Thứ ba 25/08/2026 16:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chức năng xã hội của hình phạt

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội. Bên cạnh tính chất trừng trị hành vi phạm tội, hình phạt còn có chức năng phòng ngừa tình hình tội phạm; chức năng giáo dục, cải tạo; chức năng bảo đảm và thực thi công lý. Những chức năng đó được gọi chung là chức năng xã hội của hình phạt. Bài viết đã đưa ra khái niệm và lý giải cụ thể về những chức năng xã hội của hình phạt.

Chức năng là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nghiên cứu xã hội học. Việc nghiên cứu chức năng, quan điểm về chức năng, phân tích chức năng, lý thuyết về chức năng là một trong những yếu tố hình thành nên các hệ tư tưởng, học thuyết khác nhau về xã hội học. Trong bài viết này, tác giả vận dụng những nhận thức cơ bản về chức năng để tiến hành nghiên cứu các chức năng xã hội của hình phạt, làm sáng tỏ hệ thống và từng chức năng xã hội cụ thể theo cách tiếp cận nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự.

1. Khái niệm chức năng xã hội của hình phạt

Chức năng của pháp luật là “những tác động của pháp luật đến các quan hệ xã hội nhằm duy trì trật tự và đem lại lợi ích cho xã hội trong đó có lợi ích của giai cấp thống trị”[1]. Hình phạt là một chế định pháp luật hình sự, vì vậy, nó mang trong mình và thực hiện các chức năng cụ thể của luật hình sự cũng như giải quyết những nhiệm vụ, mục đích xã hội cụ thể. Các chức năng này phản ánh bản chất, tính tất yếu và có mục đích của hình phạt, lý giải tại sao hình phạt lại cần thiết đối với đời sống xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu tìm hiểu và làm sáng tỏ các chức năng xã hội của hình phạt đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.

Với cách dẫn luận trên, có thể hiểu: “Chức năng xã hội của hình phạt là khả năng thực hiện những tác động xã hội cụ thể trong việc sử dụng hình phạt theo những định hướng của mục tiêu mà luật hình sự đề ra và nhu cầu đòi hỏi của xã hội”. Chức năng xã hội của hình phạt được thể hiện qua bản chất, mục đích, nội dung của từng loại hình phạt và của cả hệ thống hình phạt. Bên cạnh đó, nó còn được thể hiện xuyên suốt quá trình xây dựng, áp dụng và thi hành của hình phạt. Chức năng xã hội của hình phạt có mối liên hệ gần gũi với các yếu tố, khía cạnh khác của hình phạt, đặc biệt có thể kể đến là mục đích của hình phạt. Nếu mục đích là nêu lên các lý tưởng cần đạt được, thì các lý giải về chức năng sẽ nêu lên cơ chế hoạt động của hiện tượng hình phạt để đạt được các mục đích đó. Cùng với đó, các phương pháp lý luận của xã hội học hình phạt sẽ góp phần luận giải các chức năng xã hội của hình phạt theo nhiều chiều hướng, khía cạnh đa diện hơn.

2. Các chức năng xã hội của hình phạt

2.1. Chức năng phòng ngừa tình hình tội phạm

Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định một trong những mục đích quan trọng của hình phạt đó là “phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”. Hình phạt là biện pháp tác động của Nhà nước có khả năng ứng phó, phản ứng nhanh nhất đối với các hành vi phạm tội nảy sinh trong đời sống xã hội. Điều này xuất phát từ khả năng tác động trực tiếp tới người phạm tội, chính là chức năng phòng ngừa riêng của hình phạt[2]. Thông qua việc áp dụng hình phạt đối với các tội phạm bị phát hiện (thực hiện chức năng phòng ngừa riêng) hình phạt tự bản thân nó tiếp tục thực hiện và phát huy chức năng phòng ngừa chung đối với các tội phạm chưa bị phát hiện trong xã hội. Phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng trong mối tương quan với nhau, có thể nói rằng việc thực hiện có hiệu quả một chức năng nào cũng phải trên cơ sở thực hiện chức năng còn lại.

Để thực hiện chức năng phòng ngừa tình hình tội phạm, hình phạt phải có khả năng nhận diện, tác động và giảm thiểu các yếu tố thuộc về nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tình hình tội phạm. Nếu hình phạt chỉ nhằm ứng phó với các tội phạm cụ thể đang xảy ra mà không quan tâm những mục tiêu dài hơn là xác định các nguyên nhân và điều kiện phạm tội điển hình để có hướng tác động chiến lược trong tương lai, thì chức năng phòng ngừa tình hình tội phạm của hình phạt sẽ khó đi đến những hiệu quả cao nhất.

Trong quá trình xây dựng hình phạt, cần có những tổng kết thực tiễn nhằm khái quát khả năng phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng của hình phạt để từ đó có thể thiết kế nội dung của hình phạt phù hợp với những điều kiện xã hội, với những xu hướng phát triển của tình hình tội phạm trong tương lai để hình phạt luôn thực hiện tốt chức năng phòng ngừa từng hành vi phạm tội. Quá trình xây dựng hình phạt cũng cần lưu ý tới những nguyên nhân và điều kiện phạm tội điển hình của từng loại tội phạm để từ đó việc thiết kế nội dung của từng loại hình phạt, hệ thống hình phạt có khả năng, khi áp dụng, sẽ khắc phục và giảm thiểu tối đa các nguyên nhân và điều kiện phạm tội đó. Đối với quá trình áp dụng hình phạt, cần tính toán và ước lượng mức độ tác động của hình phạt được áp dụng tương ứng với các yếu tố nhân thân người phạm tội, bảo đảm tính cá thể hóa hình phạt sâu sắc với cá nhân người phạm tội, từ đó phát huy hết khả năng chống và phòng ngừa tội phạm của hình phạt.

Có thể thấy, việc thực hiện có hiệu quả chức năng phòng ngừa tình hình tội phạm là điều kiện làm gia tăng khả năng kiểm soát tội phạm trong xã hội[3]. Tuy nhiên, hình phạt không phải là phương tiện, cách thức duy nhất đề đấu tranh với tình hình tội phạm cũng như phòng ngừa tình hình tội phạm không phải là chức năng riêng có của hình phạt. Bên cạnh việc sử dụng và áp dụng hình phạt, cần đi kèm với nó là hệ thống các biện pháp tác động cụ thể, các chính sách hình sự, chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm ở các quy mô, chiến lược khác nhau và sự kết hợp giữa các yếu tố này yêu cầu phải bảo đảm sự hài hòa trong tổng thể chung của các biện pháp hình sự.

2.2. Chức năng giáo dục, cải tạo

Giáo dục là một chức năng của pháp luật, do đó, hình phạt cũng có chức năng giáo dục. Với đặc thù là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, mang tới nhiều hậu quả bất lợi với đối tượng bị áp dụng, hình phạt còn thực hiện chức năng cải tạo. Giáo dục và cải tạo có thể hiểu là một dạng “chức năng kép” của hình phạt. Tuy vậy, mặc dù có nhiều đặc điểm giống nhau, hai chức năng vẫn tồn tại độc lập trong nội hàm của chúng. Trong các sách báo pháp lý hiện nay, giáo dục và cải tạo của hình phạt thường được nghiên cứu với tư cách là những phương tiện, cách thức thực hiện chức năng hoặc mục đích phòng ngừa chung, phòng ngừa riêng của hình phạt. Chúng tôi cho rằng, cần có sự phân tích, bình luận giáo dục và cải tạo một cách độc lập với tư cách là những chức năng xã hội quan trọng của hình phạt.

Hoạt động giáo dục là một lĩnh vực được nghiên cứu bởi khoa học giáo dục, khoa học quản lý giáo dục và một số ngành khoa học liên quan. Tuy nhiên, khi đề cập giáo dục với tính cách là một thành tố, nội dung, mục đích, phương thức của pháp luật hay hình phạt, rõ ràng nó đã giành được nhiều sự quan tâm hơn cả trong các nghiên cứu của khoa học pháp lý, cụ thể là lĩnh vực giáo dục pháp luật[4]. Từ đó cho thấy, nghiên cứu chức năng giáo dục của hình phạt không thể tách rời các nền tảng lý luận của giáo dục pháp luật để làm sáng tỏ hơn nữa các cơ chế hoạt động, tác động đến các đối tượng được giáo dục và kết quả của sự tác động đó.

Bản thân hình phạt hàm chứa các thông tin pháp luật truyền tải những hiểu biết, kiến thức cơ bản về luật hình sự tới toàn thể các thành viên trong xã hội. Các thông tin đó phản ánh sự nghiêm khắc, tính chất bất lợi của hình phạt, cũng như các tinh thần, tư tưởng, nguyên tắc, các giá trị xã hội của pháp luật hình sự, để các thành viên trong xã hội có thể thấu hiểu và định hình hành vi nhằm không vi phạm các điều cấm của luật hình sự. Tùy thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh, sự nhận thức, ý thức, lối sống, suy nghĩ khác nhau mà sự tác động của hình phạt tới mỗi con người là khác nhau.

Có thể nói rằng, hình phạt thực hiện chức năng giáo dục của mình qua ba mức độ: (i) Hình thành sự hiểu biết về hình phạt ở mỗi cá nhân; (ii) Hình thành tâm lý muốn tránh né, không muốn tự đặt mình vào mối quan hệ pháp luật hình sự để dẫn tới việc gánh chịu hình phạt; (iii) Mỗi cá nhân hiện thực hóa những ý muốn của họ bằng việc không vi phạm các điều cấm của luật hình sự. Ba mức độ này thể hiện một cách có trình tự các diễn biến từ nhận thức đến hành vi của mỗi cá nhân. Chỉ khi mỗi cá nhân liên tục đáp ứng các yêu cầu và đạt đến mức độ cuối cùng thì chức năng giáo dục của hình phạt mới được thực hiện có hiệu quả.

Chức năng giáo dục của hình phạt còn hướng sự tác động của mình tới các đối tượng là người phạm tội đang chấp hành hình phạt. Các hình phạt đang áp dụng đối với người phạm tội không chỉ nhằm cải tạo người phạm tội trở lại thành những công dân tốt, vững vàng hơn trong các hành vi, mà trong quá trình cải tạo đó còn được lồng ghép hài hòa các phương thức giáo dục để tăng cường, bảo đảm hiệu quả cao nhất của hình phạt.

Khác với chức năng giáo dục, chức năng cải tạo của hình phạt hoàn toàn tập trung vào nhóm người đang chấp hành hình phạt. Cải tạo người phạm tội là tổng thể các biện pháp tác động đến người phạm tội nhằm loại trừ những nhân tố tiêu cực với tính cách là nguyên nhân và điều kiện đã khiến họ phạm tội, củng cố những nhân tố tích cực để họ có thể tự điều chỉnh, cải thiện ý thức cho đến hành vi phù hợp hơn với chuẩn mực pháp luật hình sự và chuẩn mực xã hội.

Nhiệm vụ đặt ra đối với cải tạo người phạm tội là phải hướng tới cải tạo tư tưởng, cải tạo nhân cách và cải tạo hành vi. Cải tạo tư tưởng có thể hiểu một cách cơ bản là “làm thay đổi căn bản nhằm xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, trau dồi tư tưởng mới tiến bộ. Cải tạo tư tưởng là quá trình lâu dài, tiến hành bằng nhiều biện pháp và phương tiện tổng hợp; phê bình, tự phê bình, học tập tập trung, tuyên truyền qua sách báo, hoạt động văn hóa, văn nghệ và các phương tiện thông tin đại chúng…”[5]. Cải thiện các tư tưởng, suy nghĩ, tâm lý, tư duy của người phạm tội từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, văn minh hơn góp phần hình thành và phát triển các nhân cách tốt, tích cực phù hợp với các giá trị và chuẩn mực xã hội. Việc cải tạo tư tưởng, cải tạo nhân cách sẽ góp phần định hình các hành vi tích cực tuân thủ luật hình sự trong quá trình chấp hành hình phạt, cũng như các hành vi tuân thủ luật hình sự trong tương lai, từ đó đẩy lùi các khả năng tái phạm của người phạm tội. Dĩ nhiên, giá trị cốt lõi của cải tạo tư tưởng còn đòi hỏi ở việc “trước hết và quan trọng nhất là hoạt động tinh thần của bản thân mỗi con người, nghĩa là quá trình tự cải tạo”[6] và “phụ thuộc vào cải tạo kinh tế - xã hội, vào hoạt động thực tiễn của đối tượng được cải tạo”[7]. Điều đó yêu cầu cần có tổng thể hệ thống các biện pháp được lồng ghép trong hình phạt nhằm kích thích sự chủ động của người phạm tội trong nhu cầu, mong muốn tự hoàn thiện, cải thiện nhân cách, hành vi của bản thân mình; các biện pháp tác động cần phải cân nhắc hài hòa các yếu tố nhân thân của người đang chấp hành hình phạt và phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội cho phép.

Có thể thấy, cơ chế hoạt động của chức năng giáo dục, cải tạo của hình phạt có sự phân hóa trong đối tượng tác động cũng như có sự phối hợp trong cơ chế tác động đến các đối tượng mà nó hướng tới. Mặc dù nội dung, phạm vi, đối tượng tác động của các chức năng này là khác nhau, nhưng đều chung một mục đích tác động là đi từ các yếu tố chủ quan (tư tưởng, nhân cách) đến hành vi của công dân, người phạm tội, người đang chấp hành hình phạt. Nhìn chung, chức năng giáo dục, cải tạo của hình phạt là lĩnh vực đòi hỏi những nghiên cứu chuyên môn sâu sắc hơn nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề như cách thức, phương án, hình thức của giáo dục, cải tạo. Nội dung truyền tải trong các cách thức giáo dục, cải tạo; giáo dục, cải tạo gắn liền với đặc điểm nhân thân người chấp hành hình phạt và các nhóm người điển hình trong xã hội…

2.3. Chức năng bảo đảm và thực thi công lý

Công lý có một vị trí quan trọng, là trung tâm của các giá trị xã hội. Công lý chi phối, định hướng nhiều giá trị xã hội (công bằng, bình đẳng, dân chủ…), phẩm hạnh và đạo đức con người. Trong lĩnh vực luật hình sự, sự biểu hiện của công lý được thể hiện một cách trọng tâm ở vấn đề hình phạt. Hình phạt là sự biểu hiện của công bằng xã hội[8]. Trong khi đó, công bằng (cũng có thể hiểu trong trường hợp này là công bằng xã hội) là một giá trị pháp luật cơ bản[9], là một đòi hỏi, dấu hiệu bắt buộc của công lý. Do đó, bảo đảm và thực thi công lý được nhìn nhận là một chức năng xã hội quan trọng của hình phạt.

Trong lĩnh vực luật hình sự, sự biểu hiện của công lý trước tiên là kịp thời nhận diện những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm, từ đó, đặt ra tính không thể tránh khỏi việc áp dụng hình phạt lên các hành vi phạm tội đó[10]. Như vậy, cần xem xét sự biểu hiện của công lý của hình phạt trong mối quan hệ không thể tách rời với tội phạm.

Hình phạt bảo đảm và thực thi công lý qua một số biểu hiện cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hình phạt cho thấy sự lên án một cách gay gắt đi kèm với thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm. Việc hình thành thái độ về một hiện tượng sẽ chi phối nhiều đến việc đưa ra các quyết định hành động đối với hiện tượng đó. Với thái độ đó, “mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật” (điểm a khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015) cho thấy những yêu cầu, đòi hỏi không bỏ lọt tội phạm như một nguyên tắc quan trọng cũng như là một sự biểu hiện, bảo đảm và thực thi công lý thông qua hình phạt. Tội phạm là những hiện tượng tiêu cực của xã hội, việc có những cơ chế xử lý thích đáng với hiện tượng này chính là bảo đảm và thực thi công lý. Hình phạt là một trong những biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn, giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các hành vi vi phạm để bảo đảm tính tích cực trong sự phát triển các quan hệ xã hội.

Thứ hai, hình phạt bảo đảm và thực thi công lý khi nó tuân thủ một cách chặt chẽ nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Nếu mức độ nghiêm trị của hình phạt không tương xứng với mức độ và hậu quả xã hội mà tội phạm gây ra thì sẽ không thể bảo đảm cho công bằng xã hội cho những nạn nhân và người bị hại của tội phạm. Nếu mức độ tác động của hình phạt quá nghiêm khắc, quá mức cần thiết đối với mức độ và hậu quả xã hội mà tội phạm gây ra thì sẽ không thể bảo đảm sự công bằng đối với người phạm tội. Nếu cùng một mức độ và hậu quả xã hội mà hình phạt áp dụng đối với các tội phạm giống nhau mà mức độ nghiêm trị, độ hà khắc của hình phạt lại khác nhau thì cũng không thể bảo đảm các giá trị công bằng đối với các cá nhân người phạm tội cụ thể. Công lý của hình phạt gắn liền với các giá trị nhân đạo, do đó cần cân đối những yếu tố bất lợi của hình phạt tác động đến người phạm tội ở một đại lượng nhất định nhằm đáp ứng các chức năng giáo dục, cải tạo của hình phạt và không đẩy những cá nhân đó vào các tình thế quá bất lợi như là một sự trả thù của xã hội. Như vậy, suy rộng ra, sự biểu hiện công lý của hình phạt như một chức năng cần được phân chia ở nhiều cấp độ và ở từng đối tượng: (i) Công lý trong mối quan hệ giữa tội phạm với Nhà nước, với xã hội, với nạn nhân; (ii) Công lý với chính bản thân người phạm tội. Đòi hỏi công lý đối với xã hội là hoàn toàn đúng đắn nhưng điều đó không thể loại trừ việc đòi hỏi công lý với chính những người phạm tội. Điều quan trọng đó là, người phạm tội phải thấu hiểu các giá trị công lý, công bằng, bình đẳng, nhân đạo qua quá trình chịu sự tác động, áp dụng và thi hành hình phạt. Sự thấu hiểu đó mới bảo đảm sự tiếp nhận các chức năng lành mạnh của hình phạt đến người phạm tội, từ đó trở thành những điều kiện quan trọng cho việc tự giáo dục, tự cải tạo.

Thứ ba, hình phạt một mặt nghiêm trị tội phạm, mặt khác, nó là phương tiện, cách thức khắc phục, phục hồi và bồi hoàn trong khả năng, chừng mực có thể các hậu quả xã hội do tội phạm gây ra đối với xã hội. Chức năng công lý phục hồi (Restorative Justice) của hình phạt chính là sự tìm kiếm các giải pháp có hiệu quả nhằm nỗ lực khôi phục nguyên vẹn các hậu quả đáng tiếc của tội phạm trong khả năng có thể. Những hậu quả của tội phạm trong xã hội là vô cùng đa dạng, do đó, việc kịp thời khắc phục những hậu quả này không chỉ bảo đảm tính toàn vẹn của sự lành mạnh trở lại trong các quan hệ xã hội mà còn là bảo đảm và thực thi công lý cho nạn nhân của tội phạm. Sự khắc phục có thể ở phương diện vật chất hoặc phương diện tinh thần hoặc cả hai. Sự khắc phục ở đây chính là bồi hoàn cho những gì đã mất mát của nạn nhân trong các vụ án cũng như củng cố niềm tin vào công lý đã được thực thi bởi việc sử dụng và thi hành hình phạt. Chức năng công lý phục hồi của hình phạt phải bảo đảm tính kịp thời, tính tương xứng với hậu quả của tội phạm, tính khả thi trong việc phục hồi… Cần có sự phân biệt giữa công lý phục hồi với sự trả thù. Việc phục hồi các hậu quả của nạn nhân được tiến hành bởi một biện pháp hợp pháp là hình phạt mặc dù nó đem lại những hậu quả bất lợi đối với người phạm tội. Trong nhiều trường hợp, hậu quả của tội phạm để lại đối với nạn nhân là không thể khôi phục nguyên vẹn như trước, ví dụ, sự tổn thương tâm lý khi nạn nhân bị hiếp dâm là không thể xóa bỏ, hoặc nạn nhân đã chết, hoặc cũng có trường hợp gây ra thiệt hại về tài sản không thể khôi phục lại được... Có thể thấy “hạn chế” đó là một giới hạn tất yếu trong khả năng khắc phục, bồi hoàn của chức năng công lý phục hồi. Đặc biệt là trong xu hướng tăng cường hơn nữa các giá trị nhân đạo trong hình phạt hiện nay, rõ ràng có nhiều hình phạt không thể phục hồi tương xứng một cách hoàn toàn với những hậu quả mà người phạm tội đã gây ra không chỉ đối với nạn nhân mà còn với xã hội. Về bản chất, những thiệt hại về vật chất và tinh thần của nạn nhân sẽ là rất khó khăn trong việc phục hồi chúng về với trạng thái ban đầu. Đến khi nào hình phạt được thực thi và khắc phục được các hậu quả của tội phạm gây ra, được đánh giá là xứng đáng, đem lại cảm giác hài lòng, tin tưởng của nạn nhân thì đến khi đó công lý của hình phạt vẫn luôn là một giá trị cần có và tất yếu.

Võ Khánh Linh
Học viện Khoa học xã hội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Lê Minh Tâm, Nguyễn Minh Đoan (đồng chủ biên), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, 2014, tr. 109.

[2]. Nguyễn Ngọc Hòa, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Tập I, Nxb. Công an nhân dân, 2013, tr.231 - 233.

[3]. Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, Một số vấn đề lý luận về lý thuyết kiểm soát xã hội đối với tội phạm và thực tiễn ở Việt Nam, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 04(35)/2016, tr. 17 - 34.

[4]. Đọc thêm: Trần Ngọc Đường, Dương Thanh Mai (đồng chủ biên), Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.

[5]. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam - tập 1, Nxb. Từ điển Bách khoa, 2007, tr. 430.

[6]. Xem: Sđd.

[7]. Xem: Sđd.

[8]. Nguyễn Mạnh Kháng, Quan điểm tiếp cận hiệu quả của hình phạt, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8/2002.

[9]. Võ Khánh Vinh, Về Giá trị học pháp luật, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 7/2014, tr. 3 - 16.

[10]. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Luật Hình sự Việt Nam - phần chung, Nxb. Khoa học xã hội, 2014, tr. 115 - 116.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: