Thứ ba 10/03/2026 20:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015

Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích quy định của pháp luật về xác định những chủ thể có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết lại, đồng thời, đánh giá dưới góc độ thực tiễn những vướng mắc gặp phải và xác định hướng hoàn thiện pháp luật.

Abstract: In this article, the author analyzes the legal provisions on determining the subjects responsible for performing the property obligations left by the deceased, and at the same time, evaluates from a practical perspective the problems encountered and direction to improve the law.

1. Đặt vấn đề

Chết là sự kiện pháp lý làm chấm dứt nhiều quan hệ pháp luật như quan hệ pháp luật lao động, quan hệ vợ chồng. Đồng thời cũng là sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ pháp luật mới, chẳng hạn như quan hệ pháp luật về thừa kế, trong đó có quan hệ nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Trước khi chết, một cá nhân có thể còn một số nghĩa vụ chưa hoặc đang thực hiện với chủ thể khác. Trong một số trường hợp, khi cá nhân chết thì nghĩa vụ của họ cũng chấm dứt nếu nghĩa vụ này phải do chính cá nhân đó thực hiện. Ngược lại, có những nghĩa vụ không chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết. Căn cứ theo quy định tại Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015, kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Dựa theo quy định tại Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015, có thể nhận thấy một số nghĩa vụ tài sản do người chết để lại[1] sẽ được chuyển giao cho một chủ thể khác tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, việc xác định được chủ thể có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không phải lúc nào cũng dễ dàng, cần được nghiên cứu, làm rõ.

2. Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015

Theo quy định tại Điều 615, Điều 622, Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2015, những chủ thể có nghĩa vụ tài sản do người chết để lại bao gồm:

Thứ nhất, người hưởng thừa kế.

Khi di sản đã được chia, những nghĩa vụ tài sản của người chết chưa được thực hiện hoặc đang thực hiện thì người hưởng thừa kế là người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ. Ứng với hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật, người thừa kế bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật.

Đối với người thừa kế theo di chúc là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào được chỉ định trong di chúc miễn là thỏa mãn những điều kiện về người thừa kế[2], không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản[3]. Về nguyên tắc, những chủ thể này đều phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng với phần di sản mình được nhận.

Đối với người thừa kế theo pháp luật. Trường hợp, người để lại di sản thừa kế không có di chúc hoặc có di chúc nhưng không phát sinh hiệu lực thì di sản thừa kế được chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật phải là cá nhân. Bao gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết. Tuy nhiên, không phải hàng thừa kế nào cũng được hưởng di sản thừa kế mà họ được hưởng di sản khi không có ai ở hàng thừa kế trước, hoặc có nhưng họ từ chối, bị truất quyền hưởng di sản. Điều đó cũng có nghĩa, không phải cả ba hàng thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, mà chỉ hàng thừa kế nào được hưởng di sản mới là chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại thì người thừa kế phải có nghĩa vụ thực hiện bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp có di chúc nhưng không hợp pháp thì người phải thực hiện nghĩa vụ không phải là người thừa kế theo di chúc mà là người thừa kế theo pháp luật[4]. Người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nếu họ được hưởng di sản vì họ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ “trong phạm vi di sản”[5]. Vậy, trường hợp người chết không có di sản nhưng có nghĩa vụ và có người thừa kế thì người thừa kế có phải thừa kế nghĩa vụ hay không? Vấn đề thực hiện nghĩa vụ tài sản sẽ không phát sinh vì họ không hưởng di sản và cũng không có di sản để thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại.

Thứ hai, người quản lý di sản đối với di sản chưa được chia thừa kế.

Đối với di sản chưa được chia thừa kế, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại. Vấn đề đặt ra là, người phải thực hiện nghĩa vụ là người thừa kế hay người quản lý tài sản. Bởi suy cho người, người quản lý di sản không đồng thời là người được hưởng di sản thừa kế do người chết để lại. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử có cách hiểu khác nhau, như là:

- Ghi nhận việc thực hiện các nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại thuộc về những người thừa kế là những người hưởng di sản mà người chết để lại dù di sản chưa được chia, không quan trọng ai là người quản lý di sản.

- Chủ thể thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại là người quản lý tài sản chứ không phải tất cả những người thừa kế.

Theo quan điểm của tác giả, chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ vẫn phải là người thừa kế, người quản lý là người thực hiện thay khi di sản chưa được chia thừa kế theo sự thỏa thuận của những người thừa kế mà thôi.

Thứ ba, người được di tặng.

Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. Về nguyên tắc, người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng. Tuy nhiên, trong trường hợp “toàn bộ di sản không đủ” để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại. Trong trường hợp người chết để lại giá trị tài sản cho người được di tặng rất nhỏ, ít hơn những người thừa kế. Sau khi người thừa kế thực nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nhưng không đủ. Vậy có đem phần giá trị tài sản của người được di tặng để thực hiện nghĩa vụ hay không?

Thứ tư, người quản lý tài sản dùng vào việc thờ cúng.

Khoản 2, Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng”. Như vậy, di sản dùng vào việc thờ cúng cũng được dùng để thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ. Vấn đề đặt ra là chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong trường hợp này là người quản lý hay người thừa kế?

Thứ năm, Nhà nước.

Điều 622 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước”. Điều này cho thấy, ngoài những chủ thể trình bày ở trên, Nhà nước với tư cách là chủ thể tiếp nhận tài sản của người chết cũng phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết.

3. Bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật

3.1. Trường hợp nhiều người hưởng di sản thừa kế

Pháp luật theo hướng bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba khi người phải thực hiện nghĩa vụ với mình đã chết. Tuy nhiên, nếu nhiều người được hưởng di sản thừa kế, người có quyền có được yêu cầu tất cả những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ hay không, hay chỉ được yêu cầu một trong số họ thực hiện nghĩa vụ? Trong trường hợp, những người thừa kế tự thỏa thuận với nhau, cử một người đại diện để thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại thì họ có phải thông báo cho người thứ ba là người có quyền biết để họ có thể thực hiện yêu cầu của mình hay không? Về vấn đề này, Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa được quy định rõ, có nên chăng cần có một quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm của những chủ thể có nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nhằm bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho người thứ ba sau khi người để lại di sản chết. Theo quan điểm của tác giả, để bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba, pháp luật dân sự nên theo hướng bổ sung quy định về xác định chủ thể thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại là những người thừa kế hưởng di sản, họ có nghĩa vụ thông báo cho người thứ ba biết. Trong trường hợp không thông báo, người có quyền được yêu cầu bất kỳ người thừa kế nào phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ với mình.

3.2. Về người di tặng

Như đã phân tích về chủ thể là người di tặng thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại ở trên. Người di tặng không đương nhiên là người thừa kế. Với quy định “toàn bộ di sản không đủ để thực hiện nghĩa vụ” chưa rõ ràng, khó hiểu và phát sinh các vướng mắc sau:

Một là, người chết để lại giá trị di sản cho người được di tặng nhiều hơn người thừa kế, trong phạm vi người thừa kế được hưởng không thực hiện được hết nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Trong trường hợp này, người được di tặng có nghĩa vụ lấy tài sản di tặng để thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại hay không? Vì rõ ràng là “toàn bộ di sản” đã không đủ để thực hiện nghĩa vụ.

Hai là, người chết để lại giá trị di sản cho người được di tặng ít hơn những người thừa kế. Toàn bộ di sản của những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại nhưng không đủ. Vậy với trường hợp này, người di tặng có là chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ hay không? Ngay cả khi giá trị tài sản di tặng rất nhỏ không đáng kể hay chỉ mang tính chất kỷ niệm.

Như vậy, có phải cả hai trường hợp mà tác giả phân tích thì người di tặng để phải có nghĩa vụ hay không? Theo quan điểm của tác giả đối với trường hợp thứ 2, khi giá trị di tặng ít hơn những người thừa kế và có giá trị thấp (với mức cần được xác định rõ ràng) thì không nên đặt ra vẫn đề thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại cho người được di tặng. Xuất phát từ ý nghĩa tốt đẹp như một món quà mà người chết để lại cho người mà họ yêu thương.

3.3. Về người quản lý di sản thờ cúng

Trường hợp người chết lập di chúc có chỉ định việc di sản được dùng vào việc thờ cúng được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm. Do đó, về nguyên tắc phần này không được chia thừa kế. Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng có thể là người được chỉ định trong di chúc, người được những người thừa kế thỏa thuận cử người quản lý di sản, nếu những người thừa đều chết thì phần di sản dùng thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ tài sản do người chết để lại liên quan đến phân di sản dùng vào thờ cúng thì ai sẽ là người có nghĩa vụ thực hiện? Người được chỉ định trong di chúc? Người thừa kế? Bởi vì người được chỉ định quản lý di sản thờ cúng có thể đồng thời là người thừa kế nhưng cũng có thể không. Theo quan điểm của tác giả, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại vẫn thuộc về người thừa kế. Bởi lẽ, điều này đã được quy định rõ tại Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015. Hơn nữa Điều 645 quy định: “Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng”. Với quy định này, có thể hiểu rằng chỉ có người thừa kế họ mới chính xác biết được toàn bộ di sản của người chết có đủ để thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại hay không. Còn nếu hiểu người quản lý di sản thờ cúng là chủ thể buộc phải thực hiện nghĩa vụ thì bản thân họ cũng phải thông báo cho người thừa kế chứ không thể tự mình sử dụng di sản để thực hiện nghĩa vụ được. Khi có sự thống nhất của tất cả những người thừa kế thì di sản dùng vào việc thờ cúng mới được dùng để thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Để thống nhất cách hiểu, thiết nghĩ Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh để tránh trường hợp áp dụng không đồng bộ.

Ngoài ra, Bộ luật Dân sự quy định trách nhiệm của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại khi di sản của người chết để lại không đủ để thanh toán nhưng lại không quy định rõ ràng khi di sản thờ cúng ấy đã thanh toán nghĩa vụ vẫn còn lại thì có tiếp tục thực hiện việc thờ cúng hay không? Vấn đề thờ cúng là nét đẹp văn hóa dân tộc Việt Nam từ lâu đời cần giữ gìn và phát huy, cũng như góp phần bảo đảm quyền lợi của người quản lý di sản thờ cúng, chủ thể có quyền về tài sản thì cần thiết sửa đổi khoản 2 Điều 645: “Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng nếu giá trị phần di sản dùng vào việc thờ cúng bằng hoặc lớn hơn giá trị hưởng thừa kế”.

ThS. Nguyễn Thị Phương

Giảng viên Luật học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng còn thiếu; chi phí cho việc bảo quản di sản; tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ; tiền công lao động; tiền bồi thường thiệt hại; thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước; các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân; tiền phạt; các chi phí khác.

[2]. Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Đỗ Văn Đại (2016), Luật Thừa kế Việt Nam- Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam.

[5]. Khoản 1, Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: