Thứ sáu 16/01/2026 01:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ cấu tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Theo lý luận về tội phạm học, những chỉ số (đặc điểm) về chất của tình hình tội phạm là cơ cấu và tính cấu và tính chất của nó.

Cơ cấu của tình hình tội phạm là tỷ trọng và mối tương quan của các loại tội phạm khác nhau trong số lượng chung của chúng trong một khoảng thời gian nhất định và ở một lãnh thổ (địa bàn) nhất định. Các chỉ số về cơ cấu của tình hình tội phạm chỉ rõ đặc điểm lượng - chất của tính nguy hiểm cho xã hội của tình hình tội phạm, chỉ rõ chỉ số các đặc điểm của nó. Những nội dung này có ý nghĩa rất cơ bản đối với việc tổ chức phòng ngừa và việc phân hóa thực tiễn áp dụng các biện pháp pháp luật hình sự. Cơ cấu của tình hình các tội phạm về ma túy giữ vai trò là cơ sở chủ yếu cho việc đánh giá tính chất của tình hình tội phạm và đặc biệt là cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, là một trong những cơ sở trực tiếp khách quan cho việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn một tỉnh, cũng như trong cả nước. Trong bài viết này, chúng tôi thực hiện phân tích cơ cấu tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Điện Biên nhằm góp phần đánh giá tính chất, lý giải nguyên nhân và điều kiện của loại tội phạm này.

Cơ cấu theo tội danh, các tội phạm về ma túy có mức độ phổ biến cao nhất trong cả giai đoạn là tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 Bộ luật Hình sự hiện hành với 3.291 vụ, chiếm tỷ lệ 99,91% trong tổng số các tội phạm về ma túy; còn lại là tội phạm về ma túy có mức độ phổ biến thấp, chưa đến 1% trong tổng số các tội phạm về ma túy, cụ thể: Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 198 Bộ luật Hình sự) chiếm tỷ lệ 0,06%; tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193 Bộ luật Hình sự) chỉ chiếm tỷ lệ 0,03%. Kết quả khảo sát cho thấy, trong 327 bản án với 375 bị cáo phạm tội về ma túy, có 135 vụ án và 162 bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, chiếm tỷ lệ cao nhất 41,28 số vụ và 43,20% số bị cáo; có 96 vụ án và 102 bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chiếm tỷ lệ 29,36 số vụ và 27,20 số bị cáo; có 51 vụ và 60 bị cáo phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy, chiếm tỷ lệ 15,60 số vụ và 16% số bị cáo; có 41 vụ và 51 bị cáo phạm nhiều tội chiếm tỷ lệ thấp nhất 13,76% số vụ và 13,60% số bị cáo. Trường hợp phạm nhiều tội, có vụ có mức độ nghiêm trọng đáng kể, song chủ yếu kèm theo hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bản thân người phạm tội (chiếm tỷ lệ 13,76%).

Phân tích số liệu thống kê hình sự đối với 3953 bị cáo đã xét xử giai đoạn 2008 - 2014 cho thấy, có khoảng 1/3 (chiếm 32,13%) số bị cáo phạm tội thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng; tội phạm nghiêm trọng chiếm tỷ lệ 16,95%; tội phạm ít nghiêm trọng chiếm tỷ lệ cao nhất 50,92%. Số liệu này phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, đặc biệt lớn của các tội phạm về ma túy đã xảy ra trong giai đoạn này. Thực tiễn đấu tranh với tội phạm về ma túy cho thấy khi phát hiện vụ án có nhiều người tham gia thì thường là người phạm tội có tâm lý dựa vào sức mạnh tập thể, có hành động liều lĩnh hơn và có khả năng gây hậu quả lớn hơn nhằm che giấu tội phạm, chống lực lượng vây bắt.

Cơ cấu theo đơn vị hành chính cho thấy, toàn tỉnh đã xét xử 3.096 vụ án với 3.953 bị cáo, trong đó, Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử 2.939 vụ án, 3.570 bị cáo. Sắp xếp theo tỷ lệ từ cao xuống thấp theo thứ tự cấp huyện như sau: Điện Biên 33%, Mường Nhé 13,58%, Tuần Giáo 10,14%, Mường Chà 9,87%, Mường Ảng 9,08%, Điện Biên Phủ 8,51%, Điện Biên Đông 6,87%, Tủa Chùa 4,29%, Mường Lay 3,16%, Nậm Pồ 1,50%. Theo thống kê, mức độ các tội phạm về ma túy trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố có sự chênh lệch rất lớn. Tính riêng 5/10 huyện đứng đầu đã chiếm tỷ lệ 75,67% trên tổng số vụ án cấp huyện đã xét xử; trong các huyện còn lại thì đáng lưu ý là thành phố Điện Biên Phủ chiếm tỷ lệ 8,51%, còn lại là các huyện khác ở mức độ trung bình và thấp. Tỷ lệ số vụ án và bị cáo của các đơn vị có xu hướng gia tăng hằng năm trong cả giai đoạn. Tính trung bình, huyện Điện Biên là địa bàn có số án ma túy lớn nhất trong các đơn vị cấp huyện, có nhiều vụ đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm; thị xã Mường Lay là địa bàn có số án ma túy thấp nhất trong cả giai đoạn (huyện Nậm Pồ mới thành lập năm 2013 do chia tách huyện Mường Nhé nhưng đã chiếm tỷ lệ 1,50%). Địa bàn các huyện trọng điểm về tình hình mua bán, vận chuyển, tàng trữ chất ma túy trên địa bàn tỉnh Điện Biên có đặc điểm là giáp biên giới với Lào và Trung Quốc; tiếp giáp các tỉnh Sơn La, Lai Châu, địa hình phức tạp, hiểm trở (độ dốc lớn, mức độ chia cắt ngang và chia cắt sâu lớn; được cấu tạo bởi những dãy núi cao và các thung lũng, sông suối nhỏ, hẹp, có các lối mở, lối tắt khó kiểm soát).

Điện Biên có vị trí gần với khu vực trọng điểm về ma túy của thế giới, cụ thể là các nước Nam Á và các tỉnh thuộc Bắc Lào. Thời gian qua, đã phát hiện nhiều đường dây mua bán, vận chuyển chất ma túy lớn xuyên quốc gia từ các tỉnh Bắc Lào qua địa bàn Điện Biên để đi các tỉnh, đi nước ngoài và các tuyến nội tỉnh, gồm: Tuyến các tỉnh Bắc Lào - Điện Biên - Sơn La - Hòa Bình - Hà Nội; các tỉnh Bắc Lào - Điện Biên - Lai Châu - Lào Cai; các tỉnh Bắc Lào vào các xã biên giới huyện Điện Biên và vào địa bàn nội địa; các tỉnh Bắc Lào vào các xã biên giới huyện Mường Nhé, huyện Mường Chà và vào nội địa; Tuyến Điện Biên Đông - TP. Điện Biên Phủ - Hà Nội; Điện Biên Đông - TP. Điện Biên Phủ - Lai Châu - Lào Cai; Điện Biên Đông - TP. Điện Biên Phủ - huyện Mường Nhé. Trong đó, xác định rõ 3 tuyến nổi bật nhất, gồm: Tuyến biên giới Điện Biên (Việt Nam) - Lào; Tuyến Điện Biên - Hà Nội; Tuyến Điện Biên - Lai Châu. Mối liên kết thực hiện tội phạm đã tạo ra những tuyến vận chuyển, mua bán ma túy xuyên biên giới từ các tỉnh Bắc Lào vào Điện Biên và đi các tỉnh nội địa Việt Nam để tiêu thụ hoặc chuyển ra nước ngoài.

Qua nghiên cứu số liệu thống kê 3.953 bị cáo đã xét xử sơ thẩm về các tội phạm về ma túy cho thấy, nếu theo hình phạt chính, có 130 bị cáo bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo chiếm tỷ lệ 3,29%; có 1.883 bị cáo bị phạt tù từ 3 năm tù trở xuống, chiếm tỷ lệ 47,64%; có 670 bị cáo bị phạt tù từ trên 3 năm đến 7 năm, chiếm tỷ lệ 16,95%; có 674 bị cáo bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm, chiếm tỷ lệ 17,05%; có 434 bị cáo bị phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm, chiếm 10,98%; có 108 bị cáo bị phạt tù chung thân, chiếm tỷ lệ 2,73%; có 44 bị cáo bị phạt tử hình, chiếm tỷ lệ 1,11%; có 10 bị cáo bị tổng hợp hình phạt tù từ trên 20 năm đến 30 năm, chiếm tỷ lệ thấp 0,25%. Cơ cấu theo mức hình phạt cho thấy tính chất nghiêm trọng ngày càng gia tăng, năm 2008, số bị cáo bị tuyên án tử hình là 4 người; tù chung thân là 16 người, thì đến năm 2014, số bị cáo bị tuyên án tử hình là 26 người; tù chung thân là 32 người.

Theo phân tích thống kê phiếu kiểm sát xét xử, các bị cáo phạm tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Điện Biên đều có động cơ, mục đích khá rõ ràng, cụ thể: 2.046 bị cáo (chiếm 51,76% tổng số bị cáo) có động cơ, mục đích vụ lợi gắn liền với ham muốn có tiền để sử dụng ma túy, thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân; 1.907 bị cáo (chiếm 48,24% tổng số bị cáo) có động cơ, mục đích vụ lợi gắn liền với mục đích kinh tế, muốn làm giàu nhanh chóng, nâng cao thể diện cá nhân, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng và sự tan vỡ gia đình mà lao vào thực hiện tội phạm đến cùng. Nguy hiểm hơn, trong số này có một tỷ lệ nhỏ những bị cáo phạm nhiều tội về ma túy hoặc các tội phạm khác như: Giết người; tàng trữ, vận chuyển, sử dụng vũ khí quân dụng; trộm cắp tài sản... hoặc gây rối trật tự công cộng.

Về đặc điểm nhân thân người phạm tội, trong tổng số 3.953 bị cáo bị xét xử về các tội phạm về ma túy, có 3.273 bị cáo là nam giới và 680 bị cáo là nữ giới. Số người phạm tội về ma túy là nam giới chiếm tỷ lệ cao 79,23%, trong khi người phạm tội này là nữ giới chỉ chiếm tỷ lệ 20,77%. Nhóm người phạm tội ở vào độ tuổi từ đủ 18 tuổi đến 30 tuổi chiếm 21,48%; nhóm người phạm tội có độ tuổi trên 30 chiếm 77,68%. Như vậy, nhóm người phạm tội độ tuổi trên 30 chiếm tỷ lệ cao nhất và duy trì khá đều trong 7 năm từ năm 2008 đến năm 2014 (chiếm tỷ lệ trung bình cả giai đoạn là 77,68%), đáng lưu ý năm 2014 tỷ lệ cao đột biến, chiếm 95,56%. Thành phần tội phạm về ma túy khá đa dạng, bao gồm cả công chức nhà nước dù chiếm tỷ lệ nhỏ 0,35%, đảng viên chiếm tỷ lệ 0,38%. Qua phân tích bản án hình sự sơ thẩm cho thấy tập trung lớn nhất vào các bị cáo có nghề nghiệp làm ruộng, nương với tỷ lệ 81,85%, không nghề nghiệp chiếm 17,85%, viên chức nghỉ hưu 0,30%. Trong tổng số 3.953 bị cáo phạm tội về ma túy có 2.779 bị cáo là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ rất cao 70,30%, có xu hướng tăng dần (so với năm 2008 thì năm 2014 tăng 14,96%); số bị cáo còn lại là dân tộc Kinh. Các bị cáo phạm tội về ma túy chủ yếu tập trung vào dân tộc Mông, Thái, Kinh, là 3 dân tộc có có tỷ lệ người phạm tội về ma túy cao nhất. Nguy hiểm hơn, số người nghiện ma túy tăng dần qua các năm trong giai đoạn nghiên cứu, đồng thời có 51,76% bị cáo là người nghiện ma túy trong tổng số các bị cáo phạm tội về ma túy, chiếm tỷ lệ 4,70% trên tổng số người nghiện trên toàn quốc, đây là con số đáng báo động vì con số trung bình cả nước chia đều mỗi tỉnh chỉ có 1,56%. Số liệu thống kê năm 2014 có 418 bị cáo nghiện ma túy, chiếm tỷ lệ 4,3% trên trong tổng số 9.597 người nghiện ma túy trên địa bàn toàn tỉnh. Trong số 9.597 người nghiện ma túy năm 2014, có 8.851 người nghiện ngoài xã hội, 726 người nghiện trong trại tạm giam, nhà tạm giữ và 20 người đang cai nghiện tại trung tâm chữa bệnh - giáo dục - xã hội tỉnh.

Những chỉ số cơ bản về cơ cấu của tình hình các tội phạm về ma túy trên đây đã khái quát đặc điểm về lượng - chất của tính nguy hiểm cho xã hội. Mà cụ thể là con số, tỷ lệ về số người nghiện ma túy, số vụ án và bị cáo hằng năm chưa được kiềm chế một cách hiệu quả, liên tục gia tăng; các chỉ số đều phản ảnh rõ về mối tương quan, về tỷ lệ, giúp xác định nhân tố bộ phận cũng như tổng thể trong mối tương quan tương ứng. Nhưng ở mức toàn xã hội, tội phạm phải được coi là một bộ phận, một yếu tố được đặt trong mối liên hệ mật thiết với các quá trình và các hiện tượng khác, trong đó có hiện tượng tích cực và tiêu cực. Từ đó, mới đánh giá được chính xác những căn cứ quan trọng, giúp chúng ta tìm ra khuynh hướng của nó, cũng như nguyên nhân và điều kiện của việc thực hiện các tội phạm. Đây là một trong những cơ sở cho việc nghiên cứu dự báo và xây dựng kế hoạch phòng ngừa, góp phần làm thay đổi tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Điện Biên theo hướng tích cực hơn mà chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập trong bài nghiên cứu khác.

ThS. Đỗ Thành Trường

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

Tài liệu tham khảo:

[1]. Viện Nhà nước và Pháp luật (1994), Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[2]. Thống kê hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: