Thứ sáu 23/10/2026 02:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác đăng ký và thống kê hộ tịch trên địa bàn tỉnh quảng bình - khó khăn và giải pháp

Tóm tắt: Bài viết phản ánh kết quả công tác đăng ký và thống kê hộ tịch ở tỉnh Quảng Bình, đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu Chương trình hành động quốc gia về đăng ký và thống kê hộ tịch.


Abstract: The paper reflects results in the work of civil registration, statistics in the Quang Binh Province, at the same time, proposes some solutions with a view to implement goals of the National Action Program on civil registration and statistics.

Trong các mục tiêu cụ thể theo Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 23/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ đến năm 2024 (Quyết định số 101/QĐ-TTg), số liệu thống kê hàng năm về tỷ lệ khai sinh (có phân loại theo tuổi của mẹ, giới tính của trẻ, khu vực địa lý, đơn vị hành chính) được lấy từ dữ liệu đăng ký hoặc các nguồn dữ liệu hành chính có giá trị khác; bảng tóm tắt các số liệu thống kê hộ tịch về tỷ lệ khai sinh, khai tử sử dụng hệ thống đăng ký hộ tịch như một nguồn cơ bản, công chúng dễ tiếp cận dưới hình thức phiên bản điện tử và trong thời gian là 01 năm. Đến năm 2024, báo cáo số liệu thống kê hộ tịch kịp thời, đầy đủ và chính xác trong 02 năm trước đó, sử dụng dữ liệu từ hệ thống đăng ký hộ tịch như một nguồn căn bản, công chúng dễ tiếp cận.

Để thực hiện được mục tiêu đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã ban hành Quyết định số 3023/QĐ-UBND ngày 30/8/2017 về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo), Sở Tư pháp Quảng Bình - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo của tỉnh đã tham mưu Quyết định số 153/QĐ-BCĐ về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động, Quyết định số 152/QĐ-BCĐ về việc thành lập Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, đồng thời, tham mưu Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh ban hành Kế hoạch số 1486/KH-HĐPH ngày 21/8/2017 về việc tuyên truyền chuyên sâu pháp luật về hộ tịch.

1. Những kết quả đạt được trong công tác đăng ký và thống kê hộ tịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua

Thời gian qua, cùng với việc tiến hành nhiều cách thức tuyên truyền chuyên sâu pháp luật về hộ tịch, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo đã biên soạn và phát hành 10.000 cuốn sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký hộ tịch cấp phát cho công chức tư pháp - hộ tịch, phát hành 11.100 cuốn Bản tin Tư pháp, trong đó có nhiều nội dung tuyên truyền, phổ biến Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh xây dựng Chuyên mục “Pháp luật và đời sống” với nội dung “Tình hình triển khai Luật Hộ tịch năm 2014 trên địa bàn tỉnh” và chuyên mục “Với khán giả xem truyền hình”. Song song với đó, việc ban hành các bản hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký hộ tịch nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện đăng ký hộ tịch tại địa phương đã được Ban Chỉ đạo Chương trình thực hiện thường xuyên.

Để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức tư pháp - hộ tịch, Sở Tư pháp đã tổ chức 06 lớp tập huấn nghiệp vụ cho đối tượng là công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, cấp huyện với 636 lượt người tham dự; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tổ chức 04 lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức tư pháp của Phòng Tư pháp và công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trên địa bàn với hơn 390 người tham dự. Ngoài việc tập huấn nghiệp vụ, để hoàn thiện và phát huy có hiệu quả công tác này, Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân các huyện trên địa bàn tỉnh đã cử công chức phụ trách lĩnh vực hộ tịch tham gia lớp tập huấn chuyên sâu về công tác hộ tịch do Bộ Tư pháp tổ chức tại thành phố Hà Tĩnh.

Hàng năm, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh đều tổ chức rà soát, đánh giá để sắp xếp, bố trí lại công chức đủ năng lực, trình độ chuyên môn, đảm bảo chất lượng để đảm nhận công tác hộ tịch. Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 08 huyện, thị xã, thành phố và 08/08 Phòng Tư pháp huyện, thị xã, thành phố đã bố trí 08 công chức làm công tác hộ tịch, trong đó có 07 công chức có trình độ Đại học Luật, 01 công chức có trình độ Thạc sỹ Luật. Có 159 xã đã bố trí công chức làm công tác hộ tịch trong đó có 139 công chức có trình độ Cử nhân Luật; 18 công chức có trình độ Trung cấp Luật; 02 công chức có trình độ Trung cấp Kinh tế. Số lượng công chức đạt trình độ chuyên môn theo quy định của Luật Hộ tịch là 157 người, đạt tỷ lệ 98,74%; số công chức chưa đạt trình độ chuyên môn theo quy định của Luật Hộ tịch là 02 người, đạt tỷ lệ 1,26%. Cùng với việc nâng cao năng lực chuyên môn, bố trí cán bộ có đủ năng lực thực hiện công tác này, để thực hiện có hiệu quả Luật Hộ tịch năm 2014 và kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra đối với việc triển khai thực hiện Quyết định số 101/QĐ-TTg, các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh đã quan tâm đầu tư trang bị máy vi tính có kết nối mạng internet, máy in phục vụ cho công tác đăng ký hộ tịch. Tại các Phòng Tư pháp cấp huyện, 100% công chức phụ trách tư pháp - hộ tịch được bố trí máy ví tính, máy in có kết nối mạng internet; tại từng xã, phường, thị trấn cũng đã bố trí máy tính riêng cho công chức tư pháp - hộ tịch là 131/159 xã, phường, thị trấn, đạt tỷ lệ 82%; 28 xã còn lại, công chức tư pháp - hộ tịch sử dụng máy tính chung với bộ phận khác như văn phòng hoặc bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả. Số máy tính của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã được kết nối mạng internet là 154/159 đơn vị cấp xã, đạt tỷ lệ 97%. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch nói riêng đã được Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm, chỉ đạo triển khai, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như Đề án “Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc” trên địa bàn, đồng thời chỉ đạo địa phương đầu tư trang bị phương tiện làm việc đạt chuẩn để phần mềm được kết nối, sử dụng có hiệu quả, khai thác tối đa tính năng, nâng cao hiệu quả trong đăng ký, quản lý hộ tịch, chuẩn bị điều kiện kết nối, ứng dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử trên toàn quốc. Hiện nay, các địa phương trên địa bàn đã đầu tư ứng dụng phần mềm công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch tại 159/159 đơn vị cấp xã, 08 đơn vị cấp huyện.

Nhằm kịp thời đánh giá và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tư pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Năm 2017, đã tiến hành thanh tra đối với 02 đơn vị cấp huyện và 17 đơn vị cấp xã. Trong quá trình thanh tra, các thành viên trong đoàn thanh tra đã tiến hành hướng dẫn, trao đổi, giải đáp trực tiếp khó khăn, vướng mắc của các đơn vị được kiểm tra. Qua công tác thanh tra đã phát hiện những tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch và kịp thời chấn chỉnh việc chấp hành nghiêm pháp luật về đăng ký hộ tịch tại các đơn vị, địa phương. Việc khảo sát, đánh giá tình hình đăng ký và thống kê hộ tịch được tiến hành đồng thời, Sở Tư pháp đã phối hợp với Cục Hộ tịch, Quốc tịch, Chứng thực, Bộ Tư pháp thực hiện khảo sát đánh giá tình hình đăng ký và thống kê hộ tịch tại 02 đơn vị hành chính cấp huyện và 02 đơn vị hành chính cấp xã nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong công tác đăng ký và thống kê hộ tịch trên địa bàn.

2. Một số khó khăn

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thống kê đăng ký hộ tịch trên địa bàn tỉnh cũng gặp không ít khó khăn nhất định phần nào ảnh hưởng đến công tác này. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 112/159 địa phương cấp xã có 02 công chức tư pháp - hộ tịch, còn lại chỉ có 01 công chức tư pháp - hộ tịch, bên cạnh thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ tịch, công chức tư pháp - hộ tịch còn phải tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện các nhóm nhiệm vụ khác. Việc kiêm nhiệm này đã ảnh hưởng đến chất lượng của công tác đăng ký và thống kê hộ tịch. Bên cạnh đó, đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã cũng thường xuyên thay đổi, không bảo đảm sự ổn định, ảnh hưởng đến công tác chuyên môn. Cùng với đó là cơ sở vật chất phục vụ riêng cho công tác đăng ký, thống kê hộ tịch. Từ năm 2014 đến nay, mặc dù đã triển khai thực hiện kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác đăng ký và thống kê hộ tịch nhưng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở cơ sở ở một số địa phương chưa đảm bảo như máy vi tính đã cũ, kết cấu không đồng bộ, không kết nối với mạng internet; một số địa phương chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Mặt khác, Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024 mới bắt đầu triển khai từ năm 2017, hiện nay, việc sử dụng phần mềm dùng chung của Bộ Tư pháp đang thực hiện thí điểm (tỉnh Quảng Bình không nằm trong 04 tỉnh triển khai thí điểm). Vì vậy, việc sử dụng và tích hợp vào phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung của Bộ Tư pháp chưa được thực hiện do chưa có sự đồng bộ.

3. Những giải pháp trong thời gian tới

Để triển khai thực hiện có hiệu quả, đồng bộ Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024, năm 2018, ngoài việc ban hành kế hoạch thực hiện cần có những giải pháp cụ thể để đạt được những mục tiêu đề ra, đó là:

Một là, tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc sở, ban, ngành và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao về việc triển khai thực hiện Chương trình hành động quốc gia về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024 theo đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả.

Hai là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch, Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam về đăng ký, thống kê hộ tịch giai đoạn 2017 - 2024 để người dân được tiếp cận pháp luật về quyền, trách nhiệm đăng ký hộ tịch, đồng thời nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của công tác đăng ký, thống kê hộ tịch của các cơ quan, tổ chức.

Ba là, các cơ quan hữu quan cần chủ động, tích cực tham mưu triển khai thực hiện Đề án Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, chuẩn hóa phần mềm đăng ký, thống kê hộ tịch dùng chung theo phần mềm của Bộ Tư pháp khi áp dụng đại trà; thực hiện việc hiện đại hóa phương thức thu thập, phân tích, sử dụng số liệu và nguyên nhân tử vong; đào tạo, nâng cao năng lực của cán bộ y tế làm công tác cấp giấy chứng sinh, Giấy báo tử, thu thập, xử lý dữ liệu sinh, tử, nhất là về kỹ năng chẩn đoán, mã hóa nguyên nhân chính gây tử vong theo ICD.

Bốn là, thống kê số liệu hộ tịch hàng năm, công bố công khai bảo đảm đầy đủ, chính xác, thống nhất, kịp thời, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước lẫn nhu cầu sử dụng của cá nhân, tổ chức; rà soát, bố trí đủ số lượng công chức làm công tác hộ tịch tại cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch các cấp trên địa bàn; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng công chức làm công tác hộ tịch; nâng cao tỷ lệ đăng ký khai sinh, khai tử, nuôi con nuôi, tỷ lệ xác nhận thông tin về việc ly hôn trong sổ hộ tịch; giảm tỷ lệ tảo hôn, không có kết hôn cận huyết thống.

ĐOÀN KHÁNH HÒA *

* Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: