Thứ hai 13/04/2026 17:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước - Thực tiễn vận hành và những vấn đề đặt ra hiện nay

Thực tiễn vận hành của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước những năm gần đây, xét trên cả ba phương diện thể chế, thiết chế và các điều kiện thực hiện cho thấy, hoạt động kiểm soát quyền lực đã thu được những kết quả tích cực. Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện kiểm soát quyền lực thông qua việc thực hiện chức năng, lập hiến, lập pháp; giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước

Tóm tắt: Bài viết phân tích những đặc điểm của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và đề xuất một số giải pháp cụ thể để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới.

Abstract: The article analyzes the characteristics of the state power control mechanism and proposes some specific solutions to improve the state power control mechanism in Vietnam in the coming time.

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một hệ thống cơ chế và biện pháp được Nhà nước và xã hội thực hiện nhằm xem xét, theo dõi, đánh giá hoạt động của các cơ quan và nhân viên nhà nước, ngăn ngừa và loại bỏ những hành vi lạm dụng quyền lực và những vi phạm trong tổ chức và thực hiện quyền lực, bảo đảm cho việc thực thi quyền lực đúng mục đích và hiệu quả. Trong khoa học pháp lý, khái niệm “cơ chế”[1] xuất hiện từ thực tiễn giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật. Trong kiểm soát quyền lực nhà nước, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu là tổng thể các yếu tố thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo đảm thực hiện nhằm kiểm soát quyền lực có hiệu quả. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm sau đây:

Trước hết, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước được hình thành không phải theo kiểu “tam quyền phân lập” mà trên cơ sở nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ chế đó được xác lập và vận hành trong thể chế chính trị nhất nguyên do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Thứ hai, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam là cơ chế ủy quyền, trao quyền từ nhân dân, tạo ra sự phân công cho các chủ thể khác nhau thực hiện quyền lực nhà nước trong phạm vi Hiến pháp quy định. Các cơ quan này phối hợp và kiểm soát lẫn nhau để bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích, đúng phạm vi. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam không nhằm mục đích kiềm chế, đối trọng hay loại trừ nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điều đó góp phần tạo sự ổn định chính trị trong xã hội, không để xung đột chính trị xảy ra như ở một số quốc gia theo chế độ đa nguyên chính trị. Vì nếu rối loạn về chính trị để xung đột xảy ra thì người chịu thiệt thòi đầu tiên chính là nhân dân.

Thứ ba, các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, có phạm vi rộng, bao gồm kiểm soát từ bên trong và kiểm soát từ bên ngoài bộ máy nhà nước. Kiểm soát quyền lực từ bên trong bộ máy nhà nước là cách thức thực hiện hoạt động kiểm soát gắn với chủ thể có thẩm quyền như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương. Đồng thời, mỗi loại cơ quan đó đều có cơ chế kiểm soát nội bộ của mình. Các cơ quan nhà nước thực hiện kiểm soát chủ yếu bằng các hình thức quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra phù hợp với từng đối tượng. Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài bộ máy nhà nước là cách thức thực hiện hoạt động kiểm soát gắn với chủ thể kiểm soát là các tổ chức chính trị, xã hội. Trước hết là vai trò kiểm soát về mặt chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếp đó là kiểm soát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân thông qua hoạt động giám sát xã hội, phản biện xã hội. Thông qua các tổ chức, đoàn thể mà nhân dân có điều kiện tham gia các công việc nhà nước, giám sát, kiểm tra hoạt động của Nhà nước và các cán bộ, công chức hoạt động trong các cơ quan nhà nước, đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.

Thứ tư, phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước đa dạng gồm: Chế độ báo cáo của các cơ quan nhà nước; hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra; hoạt động xét xử của Tòa án; hoạt động kiểm sát; theo dõi tình hình thi hành pháp luật; chất vấn; bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm; trưng cầu ý dân; phản biện xã hội, giám sát xã hội; của các phương tiện thông tin đại chúng và giám sát của nhân dân.

Thực tiễn vận hành của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước những năm gần đây, xét trên cả ba phương diện thể chế, thiết chế và các điều kiện thực hiện cho thấy, hoạt động kiểm soát quyền lực đã thu được những kết quả tích cực. Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện kiểm soát quyền lực thông qua việc thực hiện chức năng, lập hiến, lập pháp; giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Trong hoạt động lập pháp, Quốc hội đã xem xét, thảo luận, biểu quyết về các dự án luật do Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình; kiểm soát việc ủy quyền lập pháp. Quốc hội kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc bầu, phê chuẩn, miễn nhiệm, bãi nhiệm nhân sự cấp cao của Nhà nước như Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Chính phủ thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý mọi mặt đời sống xã hội; thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia, quản lý cán bộ, công chức, viên chức và công vụ; đề ra các chính sách về tài chính, về nhân sự, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan nhà nước và kiểm tra việc thực hiện chế độ tài chính của các cơ quan này. Mặt khác, đa phần các dự án luật là do Chính phủ được phân công trực tiếp xây dựng (95%) nên quá trình tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật cũng chính là quá trình đánh giá kết quả thực hiện các luật do Quốc hội ban hành. Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, kiểm soát hoạt động của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác thông qua hoạt động xét xử. Tòa án xét xử các hành vi hành chính và quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, thông qua xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân - gia đình, kinh tế, lao động, hành chính, Tòa án chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến tội phạm, vi phạm pháp luật và các tranh chấp để cơ quan hành pháp chú ý khắc phục. Các kiến nghị của Tòa án về những vấn đề nói trên phải được các cơ quan, tổ chức thực hiện. Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp có hiệu quả, góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm, tội phạm, bảo đảm cho hoạt động tư pháp tuân thủ đúng pháp luật. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tham gia tích cực vào hoạt động giám sát xã hội và phản biện xã hội; trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật.

Qua vận hành của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có thể thấy, hoạt động kiểm soát quyền lực đã thu được những kết quả bước đầu rất quan trọng, góp phần ngăn chặn và phòng ngừa được các hiện tượng vi phạm pháp luật, lạm quyền, tùy tiện, tham nhũng từ phía các cơ quan và công chức nhà nước, góp phần lành mạnh hóa bộ máy công quyền. Các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước thực hiện nguyên tắc tự kiểm tra và đặt dưới sự kiểm tra từ phía các cơ quan, tổ chức khác. Các yếu tố giám sát, kiểm tra giữa các bộ phận đó tạo ra khả năng phòng ngừa các hành vi vượt quá giới hạn thẩm quyền và lạm quyền, dẫn đến việc vi phạm Hiến pháp và pháp luật, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Giám sát của xã hội đã có những chuyển biến tích cực, huy động được sức mạnh của nhân dân, thông qua hình thức dân chủ trực tiếp để kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước, phát hiện để các cơ quan có thẩm quyền xử lý những công chức vi phạm pháp luật và đạo đức công vụ.

Hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng đã thu được những kết quả rất quan trọng, bảo đảm cho công tác xây dựng pháp luật đi đúng hướng, thể chế hóa đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước, đấu tranh kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, làm trong sạch bộ máy nhà nước.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước vẫn còn những điểm hạn chế. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ… Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao”[2].

Thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước cho thấy hệ thống pháp luật về kiểm soát quyền lực còn thiếu đồng bộ, một số quy định còn mang tính tuyên bố, cam kết, chưa chế định thành những quy phạm cụ thể để kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả. Việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp là đối tượng chủ yếu trong kiểm soát hoạt động của Quốc hội. Quyền lập pháp được giới hạn bởi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi quy định chặt chẽ, cụ thể thẩm quyền ban hành văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giới hạn ủy quyền lập pháp của Quốc hội cho các cơ quan nhà nước khác. Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 cũng có các quy định về kiểm soát của nhân dân đối với cơ quan lập hiến, lập pháp. Nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều cơ quan nên trách nhiệm trong bảo vệ Hiến pháp chưa cụ thể. Điều 119 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định nhưng đến nay cơ chế này vẫn chưa được cụ thể hóa. Cơ chế tự kiểm soát của Quốc hội đối với các luật do mình ban hành cũng chưa cụ thể. Một số đạo luật sau khi có hiệu lực phát hiện có sai sót hoặc có điều khoản chưa phù hợp thì Quốc hội lại tự mình khắc phục. Cơ chế kiểm soát của Chính phủ và các cơ quan tư pháp đối với hoạt động của Quốc hội chưa được quy định rõ. Đối với hoạt động của Chính phủ, kiểm soát từ phía cơ quan dân cử được thực hiện thông qua giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ yếu ở hai phương diện: (i) Tính hợp pháp trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành pháp; (ii) Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành pháp. Là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ hoạch định và đề xuất chính sách. Tuy nhiên, quy trình lập pháp hiện hành chưa tạo cho Chính phủ khả năng bảo vệ chính sách đến cùng. Cơ chế kiểm soát của tư pháp đối với các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu thông qua phương thức gián tiếp khi phát hiện văn bản pháp luật trái luật. Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa án bị giới hạn bởi quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, theo đó, Tòa án chỉ có quyền kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mà không có quyền phán quyết về tính hợp pháp của văn bản đó. Về cơ chế kiểm soát của hành pháp đối với tư pháp, từ năm 1946 đến nay đã có những giai đoạn Chính phủ đảm nhận việc quản lý các Tòa án nhân dân về tổ chức. Việc kiểm soát của hành pháp đối với tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc hành pháp không can thiệp vào xét xử. Tuy nhiên, từ năm 2002, Tòa án nhân dân tối cao đảm nhận việc quản lý các Tòa án nên chưa có cơ chế để hành pháp kiểm soát lại tư pháp.

Cũng cần phải nói thêm rằng, mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là vấn đề ít được bàn đến. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân không tạo nhiều cơ hội cho chính quyền địa phương kiểm soát trở lại cơ quan này đóng trên địa bàn. Nếu như trước năm 1992, chính quyền địa phương có vai trò nhất định trong tổ chức, hoạt động của Tòa án (cấp kinh phí hoạt động, bầu thẩm phán, giám sát…) thì hiện nay, chỉ giới hạn ở quy định Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Tòa án nên khả năng kiểm soát của chính quyền địa phương đối với Tòa án không lớn. Pháp luật hiện hành cũng chỉ giới hạn ở quy định Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Viện kiểm sát.

Về vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên, pháp luật chưa có quy định cụ thể và đầy đủ về cơ chế, chính sách, về quyền và trách nhiệm của chủ thể bị giám sát và chủ thể giám sát, về điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát, cơ chế tiếp nhận, giải quyết, xử lý vi phạm và trả lời cho chủ thể giám sát. Ở mức độ cụ thể, pháp luật kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài với bộ máy nhà nước chậm được đổi mới. Nhiều quy định tập trung xác định địa vị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên ở cấp trung ương trong khi các quy định cho các tổ chức này ở các cấp địa phương chưa cụ thể. Một số quy định kiểm soát quyền lực của nhân dân đối với bộ máy nhà nước thiếu đồng bộ dẫn đến việc áp dụng luật còn khó khăn, hiệu quả kiểm soát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên chưa được như mong muốn.

Như vậy, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay đã được xác lập nhưng cần được tiếp tục hoàn thiện với một số giải pháp như sau:

Một là, ban hành Luật về bảo vệ Hiến pháp để cụ thể hóa khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013, tạo cơ sở pháp lý cho việc phán quyết các vi phạm Hiến pháp trong tổ chức, hoạt động thực thi quyền lực bằng thiết chế Hội đồng Hiến pháp hoặc Tòa án Hiến pháp. Đây là mô hình theo cơ chế tập trung để bảo vệ Hiến pháp. Hội đồng bảo vệ Hiến pháp hoặc Tòa án Hiến pháp cần được giao thẩm quyền xem xét về các đạo luật và cả văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để bảo đảm tính thống nhất của pháp chế. Hoặc có thể áp dụng cơ chế phi tập trung trong bảo vệ Hiến pháp, giao Tòa án nhân dân đảm nhận nhiệm vụ này. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về ủy quyền lập pháp theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn việc ban hành các văn bản pháp luật được Quốc hội ủy quyền, tiến tới giảm dần việc ủy quyền lập pháp.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát của hành pháp đối với lập pháp. Mặc dù, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp nhưng Chính phủ có khả năng tác động đến hoạt động lập pháp của Quốc hội thông qua quyền hoạch định chính sách, trình dự án luật. Để bảo đảm hiệu quả hoạt động kiểm soát của Chính phủ đối với Quốc hội trong thực hiện quyền lập pháp, cần xác định rõ quyền hạn của Chính phủ trong hoạt động lập pháp, không để trường hợp các luật được ban hành không phù hợp với thực tế. Việc xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân là một trong những giải pháp cơ bản để thực hiện chủ trương nêu trên, bảo đảm quyền hành pháp được kiểm soát ở mức độ tốt nhất[3]. Chính phủ phải xây dựng bộ máy trong sạch, liêm chính, hiệu quả; nói không với tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; làm gương cho xã hội về mọi vấn đề, nói đi đôi với làm; tăng cường kỷ cương, phép nước, đặc biệt là chấn chỉnh kỷ cương trong khu vực hành chính công.

Ba là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát của hành pháp đối với tư pháp. Thành lập Hội đồng Tư pháp quốc gia là thiết chế độc lập do Quốc hội thành lập để thực hiện việc quản lý các Tòa án về tổ chức, tạo điều kiện cho Tòa án tập trung vào xét xử và thực hiện tốt nguyên tắc độc lập xét xử. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, nhiều quốc gia đã thành lập Hội đồng Tư pháp quốc gia như một thiết chế độc lập với Tòa án tối cao để thực hiện việc quản lý các Tòa án. Hiện nay, ở nước ta đã có Hội đồng tuyển chọn, giám sát thẩm phán quốc gia hoạt động có kết quả tốt. Việc tổng kết, đánh giá hoạt động của Hội đồng tuyển chọn, giám sát thẩm phán quốc gia sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng mô hình mới về quản lý các Tòa án.

Bốn là, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện xã hội. Nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Giám sát xã hội và phản biện xã hội, trong đó xác định rõ chủ thể phản biện là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Quy định rõ phạm vi, hình thức, nội dung, trình tự, thủ tục tiến hành giám sát; quy định quy trình thực hiện kiến nghị giám sát; xác định trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà nước trả lời kiến nghị giám sát; chế tài đối với trường hợp không tiếp nhận, hoặc tiếp nhận nhưng trả lời không đúng thời gian luật định của cơ quan, người có thẩm quyền đối với kiến nghị giám sát.

Năm là, tăng cường kiểm soát về chính trị của Đảng đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước. Trước hết là kiểm soát thông qua công tác thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng thành pháp luật; kiểm soát thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy về hoạt động của cơ quan nhà nước, các nguyên tắc tổ chức của Đảng, việc thực hiện chính sách và pháp luật của nhà nước. Kiểm soát thông qua công tác cán bộ ở tất cả các khâu, thực hiện Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Đồng thời, thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm tra của Nhà nước với giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai
Học viện Chính trị khu vực II
PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn
Nguyên Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương

[1]. Cơ chế” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ khoa học kỹ thuật. Trong tiếng Anh, “mechanism” được hiểu như các bộ phận trong một cỗ máy hoặc là một quá trình được thiết lập mà nhờ đó một hoạt động được thực hiện.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, tr. 89, 93.

[3]. Xem: Xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển trong thực tiễn Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học ngày 04/5/2017, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chỉ đạo biên soạn: GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2017; PGS.TS. Lê Minh Quân, Nhà nước kiến tạo, Tạp chí Lý luận chính trị số 8/2016; TS. Đinh Văn Thụy, Nhà nước kiến tạo phát triển - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2017; PGS.TS. Vũ Công Giao, Nhà nước kiến tạo phát triển: Mô hình và triển vọng, Trang thông tin điện tử Cải cách hành chính, ngày 27/3/2018; TS. Nguyễn Hoàng Anh, Nhà nước kiến tạo phát triển, kinh nghiệm một số nước và giá trị tham khảo cho Việt Nam, Tài liệu học tập lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: