Thứ hai 20/04/2026 07:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chuẩn mực con người Việt Nam và vấn đề ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật

Chuẩn mực con người Việt Nam và vấn đề ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vấn đề chuẩn mực con người Việt Nam, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và mối quan hệ biện chứng giữa chuẩn mực con người Việt Nam và ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.

Abstract: The article deals with the issue of Vietnamese human standards, the sense of respect for the Constitution and the law and the dialectical relationship between Vietnamese human standards and the sense of respect for the Constitution and the law.

Từ xưa đến nay, chúng ta đều biết sự tồn/vong, thịnh/suy của một quốc gia, dân tộc, dòng họ, gia đình đều bắt nguồn từ yếu tố con người và quyết định cũng bởi con người. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn coi trọng vấn đề con người với tư tưởng lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Xuất phát từ đó, thời gian qua, Đảng ta đã chỉ đạo thường xuyên và quyết liệt việc xây dựng các hệ giá trị của Việt Nam với bốn thành tố: Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực (hệ giá trị) con người Việt Nam[1]. Đây chính là nền tảng tư tưởng về chính trị, văn hóa, xã hội và pháp lý, đồng thời là nguồn lực nội sinh để định hướng và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn mới của Việt Nam.

Hiện nay, việc nghiên cứu, xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam đang tiếp tục được thực hiện một cách bài bản, khoa học, gắn với yêu cầu thực tiễn của Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27) được Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ban hành, trong đó xác định ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật là chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội nên việc xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam phải thể hiện được tinh thần này.

1. Chuẩn mực con người Việt Nam

Chuẩn mực con người là một bộ phận cơ bản, cốt lõi của chuẩn mực xã hội nói chung. Những chuẩn mực này là hệ thống quy tắc ứng xử của con người trong đời sống xã hội, thước đo cho sự đúng, sai, tốt, xấu… của con người trong một hoàn cảnh nhất định, có thể thành văn hoặc bất thành văn, do một nhóm người, cộng đồng hay toàn xã hội quy ước hoặc thừa nhận.

Các chuẩn mực con người tồn tại rất đa dạng, phong phú và có thể thay đổi theo thời gian, không gian và phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hóa… Đó có thể là những lề thói, tập tục hoặc có thể là những quy phạm pháp luật[2].

Trong thực tế, đâu đó còn sự tồn tại những chuẩn mực không mang tính tích cực, lạc hậu như các hủ tục, quan niệm mê tín, dị đoan, những “luật ngầm”… Tuy nhiên, về cơ bản, chuẩn mực xã hội thường hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ. Chuẩn mực con người Việt Nam được hiểu thống nhất theo phương diện đó và qua thực tiễn, chuẩn mực con người Việt Nam đang ngày càng được vun đắp, hoàn thiện với mục đích là tạo nền tảng về tư tưởng, đạo đức, lối sống tích cực, hướng mỗi con người Việt Nam, cho dù thuộc tầng lớp nào, xuất thân từ đâu đều có cách nhìn, đánh giá và hành động thống nhất trong cùng một ngữ cảnh, tạo nên một xã hội hòa đồng, đoàn kết, bình yên, trật tự và ổn định, tránh sự lệch chuẩn gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội và những người liên quan.

Tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã ban hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) được bổ sung, phát triển năm 2011, trong đó đã nêu lên các giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam là “nhân văn, dân chủ, tiến bộ”; giá trị gia đình Việt Nam là “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc”; chuẩn mực của con người Việt Nam là “giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, tình nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính”.

Trên cơ sở những định hướng khái quát về các hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người được nêu trên, thời gian qua, Đảng ta đã tiếp tục chỉ đạo triển khai công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn từng bước bổ sung, hoàn thiện nhận thức về các hệ giá trị. Những thành quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được chắt lọc, đúc kết trong các văn kiện của Đảng từ khóa VI đến khóa XIII; được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (Nghị quyết số 33). Trong đó, một trong những nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng của Nghị quyết số 33 là: “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc...”.

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần phải thực hiện thật tốt là: “Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị, chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Những giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi văn hóa gia đình Việt Nam với những giá trị cốt lõi: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển bởi nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc”.

Trên cơ sở đó, nhiều cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức để các nhà khoa học trao đổi, bàn bạc và thống nhất những nội dung cơ bản về chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Hiện nay, với ý kiến của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, sự nhất trí của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, chúng ta đã xác định chuẩn mực con người Việt Nam bao gồm tám giá trị/nội dung cốt lõi: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Về nội dung, có thể nhìn thấy, tám chuẩn mực con người Việt Nam gồm hai nhóm: Chuẩn mực về tư tưởng, nhận thức, tình cảm, thái độ và chuẩn mực về hành vi ứng xử.

2. Ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật

Trên cơ sở đúc kết thực tiễn 35 năm đổi mới và phát triển, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 27 được ban hành vào đúng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (09/11) và là nghị quyết có tính chất chuyên đề đầu tiên về Nhà nước pháp quyền của Đảng ta. Trong đó, từ quan điểm đến mục tiêu, đặc biệt là mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 27 đặt ra vấn đề bảo đảm thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và phấn đấu đến 2030, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật phải trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội.

Thượng tôn Hiến pháp, pháp luật là vấn đề được nhiều nhà khoa học nghiên cứu cùng với khái niệm về nhà nước pháp quyền. Trong bài này, tác giả khái quát lại theo cách hiểu của cá nhân như sau:

Thứ nhất, thượng tôn Hiến pháp, pháp luật là đặt Hiến pháp, pháp luật ở vị trí cao nhất, “đứng” trên tất cả các thiết chế, quyền lực trong kiến trúc chung của xã hội.

Thứ hai, thượng tôn Hiến pháp, pháp luật là việc lấy pháp luật làm công cụ để “kiềm tỏa” quyền lực của các cơ quan nhà nước, các cơ quan này chỉ được làm những việc pháp luật quy định.

Thứ ba, thượng tôn Hiến pháp, pháp luật là việc tuân theo pháp luật “không có ngoại lệ”, nghĩa là không ai đứng bên ngoài pháp luật và tất cả các cá nhân, tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật. Hiện nay, ở Việt Nam thường sử dụng cụm từ “không có vùng cấm” cũng chính là sự thể hiện tinh thần “thượng tôn Hiến pháp, pháp luật” trong thi hành pháp luật, bảo đảm tính nghiêm minh, thực chất.

Thứ tư, thượng tôn Hiến pháp, pháp luật được thể hiện là mỗi người trong xã hội luôn được/cần/phải sống, làm việc theo Hiến pháp, pháp luật. Cũng từ đó, chúng ta có thể hiểu “ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật” là ý thức của mọi chủ thể trong xã hội, kể cả Nhà nước trong việc tôn trọng pháp luật, dựa vào pháp luật và bảo vệ pháp luật, sống, làm việc theo Hiến pháp, pháp luật để bảo đảm chính quyền lợi, lợi ích hợp pháp của mình và xã hội. Nghị quyết số 27 đã xác định đây phải là chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Có thể khẳng định, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật vừa để đặt nền móng vừa cũng chính là mục tiêu của một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy rằng, theo tinh thần trên, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật chính là một nội dung, giá trị cốt lõi của chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay. Điều này không chỉ được minh chứng trong cách hành văn của Nghị quyết số 27 mà còn thể hiện rõ trong mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, lôgíc giữa nội hàm của chuẩn mực con người Việt Nam được xây dựng từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật theo Nghị quyết số 27. Đây là sự tương hỗ mật thiết và mang tính tự thân, hiển nhiên nhằm làm cho chuẩn mực con người Việt Nam vừa mang tính nhân văn, giàu bản sắc văn hóa Việt Nam nhưng đồng thời cũng mang tính “pháp quyền”, gắn liền với một xã hội dân chủ, nhân quyền, để cho ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật trở thành nền tảng văn hóa tinh thần và ứng xử trong mọi điều kiện cuộc sống của người Việt Nam, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đức trị và pháp trị, đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại[3].

3. Mối quan hệ biện chứng giữa chuẩn mực con người Việt Nam và ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật

3.1. Gắn với xây dựng con người mới hiện nay, các chuẩn mực con người Việt Nam chính là những nội dung cụ thể của ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật khi mà ý thức này đã trở thành chuẩn mực ứng xử của mỗi người và được coi là văn hóa pháp luật trong xã hội

Chúng ta biết rằng, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật không thể được đề cập một cách chung chung mà phải có nội hàm cụ thể gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi chủ thể trong xã hội. 08 chuẩn mực con người Việt Nam chính là những nội dung, sự thể hiện rõ ràng, thiết thực, nhân văn sâu sắc, gắn với văn hóa của dân tộc Việt Nam về ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật. Ở bài viết này, tác giả lấy một số nội dung cụ thể để minh chứng cho khẳng định nêu trên.

Trước hết, đó là “lòng yêu nước”. Đây là một phẩm chất vốn có của người Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Yêu nước chính là một tình cảm thiêng liêng dành cho quê hương, đất nước và đồng bào nơi mình sinh sống. Tình cảm đó thể hiện rất đơn giản từ việc giữ gìn bản sắc dân tộc, nét đẹp quê hương, môi trường văn hóa, môi trường sống đến việc sẵn sàng bảo vệ lợi ích chung, sẵn sàng hy sinh vì những lợi ích đó. Điều đó chính là sự thực hành “lòng yêu nước” theo tinh thần của Hiến pháp, pháp luật (các điều 11, 45, 46 Hiến pháp năm 2013…). Như vậy, lòng yêu nước và thực hành lòng yêu nước nghĩa là sự thể hiện cụ thể ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và không thể có ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật khi chúng ta không có lòng yêu nước, tự hào dân tộc và dám hy sinh vì lợi chung của đất nước. Ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật phải luôn được thể hiện một cách chủ động, chủ động tuân theo và chủ động đấu tranh, không được bàng quan trước những hành vi sai trái của người khác, ảnh hưởng xấu đến lợi ích chung.

Thứ hai, một trong những chuẩn mực khác của con người Việt Nam, đó là “tính kỷ cương”. Kỷ cương nghĩa là tuân theo, làm đúng, làm đủ, làm có trình tự đúng yêu cầu, quy định những công việc được giao trong lao động, sản xuất hoặc thực hiện những quyền, nghĩa vụ trong cuộc sống hàng ngày, góp phần tích cực tạo nên trật tự cho xã hội. Một người không được gọi là “có kỷ cương” khi họ không tuân theo pháp luật, quy chế, kỷ luật… Vì vậy, kỷ cương chính là sự thể hiện cụ thể nhất của ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật của mỗi người.

3.2. Ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật tạo nên nền văn hóa ứng xử để giữ gìn phẩm chất, chuẩn mực, giá trị con người Việt Nam

Khi một người đã có được nhận thức đúng về vai trò của pháp luật, thường xuyên trau dồi hiểu biết pháp luật và luôn chú tâm để việc mình làm, hành vi của mình không vượt ra khỏi khuôn khổ của pháp luật, không vi phạm điều cấm và “tôn trọng, tuân theo, dựa vào và bảo vệ pháp luật” thì có nghĩa họ luôn hoàn thành vai trò là một công dân gương mẫu trong xã hội bởi họ không chỉ biết vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của chính mình mà còn sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích chung và hơn thế nữa họ dám đứng ra để bảo vệ pháp luật, chống lại mọi hành vi vi phạm pháp luật. Như vậy, có thể nói đây chính là ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật hiểu theo nghĩa rộng và đầy đủ nhất. Khi một người đã có được ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và điều đó đã trở thành chuẩn mực của họ trong ứng xử hàng ngày thì cũng đồng nghĩa với việc dựa vào ý thức đó, mọi giá trị, chuẩn mực và phẩm chất của người Việt Nam sẽ được giữ gìn, vun đắp và được hiện thực hóa. Nếu ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật chưa được hình thành đầy đủ, toàn diện thì những phẩm chất của con người Việt Nam như đã đề cập ở trên không thể tồn tại trong mỗi con người Việt Nam hoặc nếu có thì sẽ không đầy đủ và không thể bền vững.

Chính vì vậy, chuẩn mực con người Việt Nam là những nội dung thể hiện ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật và ngược lại, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật là “giá đỡ”, nền tảng văn hóa pháp luật để cho các chuẩn mực đó trở thành phẩm chất thực sự và tồn tại bền vững trong ứng xử cụ thể hàng ngày của mỗi người Việt Nam trong thời đại mới, góp phần quyết định thắng lợi của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương lai, để Việt Nam trở thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Cũng từ đó, việc xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam cần được tiếp tục nghiên cứu để bảo đảm tính toàn diện, phù hợp văn hóa của dân tộc Việt Nam, mang tính thời đại và được kết hợp nhuần nhuyễn giữa đức trị và pháp trị, đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại về dân chủ, nhân quyền, pháp quyền.

TS. Lê Vệ Quốc

Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp

[1]. Xem: https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/xay-dung-he-gia-tri-gia-dinh-va-chuan-muc-con-nguoi-viet-nam-trong-thoi-ky-moi-625964.html, truy cập ngày 01/12/2022.

[2]. GS.TS. Hồ Sĩ Quý, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Vấn đề xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam, nguồn: https://hdll.vn/vi/nghien-cuu—-trao-doi/ve-van-de-xay-dung-chuan-muc-con-nguoi-viet-nam.html, truy cập ngày 05/12/2022.

[3]. PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Mối quan hệ giữa đức trị và pháp trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, nguồn: https://tcnn.vn/news/detail/43245/Moi-quan-he-giua-%E2%80%9Cduc-tri%E2%80%9D-va-%E2%80%9Cphap-tri%E2%80%9D-trong-tu-tuong-Ho-Chi-Minh-ve-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-o-Viet-Nam.html, truy cập ngày 01/12/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: