Thứ sáu 07/08/2026 17:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước - Thực tiễn vận hành và những vấn đề đặt ra hiện nay

Thực tiễn vận hành của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước những năm gần đây, xét trên cả ba phương diện thể chế, thiết chế và các điều kiện thực hiện cho thấy, hoạt động kiểm soát quyền lực đã thu được những kết quả tích cực. Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện kiểm soát quyền lực thông qua việc thực hiện chức năng, lập hiến, lập pháp; giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước

Tóm tắt: Bài viết phân tích những đặc điểm của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và đề xuất một số giải pháp cụ thể để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới.

Abstract: The article analyzes the characteristics of the state power control mechanism and proposes some specific solutions to improve the state power control mechanism in Vietnam in the coming time.

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một hệ thống cơ chế và biện pháp được Nhà nước và xã hội thực hiện nhằm xem xét, theo dõi, đánh giá hoạt động của các cơ quan và nhân viên nhà nước, ngăn ngừa và loại bỏ những hành vi lạm dụng quyền lực và những vi phạm trong tổ chức và thực hiện quyền lực, bảo đảm cho việc thực thi quyền lực đúng mục đích và hiệu quả. Trong khoa học pháp lý, khái niệm “cơ chế”[1] xuất hiện từ thực tiễn giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật. Trong kiểm soát quyền lực nhà nước, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu là tổng thể các yếu tố thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo đảm thực hiện nhằm kiểm soát quyền lực có hiệu quả. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm sau đây:

Trước hết, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước được hình thành không phải theo kiểu “tam quyền phân lập” mà trên cơ sở nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cơ chế đó được xác lập và vận hành trong thể chế chính trị nhất nguyên do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Thứ hai, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam là cơ chế ủy quyền, trao quyền từ nhân dân, tạo ra sự phân công cho các chủ thể khác nhau thực hiện quyền lực nhà nước trong phạm vi Hiến pháp quy định. Các cơ quan này phối hợp và kiểm soát lẫn nhau để bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích, đúng phạm vi. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam không nhằm mục đích kiềm chế, đối trọng hay loại trừ nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điều đó góp phần tạo sự ổn định chính trị trong xã hội, không để xung đột chính trị xảy ra như ở một số quốc gia theo chế độ đa nguyên chính trị. Vì nếu rối loạn về chính trị để xung đột xảy ra thì người chịu thiệt thòi đầu tiên chính là nhân dân.

Thứ ba, các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, có phạm vi rộng, bao gồm kiểm soát từ bên trong và kiểm soát từ bên ngoài bộ máy nhà nước. Kiểm soát quyền lực từ bên trong bộ máy nhà nước là cách thức thực hiện hoạt động kiểm soát gắn với chủ thể có thẩm quyền như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương. Đồng thời, mỗi loại cơ quan đó đều có cơ chế kiểm soát nội bộ của mình. Các cơ quan nhà nước thực hiện kiểm soát chủ yếu bằng các hình thức quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra phù hợp với từng đối tượng. Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài bộ máy nhà nước là cách thức thực hiện hoạt động kiểm soát gắn với chủ thể kiểm soát là các tổ chức chính trị, xã hội. Trước hết là vai trò kiểm soát về mặt chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếp đó là kiểm soát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân thông qua hoạt động giám sát xã hội, phản biện xã hội. Thông qua các tổ chức, đoàn thể mà nhân dân có điều kiện tham gia các công việc nhà nước, giám sát, kiểm tra hoạt động của Nhà nước và các cán bộ, công chức hoạt động trong các cơ quan nhà nước, đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.

Thứ tư, phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước đa dạng gồm: Chế độ báo cáo của các cơ quan nhà nước; hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra; hoạt động xét xử của Tòa án; hoạt động kiểm sát; theo dõi tình hình thi hành pháp luật; chất vấn; bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm; trưng cầu ý dân; phản biện xã hội, giám sát xã hội; của các phương tiện thông tin đại chúng và giám sát của nhân dân.

Thực tiễn vận hành của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước những năm gần đây, xét trên cả ba phương diện thể chế, thiết chế và các điều kiện thực hiện cho thấy, hoạt động kiểm soát quyền lực đã thu được những kết quả tích cực. Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện kiểm soát quyền lực thông qua việc thực hiện chức năng, lập hiến, lập pháp; giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Trong hoạt động lập pháp, Quốc hội đã xem xét, thảo luận, biểu quyết về các dự án luật do Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình; kiểm soát việc ủy quyền lập pháp. Quốc hội kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc bầu, phê chuẩn, miễn nhiệm, bãi nhiệm nhân sự cấp cao của Nhà nước như Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Chính phủ thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý mọi mặt đời sống xã hội; thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia, quản lý cán bộ, công chức, viên chức và công vụ; đề ra các chính sách về tài chính, về nhân sự, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan nhà nước và kiểm tra việc thực hiện chế độ tài chính của các cơ quan này. Mặt khác, đa phần các dự án luật là do Chính phủ được phân công trực tiếp xây dựng (95%) nên quá trình tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật cũng chính là quá trình đánh giá kết quả thực hiện các luật do Quốc hội ban hành. Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, kiểm soát hoạt động của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác thông qua hoạt động xét xử. Tòa án xét xử các hành vi hành chính và quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, thông qua xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân - gia đình, kinh tế, lao động, hành chính, Tòa án chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến tội phạm, vi phạm pháp luật và các tranh chấp để cơ quan hành pháp chú ý khắc phục. Các kiến nghị của Tòa án về những vấn đề nói trên phải được các cơ quan, tổ chức thực hiện. Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp có hiệu quả, góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm, tội phạm, bảo đảm cho hoạt động tư pháp tuân thủ đúng pháp luật. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tham gia tích cực vào hoạt động giám sát xã hội và phản biện xã hội; trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật.

Qua vận hành của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có thể thấy, hoạt động kiểm soát quyền lực đã thu được những kết quả bước đầu rất quan trọng, góp phần ngăn chặn và phòng ngừa được các hiện tượng vi phạm pháp luật, lạm quyền, tùy tiện, tham nhũng từ phía các cơ quan và công chức nhà nước, góp phần lành mạnh hóa bộ máy công quyền. Các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước thực hiện nguyên tắc tự kiểm tra và đặt dưới sự kiểm tra từ phía các cơ quan, tổ chức khác. Các yếu tố giám sát, kiểm tra giữa các bộ phận đó tạo ra khả năng phòng ngừa các hành vi vượt quá giới hạn thẩm quyền và lạm quyền, dẫn đến việc vi phạm Hiến pháp và pháp luật, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Giám sát của xã hội đã có những chuyển biến tích cực, huy động được sức mạnh của nhân dân, thông qua hình thức dân chủ trực tiếp để kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước, phát hiện để các cơ quan có thẩm quyền xử lý những công chức vi phạm pháp luật và đạo đức công vụ.

Hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng đã thu được những kết quả rất quan trọng, bảo đảm cho công tác xây dựng pháp luật đi đúng hướng, thể chế hóa đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước, đấu tranh kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng, làm trong sạch bộ máy nhà nước.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước vẫn còn những điểm hạn chế. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ… Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao”[2].

Thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước cho thấy hệ thống pháp luật về kiểm soát quyền lực còn thiếu đồng bộ, một số quy định còn mang tính tuyên bố, cam kết, chưa chế định thành những quy phạm cụ thể để kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả. Việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp là đối tượng chủ yếu trong kiểm soát hoạt động của Quốc hội. Quyền lập pháp được giới hạn bởi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi quy định chặt chẽ, cụ thể thẩm quyền ban hành văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giới hạn ủy quyền lập pháp của Quốc hội cho các cơ quan nhà nước khác. Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 cũng có các quy định về kiểm soát của nhân dân đối với cơ quan lập hiến, lập pháp. Nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều cơ quan nên trách nhiệm trong bảo vệ Hiến pháp chưa cụ thể. Điều 119 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định nhưng đến nay cơ chế này vẫn chưa được cụ thể hóa. Cơ chế tự kiểm soát của Quốc hội đối với các luật do mình ban hành cũng chưa cụ thể. Một số đạo luật sau khi có hiệu lực phát hiện có sai sót hoặc có điều khoản chưa phù hợp thì Quốc hội lại tự mình khắc phục. Cơ chế kiểm soát của Chính phủ và các cơ quan tư pháp đối với hoạt động của Quốc hội chưa được quy định rõ. Đối với hoạt động của Chính phủ, kiểm soát từ phía cơ quan dân cử được thực hiện thông qua giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ yếu ở hai phương diện: (i) Tính hợp pháp trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành pháp; (ii) Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành pháp. Là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ hoạch định và đề xuất chính sách. Tuy nhiên, quy trình lập pháp hiện hành chưa tạo cho Chính phủ khả năng bảo vệ chính sách đến cùng. Cơ chế kiểm soát của tư pháp đối với các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu thông qua phương thức gián tiếp khi phát hiện văn bản pháp luật trái luật. Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa án bị giới hạn bởi quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, theo đó, Tòa án chỉ có quyền kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mà không có quyền phán quyết về tính hợp pháp của văn bản đó. Về cơ chế kiểm soát của hành pháp đối với tư pháp, từ năm 1946 đến nay đã có những giai đoạn Chính phủ đảm nhận việc quản lý các Tòa án nhân dân về tổ chức. Việc kiểm soát của hành pháp đối với tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc hành pháp không can thiệp vào xét xử. Tuy nhiên, từ năm 2002, Tòa án nhân dân tối cao đảm nhận việc quản lý các Tòa án nên chưa có cơ chế để hành pháp kiểm soát lại tư pháp.

Cũng cần phải nói thêm rằng, mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là vấn đề ít được bàn đến. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân không tạo nhiều cơ hội cho chính quyền địa phương kiểm soát trở lại cơ quan này đóng trên địa bàn. Nếu như trước năm 1992, chính quyền địa phương có vai trò nhất định trong tổ chức, hoạt động của Tòa án (cấp kinh phí hoạt động, bầu thẩm phán, giám sát…) thì hiện nay, chỉ giới hạn ở quy định Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Tòa án nên khả năng kiểm soát của chính quyền địa phương đối với Tòa án không lớn. Pháp luật hiện hành cũng chỉ giới hạn ở quy định Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Viện kiểm sát.

Về vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên, pháp luật chưa có quy định cụ thể và đầy đủ về cơ chế, chính sách, về quyền và trách nhiệm của chủ thể bị giám sát và chủ thể giám sát, về điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát, cơ chế tiếp nhận, giải quyết, xử lý vi phạm và trả lời cho chủ thể giám sát. Ở mức độ cụ thể, pháp luật kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài với bộ máy nhà nước chậm được đổi mới. Nhiều quy định tập trung xác định địa vị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên ở cấp trung ương trong khi các quy định cho các tổ chức này ở các cấp địa phương chưa cụ thể. Một số quy định kiểm soát quyền lực của nhân dân đối với bộ máy nhà nước thiếu đồng bộ dẫn đến việc áp dụng luật còn khó khăn, hiệu quả kiểm soát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên chưa được như mong muốn.

Như vậy, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay đã được xác lập nhưng cần được tiếp tục hoàn thiện với một số giải pháp như sau:

Một là, ban hành Luật về bảo vệ Hiến pháp để cụ thể hóa khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013, tạo cơ sở pháp lý cho việc phán quyết các vi phạm Hiến pháp trong tổ chức, hoạt động thực thi quyền lực bằng thiết chế Hội đồng Hiến pháp hoặc Tòa án Hiến pháp. Đây là mô hình theo cơ chế tập trung để bảo vệ Hiến pháp. Hội đồng bảo vệ Hiến pháp hoặc Tòa án Hiến pháp cần được giao thẩm quyền xem xét về các đạo luật và cả văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để bảo đảm tính thống nhất của pháp chế. Hoặc có thể áp dụng cơ chế phi tập trung trong bảo vệ Hiến pháp, giao Tòa án nhân dân đảm nhận nhiệm vụ này. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về ủy quyền lập pháp theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn việc ban hành các văn bản pháp luật được Quốc hội ủy quyền, tiến tới giảm dần việc ủy quyền lập pháp.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát của hành pháp đối với lập pháp. Mặc dù, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp nhưng Chính phủ có khả năng tác động đến hoạt động lập pháp của Quốc hội thông qua quyền hoạch định chính sách, trình dự án luật. Để bảo đảm hiệu quả hoạt động kiểm soát của Chính phủ đối với Quốc hội trong thực hiện quyền lập pháp, cần xác định rõ quyền hạn của Chính phủ trong hoạt động lập pháp, không để trường hợp các luật được ban hành không phù hợp với thực tế. Việc xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân là một trong những giải pháp cơ bản để thực hiện chủ trương nêu trên, bảo đảm quyền hành pháp được kiểm soát ở mức độ tốt nhất[3]. Chính phủ phải xây dựng bộ máy trong sạch, liêm chính, hiệu quả; nói không với tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; làm gương cho xã hội về mọi vấn đề, nói đi đôi với làm; tăng cường kỷ cương, phép nước, đặc biệt là chấn chỉnh kỷ cương trong khu vực hành chính công.

Ba là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý kiểm soát của hành pháp đối với tư pháp. Thành lập Hội đồng Tư pháp quốc gia là thiết chế độc lập do Quốc hội thành lập để thực hiện việc quản lý các Tòa án về tổ chức, tạo điều kiện cho Tòa án tập trung vào xét xử và thực hiện tốt nguyên tắc độc lập xét xử. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, nhiều quốc gia đã thành lập Hội đồng Tư pháp quốc gia như một thiết chế độc lập với Tòa án tối cao để thực hiện việc quản lý các Tòa án. Hiện nay, ở nước ta đã có Hội đồng tuyển chọn, giám sát thẩm phán quốc gia hoạt động có kết quả tốt. Việc tổng kết, đánh giá hoạt động của Hội đồng tuyển chọn, giám sát thẩm phán quốc gia sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng mô hình mới về quản lý các Tòa án.

Bốn là, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện xã hội. Nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Giám sát xã hội và phản biện xã hội, trong đó xác định rõ chủ thể phản biện là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Quy định rõ phạm vi, hình thức, nội dung, trình tự, thủ tục tiến hành giám sát; quy định quy trình thực hiện kiến nghị giám sát; xác định trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà nước trả lời kiến nghị giám sát; chế tài đối với trường hợp không tiếp nhận, hoặc tiếp nhận nhưng trả lời không đúng thời gian luật định của cơ quan, người có thẩm quyền đối với kiến nghị giám sát.

Năm là, tăng cường kiểm soát về chính trị của Đảng đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước. Trước hết là kiểm soát thông qua công tác thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng thành pháp luật; kiểm soát thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy về hoạt động của cơ quan nhà nước, các nguyên tắc tổ chức của Đảng, việc thực hiện chính sách và pháp luật của nhà nước. Kiểm soát thông qua công tác cán bộ ở tất cả các khâu, thực hiện Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Đồng thời, thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm tra của Nhà nước với giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai
Học viện Chính trị khu vực II
PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn
Nguyên Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương

[1]. Cơ chế” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ khoa học kỹ thuật. Trong tiếng Anh, “mechanism” được hiểu như các bộ phận trong một cỗ máy hoặc là một quá trình được thiết lập mà nhờ đó một hoạt động được thực hiện.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, tr. 89, 93.

[3]. Xem: Xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển trong thực tiễn Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học ngày 04/5/2017, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chỉ đạo biên soạn: GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2017; PGS.TS. Lê Minh Quân, Nhà nước kiến tạo, Tạp chí Lý luận chính trị số 8/2016; TS. Đinh Văn Thụy, Nhà nước kiến tạo phát triển - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2017; PGS.TS. Vũ Công Giao, Nhà nước kiến tạo phát triển: Mô hình và triển vọng, Trang thông tin điện tử Cải cách hành chính, ngày 27/3/2018; TS. Nguyễn Hoàng Anh, Nhà nước kiến tạo phát triển, kinh nghiệm một số nước và giá trị tham khảo cho Việt Nam, Tài liệu học tập lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: