Thứ sáu 22/05/2026 23:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế bảo vệ quyền con người ở một số nước ASEAN và kinh nghiệm cho Việt Nam

ASEAN/ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, được thành lập ngày 8/8/1967 bằng Tuyên bố ASEAN; hiện có 10 nước thành viên, 01 nước với vai trò quan sát viên và 01 nước với vai trò ứng cử viên. Sự hợp tác trong ASEAN ngày nay gần như đã bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống ở các nước trong khu vực, từ kinh tế, giáo dục, văn hóa đến an ninh, chính trị và cả mối quan hệ với thế giới bên ngoài.

1. Khái quát về ASEAN và tình hình nhân quyền trong khu vực

Quá trình phát triển của ASEAN được đánh dấu bằng sự ra đời của nhiều văn kiện quan trọng, trong đó, Hiến chương ASEAN năm 2007 là một thỏa thuận mang tính bước ngoặt và là văn kiện pháp lý quan trọng nhất. Hiến chương quy định: ASEAN là một tổ chức liên chính phủ và có tư cách pháp nhân; khẳng định lại các mục đích và nguyên tắc cơ bản của ASEAN; quy định cơ cấu tổ chức của ASEAN, cách thức ra quyết định, cách thức giải quyết tranh chấp, bất đồng…

Về bối cảnh chính trị, xã hội trong khu vực, các quốc gia ASEAN có nhiều khác biệt về văn hóa, tôn giáo, thể chế chính trị, và hệ thống pháp luật. Đặc điểm chung duy nhất là các nước ASEAN (trừ Thái Lan) đều từng trải qua chế độ thuộc địa và quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc. Đặc điểm này chi phối mạnh mẽ quan điểm và định hướng về dân chủ, nhân quyền ở mỗi quốc gia cũng như trong khu vực. Ở những nước theo con đường phát triển tư bản, nền chính trị tuy chịu ảnh hưởng và mô phỏng mô hình dân chủ tư sản phương Tây, song lại không hoàn toàn tương đồng, không tạo ra nền tảng cho việc thực thi các thể chế dân chủ tư sản; do đó, đời sống chính trị, xã hội ở các nước này cũng trải qua nhiều biến động, xung đột gay gắt[1].

Về tổ chức nhà nước, do ảnh hưởng nguyên mẫu của các nước thực dân từng đô hộ trước kia, bộ máy nhà nước của các nước ASEAN (trừ Brunei, Việt Nam, Lào và Myanmar) về cơ bản theo nguyên tắc tam quyền phân lập với nội dung, tính chất và mức độ khác nhau, được thể hiện qua các thiết chế của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, mặc dù về cơ bản là sao chép, bộ máy nhà nước các nước ASEAN cũng có một số đặc điểm khác biệt so với các nước phương Tây; do đó, có những tác động, ảnh hưởng nhất định đến vấn đề dân chủ, nhân quyền[2].

Nhìn chung, dù tồn tại những sự khác biệt như nêu trên, hiện nay, các quốc gia ASEAN đều đang phải đối diện với nhiều thách thức về nhân quyền như: Bạo lực gia định, bạo lực và kỳ thị đối với phụ nữ, lao động trẻ em, buôn bán người, lao động di trú, việc trấn áp các lực lượng đòi ly khai, xung đột giữa các nhóm tôn giáo... Cụ thể hơn về bối cảnh cũng như tình hình nhân quyền ở từng nước ASEAN như sau:

- Brunei là một quốc gia quân chủ, trong đó quyền lực được tập trung gần như tuyệt đối vào tay Quốc vương (Sultan) - là nguyên thủ quốc gia, đồng thời đứng đầu cơ quan hành pháp. Tổ chức bộ máy nhà nước không có nhánh lập pháp; Hội đồng Lập pháp theo Hiến pháp chỉ có chức năng tư vấn cho Quốc vương. Tình trạng khẩn cấp quốc gia vẫn được duy trì áp dụng từ năm 1962 cho đến nay, dẫn đến các quyền của người dân bị gây cản trở và chịu nhiều hạn chế.[3]

- Campuchia là quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến với hệ thống chính trị đa đảng; tuy nhiên, chính trường quốc gia cơ bản vẫn chịu sự chi phối từ Đảng cầm quyền của Thủ tướng Hunsen. Xã hội dân sự ở quốc gia này có điều kiện thuận lợi để phát triển, ngày càng có nhiều tổ chức phi chính phủ thúc đẩy nhân quyền xuất hiện. Các vấn đề nhân quyền được quan tâm là: Quy định của pháp luật về quyền tự do hội họp, lập hội; quyền của người dân liên quan đến đất đai; bảo vệ tài nguyên môi trường; kỳ thị người di cư…

- Indonesia được xem như là quốc gia đi đầu trong các nỗ lực thúc đẩy dân chủ, pháp quyền và nhân quyền trong khu vực. Chính quyền tỏ ra tôn trọng các quyền tự do của người dân và vai trò của xã hội dân sự. Mối quan tâm nhân quyền lớn ở quốc gia này là viện trợ nhân đạo cứu trợ các nạn nhân của thiên tai (sóng thần, động đất). Một số vấn đề nhân quyền khác mà Indonesia hiện vẫn đang phải đối mặt và giải quyết đó là: Đối xử tàn bạo với phong trào đòi ly khai tại Tây Papua Aceh, tự do báo chí.

- Lào là quốc gia theo mô hình chính trị kiểu xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế trong một thời gian dài theo mô hình tập trung, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài và chỉ mới tiến hành cải cách trong những năm gần đây. Những vấn đề nhân quyền thường được nhắc đến ở quốc gia này là: Bảo vệ quyền của người thiểu số (đặc biệt là người H’Mông), quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp…

- Malaysia là quốc gia đa sắc tộc và tôn giáo, nhưng trong một vài thập kỷ gần đây quyền lực được tập trung vào nhóm sắc tộc chiếm đa số (người Mã Lai). Môi trường chính trị trở nên tự do hơn từ những năm 1986, khi vấn đề đa sắc tộc và không phân biệt chủng tộc được bàn luận tại các diễn đàn chính trị; song tiến trình dân chủ tương đối chậm và không ổn định. Những vấn đề nhân quyền được đề cập là các điều khoản hạn chế quyền trong Hiến pháp và các đạo luật như: Hạn chế quyền trong trường hợp khẩn cấp; quyền tự do ngôn luận bị giới hạn qua kiểm duyệt báo chí và xuất bản; vai trò của cơ quan nhân quyền quốc gia…

- Myanmar là quốc gia này nằm dưới chế độ quân phiệt trong một thời gian dài, những cải cách chính trị đáng chú ý trong tiến trình dân chủ hóa chỉ bắt đầu từ tháng 5/2008, với việc trưng cầu ý dân thông qua Hiến pháp mới. Tiến trình này có những diễn biến tích cực và mở ra viễn cảnh tốt đẹp hơn về cuộc sống nói chung cũng như việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền ở quốc gia này.Tiến trình này cũng hứa hẹn đưa Myanmar thoát khỏi thế cô lập trên trường quốc tế và khu vực, cũng như sự phụ thuộc vào Trung Quốc.

- Philippines kể từ khi chế độ độc tài bị lật đổ, tình hình nhân quyền ở quốc gia này đã có nhiều chuyển biến quan trọng, như Hiến pháp đã ghi nhận các quyền tự do của con người và thiết lập ra cơ quan nhân quyền quốc gia; tự do báo chí, xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ dần lớn mạnh… Những thách thức nhân quyền đang đối mặt như: Vi phạm nhân quyền do các lực lượng vũ trang ly khai gây ra trong xung đột; tình trạng cát cứ, tham nhũng của các thế lực chính trị địa phương; sự lũng đoạn chính trị của giới tư bản…

- Singapore dù có nền kinh tế phát triển cao, tuy nhiên, Singapore không được đánh giá cao trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền[4]. Một số mối quan tâm nhân quyền hiện nay bao gồm: Hạn chế tự do ngôn luận thông qua kiểm duyệt báo chí, khởi kiện ra tòa, ngăn cấm hoặc đóng cửa các cơ sở báo chí, xuất bản; áp dụng các hình phạt thân thể; duy trì và thi hành án tử hình một cách khắc nghiệt, đặc biệt với tội phạm ma túy...

- Thái Lan là quốc gia có môi trường chính trị thường xuyên biến động với các cuộc đảo chính, thay đổi Chính phủ, thay đổi Hiến pháp từ năm 1932 cho đến nay. Những sửa đổi Hiến pháp năm 1997 và 2007 có nhiều điểm tiến bộ quan trọng về dân chủ và nhân quyền, như ghi nhận nhiều hơn các quyền con người, ràng buộc trách nhiệm của Chính phủ trước công chúng, thiết lập và trao quyền cho các thể chế mới như Tòa án hành chính, Ombudsman, Ủy ban nhân quyền quốc gia… Các vấn đề nhân quyền ở Thái Lan thường được nhắc đến gần đây là: Vi phạm nhân quyền trong cuộc chiến chống ma túy, hệ thống nhà tù xuống cấp, sử dụng vũ lực tùy tiện và vi phạm quyền của người Hồi giáo ở miền Nam...

Nhìn chung, bối cảnh chính trị, xã hội và tình hình nhân quyền ở các nước ASEAN có sự khác biệt tương đối lớn và có nhiều chuyển biến nhanh chóng trong hai thập kỷ vừa qua. Tại tất cả các quốc gia đều tồn tại những vấn đề liên quan đến quyền và tự do cơ bản của cá nhân. Tuy vậy, trong xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, các quốc gia đang tiếp tục nỗ lực cải cách trong nhiều lĩnh vực, bao gồm lĩnh vực nhân quyền, để đáp ứng những đòi hỏi mới của thời đại.

2. Cơ chế trong nước bảo vệ quyền con người ở các nước ASEAN

2.1. Bảo vệ quyền con người bằng cơ quan nhân quyền quốc gia

Trong khu vực hiện có 5 quốc gia thuộc ASEAN đã thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia (NHRI) với mô hình “Ủy ban nhân quyền”, dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định của Hiến pháp và/hoặc các đạo luật riêng, và chúng đều có chức năng bán tư pháp (tức có thẩm quyền tài phán và giải quyết khiếu kiện). Vai trò của các cơ quan này trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nói chung, các quyền dân sự, chính trị nói riêng tại các quốc gia được khái quát như sau:

- Indonesia: Ủy ban nhân quyền quốc gia (Komnas HAM) được thành lập từ năm 1993[5], là một cơ quan độc lập, có địa vị ngang bằng với các cơ quan nhà nước khác, với hai mục tiêu chính là: (i) Phát triểncác điều kiện thực thi nhân quyền phù hợp với pháp luật quốc gia và quốc tế; (ii) tăng cường bảo vệ và phát huy các quyền của người dân và năng lực tham gia của họ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thẩm quyền được giao của Komnas HAM gồm: Tổ chức học tập, nghiên cứu, phổ biến, giám sát và tham gia giải quyết các vấn đề về nhân quyền[6]; ngăn ngừa sự phân biệt về chủng tộc và sắc tộc; điều tra các vụ vi phạm nhân quyền hàng loạt, bao gồm cả tội diệt chủng và tội ác chống nhân loại.

Theo Báo cáo của Komnas HAM tại Diễn đàn Châu Á - Thái Bình Dương năm 2009 (APF) cho thấy[7], cơ quan này hoạt động khá tích cực và nhận được nhiều kỳ vọng của công chúng trong việc giải quyết các khiếu nại vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy Komnas HAM thường phải đối diện với những trở ngại và thách thức rất lớn cả bên trong lẫn bên ngoài thể chế của nó.

- Malaysia: Ủy ban nhân quyền (SUHAKAM) chính thức ra mắt và hoạt động vào tháng 4/2000[8], là cơ quan chịu trách nhiệm trước Quốc hội thông qua việc nộp báo cáo; có vị thế độc lập tương đối lớn với Chính phủ, tự hoạt động theo cơ chế riêng. SUHAKAM có chức năng và thẩm quyền gồm: (i) Nâng cao nhận thức và tổ chức giáo dục về nhân quyền; (ii) tham mưu và hỗ trợ Chính phủ trong việc xây dựng chính sách, pháp luật; kiến nghị áp dụng các biện pháp cần thiết; (iii) kiến nghị Chính phủ tham gia các văn kiện nhân quyền quốc tế; (iv) điều tra các khiếu nại, tố cáo về vi phạm nhân quyền[9]; (v) đi thăm các cơ sở giam giữ và có các kiến nghị cần thiết; (vi) ra các tuyên bố công khai về nhân quyền khi cần thiết; (vii) thực hiện các hoạt động khác nếu cần thiết.

Qua các Báo cáo thường niên của SUHAKAM cho thấy cơ quan này hoạt động khá tích cực và có những thành công. Tuy nhiên, thách thức là do không thuộc ưu tiên cao trong chương trình nghị sự chính trị nên vai trò của SUHAKAM trong việc cải thiện tình hình nhân quyền ở Malaysia chưa cao và chưa được các cơ quan nhà nước coi trọng (trong việc thực hiện các khuyến nghị của SUHAKAM)[10].

- Philippines: Ủy ban nhân quyền (CHRP) được thành lập năm 1987[11], là một cơ quan độc lập và có các chức năng, quyền hạn cơ bản như sau: (i) Điều tra (chủ động hoặc qua khiếu nại, tố cáo) các hành vi vi phạm các quyền dân sự và chính trị; (ii) cung cấp, đề xuất các biện pháp pháp lý thích hợp nhằm bảo vệ, phòng ngừa, trợ giúp các cá nhân khi quyền của họ bị vi phạm, gồm cả việc đề xuất bồi thường cho nạn nhân hoặc gia đình của họ; (iii) đến thăm, giám sát các cơ sở giam giữ, nhà tù; (iv) tổ chức các chương trình nghiên cứu, giáo dục và thông tin thường xuyên nhằm thúc đẩy việc tôn trọng nhân quyền; (vi) theo dõi và giám sát sự chấp hành các nghĩa vụ nhân quyền quốc tế…

Các báo cáo thường niên cho thấy, CHRP hoạt động rất tích cực thông qua các kế hoạch, chương trình hành động nhằm thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền. Tuy nhiên, do có nhiều yếu tố tác động như nguồn lực tài chính hạn hẹp, chưa có tiến trình đưa các thủ phạm vi phạm nhân quyền nghiêm trọng ra công lý, tình trạng miễn trừ/không bị trừng phạt (impunity) khỏi những hành vi lạm dụng hoặc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng[12]… đã gây ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của CHRP, làm giảm tính hiệu quả của cơ quan này cũng như mức độ thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở Philippines.

- Thái Lan: Ủy ban nhân quyền quốc gia (NHRCT) bắt đầu hoạt động từ tháng 7/2001[13], là một tổ chức độc lập với chức năng, nhiệm vụ như sau:(i) thúc đẩy sự tôn trọng nhân quyền ở cả trong nước và quốc tế; (ii) đánh giá các hành động vi phạm nhân quyền hoặc không phù hợp với nghĩa vụ nhân quyền quốc tế và đề xuất các biện pháp xử lý; (iii) nộp báo cáo về tình hình nhân quyền quốc gia lên Quốc hội và Chính phủ; (iv) đề xuất sửa đổi luật, các quy tắc hoặc quy định, và khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; (v) phổ biến thông tin và thúc đẩy giáo dục, nghiên cứu về nhân quyền; (vi) hợp tác, phối hợp với các cơ quan của Chính phủ, NGOs và các tổ chức nhân quyền khác.

Trong những năm qua, NHRCT đã làm việc với các Chính phủ khác nhau và thực hiện những công việc quan trọng trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền của công dân Thái Lan. Báo cáo trong nhiệm kỳ đầu (từ 2001-2007) cho thấy, NHRCT đã có nhiều đóng góp quan trọng cho hoạt động bảo vệ nhân quyền ở Thái Lan[14]. Tuy nhiên, kể từ thời điểm cuối tháng 9/2006 cho đến nay, tình hình chính trị ở Thái Lan có nhiều bất ổn đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của NHRCT.

2.2. Bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự

Phong trào xã hội dân sự hầu như mới chỉ được khởi xướng từ một vài thập kỷ gần đây ở các nước ASEAN, trong đó tại một số nước như Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines, phong trào này phát triển mạnh hơn (xét cả về số lượng và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự - CSO).Không gian cho CSO tại các nước cũng tương đối khác biệt, phụ thuộc chủ yếu vào mức độ cởi mở của chính quyền. Một số nước như Thái Lan, Philippines, CSO có điều kiện phát triển thuận lợi từ vài thập niên qua; trong khi ở một số nước khác thì chỉ khoảng một thập niên trở lại đây CSO mới có điều kiện phát triển thuận lợi hơn (như Indonesia, Malaysia, Campuchia, Việt Nam). Ở một số nước, dù đã xuất hiện các CSO thúc đẩy phát triển, bảo vệ quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, các CSO bảo vệ các quyền chính trị, dân sự hầu như chưa xuất hiện.

Ở cấp độ khu vực, ngày càng nhiềutổ chức và mạng lưới quy tụ các tổ chức hoạt động bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền ở các quốc gia khác nhau được thành lập. Các mạng lưới này không chỉ là diễn đàn chia sẻ thông tin giữa các thành viên mà còn góp phần tăng cường hiệu quả trong việc vận động, thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người trong toàn khu vực.Nhìn chung, cùng với xu hướng phát triển và sự gia tăng vai trò của CSO trên phạm vi quốc tế, CSO trong khu vực ASEAN cũng đã có những bước tiến đáng kể trên nhiều mặt và ngày càng có vai trò tích cực hơn trong đối thoại với các nhà nước ở phạm vi quốc gia cũng như ở phạm vi ASEAN; được coi là những chủ thể rất cần thiết để hướng tới sự minh bạch và bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người.

2.3. Bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động giáo dục nhân quyền

Trong lĩnh vực nhân quyền, hoạt động giáo dục nhân quyền (gồm cả nghiên cứu, giáo dục và thông tin về quyền con người) được cộng đồng quốc tế xem như là một biện pháp cốt yếu, mang tính chiến lược để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các tiêu chuẩn nhân quyền. Ở các quốc gia ASEAN, hoạt động giáo dục nhân quyền cũng đã được quan tâm ở những mức độ khác nhau. Một số nước thực hiện hoạt động này tương đối sớm và đã xây dựng cả kế hoạch/ chiến lược hành động quốc gia như Indonesia, Philippines và Thái Lan. Nhìn chung, các nước đều đã đưa những nội dung về nhân quyền, đặc biệt là quyền của trẻ em, vào các chương trình giáo dục phổ thông và đại học. Giáo dục nhân quyền có thể hướng đến mọi đối tượng trẻ em hoặc hướng tới một nhóm cụ thể (thiểu số, khuyết tật...).

Cùng với giáo dục chính quy trong nhà trường, hoạt động giáo dục nhân quyền còn được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác trong xã hội (các phương tiện truyền thông, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo...). Tại một số nước, NHRI cũng có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy giáo dục nhân quyền. Đối với hoạt động nghiên cứu, bên cạnh các cơ sở nghiên cứu của Nhà nước hoặc độc lập, nhiều trung tâm nghiên cứu nhân quyền đã được thành lập trong các trường đại học ở nhiều quốc gia. Ở cấp độ khu vực, các nước ASEAN cũng ngày càng có nhiều hoạt động chung để thúc đẩy các hoạt động giáo dục nhân quyền trong khu vực.

3. Vận dụng cơ chế khu vực để bảo vệ quyền con người ở các nước ASEAN

Hiện nay, trong khu vực ASEAN có ba cơ chế bảo vệ nhân quyền gồm: Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR); Ủy ban thực hiện Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú (ACMW); và Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC). Nhìn chung, vai trò của các cơ chế này đối với vấn đề nhân quyền trong khu vực là khá hạn chế, mới chỉ dừng lại ở chức năng tư vấn. Để mở rộng thẩm quyền của các cơ chế này (như tiếp nhận khiếu nại, tổ chức điều tra, ra khuyến nghị, phán quyết…) sẽ cần thêm nhiều thời gian và những nỗ lực cụ thể.

Một số thách thức mà các cơ chế trên đã và đang phải đối mặt đó là: (i) Sự khác biệt về hệ thống chính trị, mức độ tự do và dân chủ giữa các quốc gia; (ii) quan điểm, cách nhìn nhận về tính phổ quát, tính đặc thù của vấn đề nhân quyền và mức độ thực hiện các nghĩa vụ, cam kết nhân quyền; (iii) nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ” và tính chính trị trong mối quan hệ giữa các quốc gia về vấn đề nhân quyền; (iv) vai trò của xã hội dân sự ở mỗi quốc gia cũng như trong khu vực còn mờ nhạt trong việc tác động, ảnh hưởng đến các chính sách của ASEAN và của mỗi quốc gia về nhân quyền.

4. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua những trình bày trên, có thể rút ra hai kết luận như sau: Thứ nhất, việc bảo vệ nhân quyền ở mỗi quốc gia chịu tác động của rất nhiều yếu tố như văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị, hệ thống pháp luật… và đặc biệt là thái độ chính trị của các nhà nước; Thứ hai, để thực thi có hiệu quả nhân quyền tại mỗi quốc gia đòi hỏi phải có sự nỗ lực và hợp tác cả từ phía nhà nước, các cá nhân cũng như của cả cộng đồng (trong nước, khu vực và quốc tế). Để đạt được điều này, từ kinh nghiệm thực tiễn các nước ASEAN, có hai yếu tố cần được quan tâm thực hiện: (i) Nâng cao nhận thức của nhà nước, người dân và cộng đồng thông qua giáo dục nhân quyền; (ii) mở rộng không gian hoạt động cho xã hội dân sự.

Ở Việt Nam, hoạt động giáo dục nhân quyền trong khoảng hơn ba thập kỷ vừa qua đã có những bước phát triển, tuy nhiên vẫn chưa bắt kịp với xu hướng phát triển chung trên thế giới và chưa đáp ứng được nhu cầu ở trong nước. Yếu tố gây ra trở ngại lớn nhất đó là nhận thức chưa đầy đủ của các nhà hoạch định chính sách và của cộng đồng về tầm quan trọng của giáo dục nhân quyền. Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn ở một số quốc gia ASEAN là Nhà nước cần xây dựng cho mình một kế hoạch, chiến lược quốc gia rõ ràng về giáo dục nhân quyền trong đó đặt ra các mục tiêu cần đạt được và phương thức thực hiện. Một kinh nghiệm khác nữa đó là cần phải có một cơ quan đóng vai trò tích cực và là đầu mối trong việc điều phối, thúc đẩy hoạt động giáo dục nhân quyền như NHRI ở Thái Lan và Philippines là những ví dụ.

Đối với xã hội dân sự, việc mở rộng không gian hoạt động đồng nghĩa với đòi hỏi nhà nước phải tôn trọng quyền tự do hiệp hội, hội họp của người dân - những quyền có vai trò thiết yếu để các tổ chức xã hội có thể phát triển. Ở Việt Nam hiện nay, khuôn khổ pháp luật về các quyền tự do hiệp hội, hội họp còn mang nặng tính hành chính, coi trọng sự quản lý thuận tiện của nhà nước và coi nhẹ quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận của người dân; cách hiểu về xã hội dân sự chưa thực sự rõ ràng và còn gây tranh cãi; có nhiều quy định hành chính khắt khe gây khó khăn cho hoạt động của các tổ chức xã hội… Do đó, hiện nay Nhà nước cần phải có cái nhìn cởi mở hơn cũng như cần xây dựng một khuôn khổ pháp luật phù hợp tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xã hội.

Trên đây chỉ là hai trong số những kinh nghiệm tốt rút ra từ thực tiễn bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nói chung, các quyền về dân sự và chính trị nói riêng tại các nước ASEAN. Tất nhiên, việc áp dụng những kinh nghiệm này cũng cần tính đến những yếu tố phù hợp như về văn hóa, thể chế chính trị, hệ thống pháp luật... nhưng cũng không nên lấy chính những yếu tố này làm lý do để không thay đổi. Thời gian qua, Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ trong lĩnh vực nhân quyền và giờ là thời điểm cần có những chính sách và hành động cụ thể.

PGS.TS. Vũ Công Giao

ThS.NCS. Nguyễn Minh Tâm


[1] Điển hình là sự thao túng đời sống chính trị, xã hội của giới quân sự ở các nước như Indonesia (thời Suharto), Philippines (thời Marcos), Thái Lan (trong 66 năm từ 1932 - 1998 có đến 33 cuộc đảo chính quân sự).

[2] Chẳng hạn, nhánh hành pháp ở nhiều nước (như Thái Lan) thường bị cho là lạm dụng quyền lực và trong một số trường hợp gây ra những vi phạm nhân quyền trên diện rộng. Nhánh cơ quan tử pháp tuy đươc tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tư pháp độc lập; tuy nhiên tính độc lập thực sự ở nhiều nước vẫn là một dấu hỏi. Ở một số nước (như Philippines thời Marcos, Indonesia thời Suharto), nguyên thủ quốc gia và “chủ nghĩa tư bản thân tín” chính là những thủ phạm gây ra những vụ việc vi phạm nhân quyền rộng khắp.

[3] Các mối quan tâm nhân quyền cụ thểnhư: thiếu khuôn khổ thể chế, pháp lý bảo đảm các quyền chính trị, tự do ngôn luận; các hạn chế quyền cá nhân bởi Luật lăng mạ hoàng gia, Luật báo chí, Luật phỉ báng, Luật an ninh quốc gia; việc áp dụng hình phạt thể chất đối với các tội phạm về di cư; phụ nữ chịu bất bình đẳng liên quan đến thừa kế, ly hôn; những người không phải Hồi giáo bị kỳ thị, kể cả trong quy định của Hiến pháp và pháp luật…

[4] Có nhiều yếu tố lý giải cho thực tế này, trong đó nổi bất là: (i) Quan điểm về “giá trị châu Á” nhằm phản đối những cải cách chính trị và mở rộng dân chủ “kiểu phương Tây”; (ii) sự tin tưởng vào “chủ nghĩa ngoại lệ” khi thực tế dù là một nước nhỏ nhưng Singapore có nguồn lực kinh tế và tài chính rất dồi dào. Tư tưởng này làm cho Singapore trở thành độc nhất, không giống ai, cũng không cần tuân thủ các ràng buộc theo tiêu chuẩn quốc tế.

[5] Komnas HAM được thành lập ngày 7/6/1993 theo Sắc lệnh số 50 của Tổng thống về Ủy ban nhân quyền quốc gia Indonesia, được thay thế bằng Luật số 39/1999 về nhân quyền. Thẩm quyền của Komnas HAM được bổ sung thêm theo Luật số 40/2008 về xóa bỏ phân biệt về chủng tộc và sắc tộc, Luật số 26/2000 về Tòa án nhân quyền.

[6] Để thực hiện chức năng bán tư pháp, tức giám sát và tham gia giải quyết các vấn đề nhân quyền, Komnas HAM được giao thẩm quyền rất rộng như: Quyền điều tra và đánh giá các vụ việc có dấu hiệu vi phạm nhân quyền, quyền triệu tập đương sự (sub-poena) để giải quyết vụ việc, khảo sát địa điểm, làm trọng tài giữa các bên, gửi kiến nghị liên quan đến các vi phạm nhân quyền tới Chính phủ và Hạ nghị viện…

[7]Báo cáo của Komnas HAM tại Asia Pacific Forum (APF) năm 2009, đăng trên: http://www.asiapacificforum.net/

members/full-members/indonesia/downloads/apf-annual-meeting/Indonesia.doc
, [truy cập: 25/12/2015].

[8] SUHAKAM được thành lập theo Đạo luật 597 năm 1999 về Ủy ban nhân quyền Malaysia, được sửa đổi bởi Đạo luật A1353 năm 2009.

[9] Tuy nhiên, SUHAKAM sẽ không tiến hành điều tra các cáo buộc vi phạm nhân quyền mà là vấn đề đang chờ Tòa án tiến hành tố tụng, gồm cả trường hợp kháng nghị và trường hợp đã được Tòa án ra phán quyết cuối cùng.

[10] Báo cáo thường niên năm 2014 nêu rõ, qua hơn 13 năm hoạt động, SUHAKAM luôn nộp các báo cáo lên Quốc hội, tuy nhiên, chưa một lần nào Quốc hội tổ chức thảo luận về các báo cáo này. Xem: http://www.suhakam.org

.my/pusat-media/sumber/laporan-tahunan/
, [truy cập: 25/12/2015].

[11] CHRP thành lập theo quy định tại Điều XIII Hiến pháp năm 1987 và hoạt động theo Sắc lệnh số 163 của Tổng thống ngày 5/5/1987.

[12] Báo cáo thường niên của CHRP năm 2013, đăng trên: http://www.chr.gov.ph/MAIN%20PAGES/about%20us/

PDF/2014/2013%20CHR%20Annual%20Performance%20Report.pdf
, [truy cập: 28/12/2015].

[13]NHRCT được thành lập theo Hiến pháp năm 1997 và Đạo luật về Ủy ban nhân quyền quốc gia năm 1999, được trao thêm một số thẩm quyền theo Hiến pháp năm 2007.

[14] Báo cáo của NHRCT tại APF năm 2007, tại: http://www.asiapacificforum.net/about/annual-meetings/12thaustr

alia-2007/downloads/reports-from-apf-members/APF%20Report%20-%20Thailand.pdf
, [truy cập: 28/12/2015].

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: