như: Họ và tên đầy đủ, địa chỉ, hình ảnh mặt, cơ thể bệnh nhân hoặc các thông tin có thể định danh người bệnh bằng bất cứ hình thức nào (thông qua hình ảnh, văn bản, ghi âm…).

- Trường hợp buổi hội chẩn cần sự hiện diện của bệnh nhân: Phải sử dụng các biện pháp kỹ thuật để che, hoặc làm mờ hình ảnh mặt bệnh nhân.

- Không thực hiện tường thuật trực tiếp - “Live stream” các buổi hội chẩn, tư vấn khám chữa bệnh từ xa qua các mạng xã hội hoặc các hình thức khác mà có thể làm lộ thông tin cá nhân, hình ảnh mặt người bệnh và tình hình sức khỏe của người bệnh và những người tham gia buổi hội chẩn, hoặc tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

Thứ hai, về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa, Hướng dẫn yêu cầu cán bộ y tế tham gia hội chẩn, tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa “có trách nhiệm giữ bí mật và không chia sẻ thông tin người bệnh, người tham gia hội chẩn trong quá trình thực hiện hoạt động hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

Một số văn bản pháp luật và văn bản hành chính khác như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 (khoản 1 Điều 25); Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 (Điều 33); Luật Phòng, chống nhiễm vi-rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006 (sửa đổi năm 2020) (Điều 30); Công văn số 5877/BYT-BH ngày 22/7/2021 của Bộ Y tế về kiểm tra, rà soát về an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu của người bệnh trong khám, chữa bệnh có sử dụng bảo hiểm y tế trên toàn quốc là những cơ sở quan trọng nhằm khẳng định nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người hành nghề khám, chữa bệnh và cơ sở khám, chữa bệnh trong hoạt động khám, chữa bệnh tại Việt Nam.

1.2. Người bệnh - Chủ sở hữu đối với thông tin người bệnh

Trước tiên phải khẳng định rằng: Người bệnh là chủ sở hữu thông tin của chính mình, vì vậy, họ có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt những thông tin của mình. Tuy nhiên, quyền của người bệnh đối với thông tin cũng gắn liền với nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính người bệnh đó trong một số trường hợp cụ thể. Điều này có nghĩa là, nếu người bệnh không tự mình bảo đảm bí mật thông tin của chính mình trong một số trường hợp thì những chủ thể khác sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận những thông tin này một cách dễ dàng, dẫn đến tình trạng mua bán, tiết lộ thông tin người bệnh sẽ ngày càng phức tạp. Giả sử, ông A bị nhiễm HIV đang trong quá trình thử nghiệm một loại thuốc điều trị mới (chưa được công bố) và bản thân ông nắm được một số thông tin trong hồ sơ bệnh án của mình. Tuy nhiên, ông này lại chia sẻ, công bố thông tin về tình trạng bệnh cũng như loại thuốc mình đang điều trị với “người quen” hoặc các chủ thể khác mà ông ấy cho rằng đáng tin tưởng. Trong trường hợp này, thông tin về tình trạng bệnh của ông A và loại thuốc điều trị mới (chưa được công bố) có nguy cơ bị phát tán, chia sẻ và rò rỉ một cách dễ dàng vì ông này đã chủ động chia sẻ thông tin của bản thân đến các chủ thể khác. Ngược lại, nếu ông này ý thức về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin về tình trạng bệnh của mình, cũng như các thông tin liên quan đến hồ sơ bệnh án, loại thuốc điều trị thì thông tin này sẽ không có cơ hội bị tiết lộ và rò rỉ. Vì thế, nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh trong một số trường hợp cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên thực tế, nhất là trong thời đại công nghệ số phát triển nhanh, mạnh như hiện nay.

Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh không phải là nghĩa vụ tuyệt đối và xuyên suốt trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm và mọi trường hợp. Trái lại, người bệnh hoàn toàn có quyền cung cấp, tiết lộ thông tin của chính mình khi họ nhận thức được rằng việc chia sẻ thông tin trong những trường hợp đó là cần thiết và không nguy hại cho bản thân mình, cũng như không làm “rò rỉ” những thông tin liên quan đến chủ thể khác. Có thể khẳng định rằng, đây là điểm khác biệt đáng chú ý về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người bệnh so với nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của các chủ thể khác.

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành thì nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh chỉ được quy định tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT (điểm c mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa), cụ thể như sau: “Người bệnh hoặc người đại diện hợp pháp cho người bệnh đồng ý tham gia hội chẩn, tư vấn khám chữa bệnh từ xa, không tiết lộ danh tính và các thông tin cá nhân khác trong quá trình hội chẩn, tư vấn khám, chữa bệnh từ xa”.

1.3. Chủ thể thứ ba - Các chủ thể có liên quan

Chủ thể thứ ba là những chủ thể có được thông tin người bệnh thông qua sự ủy quyền của người bệnh, hoạt động nghề nghiệp, hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học hoặc nhiệm vụ công vụ. Những chủ thể này không phải là chủ sở hữu những thông tin người bệnh và cũng không phải là chủ thể trực tiếp nắm giữ thông tin người bệnh. Vì vậy, để có thể thu thập, sử dụng thông tin của người bệnh, những chủ thể này sẽ phải thực hiện hành vi “đề nghị” cơ sở khám, chữa bệnh hoặc người bệnh cung cấp thông tin người bệnh cho mình. Việc tiết lộ và làm rò rỉ thông tin người bệnh sẽ không nguy hại đến bản thân những chủ thể này, do đó, họ sẽ có xu hướng tiết lộ và “mua bán thông tin người bệnh” để trục lợi hoặc thỏa mãn các nhu cầu cá nhân khác. Vì vậy, việc pháp luật cần có quy định rõ về nghĩa vụ của các chủ thể này trong việc bảo đảm bí mật thông tin người bệnh là đặc biệt cần thiết và quan trọng. Đây chính là cơ sở pháp lý để ngăn chặn những hành vi tiết lộ thông tin người bệnh và gây thiệt hại cho người bệnh.

Các chủ thể thứ ba ở đây bao gồm: (i) Học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu viên của các cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo; (ii) Người hành nghề khám, chữa bệnh của cơ sở khám, chữa bệnh khác; (iii) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về y tế, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, thanh tra chuyên ngành y tế, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư của người bệnh; (iv) Người hành nghề trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không trực tiếp tham gia khám, chữa bệnh cho người bệnh; (v) Đại diện cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước; (vi) Người đại diện của người bệnh…

Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định những chủ thể nêu trên muốn khai thác hồ sơ bệnh án của người bệnh (tiếp cận, đọc, nghiên cứu, đề nghị cấp bản sao…) có nghĩa vụ giữ bí mật khi sử dụng thông tin trong hồ sơ bệnh án và chỉ được sử dụng đúng mục đích như đã đề nghị với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Ngoài ra, trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa, Quyết định số 4054/QĐ-BYT (điểm d mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa) quy định một loại chủ thể thứ ba là: Tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có tham gia quản lý, cung cấp, vận hành, khai thác, ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa. Chủ thể này có nghĩa vụ:

“- Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế thực hiện tư vấn khám, chữa bệnh từ xa trong việc bảo mật thông tin cá nhân và thông tin sức khỏe của người bệnh tham gia tư vấn khám, chữa bệnh từ xa theo yêu cầu của Hướng dẫn này.

- Chịu trách nhiệm trước Pháp luật trong trường hợp tự ý tiết lộ thông tin cá nhân và thông tin sức khỏe của người bệnh tham gia tư vấn khám, chữa bệnh từ xa.

- Không được sử dụng hình ảnh, dữ liệu lưu trữ quá trình tư vấn khám, chữa bệnh từ xa với mục đích thương mại hoặc các mục đích khác dưới bất kỳ hình thức nào”.

2. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật

Thứ nhất, về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của người hành nghề khám, chữa bệnh và của cơ sở khám, chữa bệnh:

Nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chủ thể này được ghi nhận rất rõ tại khoản 2 Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 dưới dạng là một trong những nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên, Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đã bỏ đi nguyên tắc này. Theo tác giả, đây là một “bước lùi” của Luật bởi chúng ta không thể phủ định tầm quan trọng của nguyên tắc này trong quá trình hành nghề khám, chữa bệnh, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi Nhà nước ta đang đề cao vấn đề bảo đảm an toàn thông tin cá nhân.

Vì vậy, tác giả kiến nghị cần bổ sung lại nguyên tắc “Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án” vào Điều 3 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.

Thứ hai, về nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chính người bệnh trong một số trường hợp cụ thể:

Có thể nhận thấy, người bệnh là chủ sở hữu đối với thông tin của họ nên họ hoàn toàn có quyền đối với thông tin của bản thân mình, tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người bệnh đều có quyền “tiết lộ” thông tin của mình cho người khác mà họ cũng cần phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính mình.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ những trường hợp nào người bệnh cần phải có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của chính bản thân mình ngoài trường hợp quy định tại điểm c mục 5 của Hướng dẫn về bảo mật thông tin trong hoạt động tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa (tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT).

Thực trạng pháp luật như vậy sẽ làm phát sinh một số bất cập trên thực tế, đó là: (i) Vậy người bệnh có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin trước các chủ thể nào và trong trường hợp nào?; (ii) Có phải người bệnh chỉ có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của mình trong quá trình hội chẩn, tư vấn khám bệnh, chữa bệnh từ xa?; (iii) Trong các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tiếp thì người bệnh có cần bảo đảm bí mật thông tin của mình hay không (vì rõ ràng rằng thông tin người bệnh không chỉ hình thành trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ xa mà còn phát sinh trong các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tiếp, truyền thống)?

Do đó, tác giả đề xuất trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành cần có các quy định nêu rõ: Những trường hợp nào người bệnh có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của mình trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh; người bệnh cần bảo đảm bí mật thông tin của mình trước những chủ thể nào?

Thứ ba, nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh của chủ thể thứ ba.

Hiện nay, chủ thể thứ ba có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh được quy định tại khoản 3 và 4 Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và điểm d mục 5 - trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia hội chuẩn, khám bệnh, chữa bệnh từ xa tại Quyết định số 4054/QĐ-BYT. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chủ thể thứ ba thực hiện nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh. Tuy nhiên, còn rất nhiều chủ thể thứ ba có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin người bệnh vẫn chưa được quy định tại khoản 3 và 4 Điều 69 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023. Ví dụ như: Cơ quan thuế, cơ quan kinh doanh bảo hiểm nhân thọ… Vì vậy, để tránh bỏ sót các chủ thể, tác giả đề xuất bổ sung vào điểm a các khoản 4 Điều 69 như sau: “a) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về y tế, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, thanh tra chuyên ngành y tế, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư của người bệnh và các chủ thể khác theo luật định được tiếp cận, cung cấp hồ sơ bệnh án để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật có liên quan”.

Nguyễn Vương Quốc

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: