Thứ sáu 16/01/2026 00:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong gia nhập thị trường

Tóm tắt: Quyền tự do gia nhập thị trường là một thành tố của quyền tự do kinh doanh, vì vậy, thủ tục gia nhập thị trường càng đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, công bằng và tiết kiệm thì quyền tự do kinh doanh của công dân càng được đảm bảo. Bài viết so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này, qua đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong thủ tục gia nhập thị trường tại Việt Nam.

Abstract: The right of market entry freedom is a component of the right of business freedom. The more market entry procedures are simple, favourable, quickly, fair and sparing, the better the right of business freedom is ensured. The article makes comparison between Vietnamese law and laws of some countries in the world regarding this issue and then makes some proposals with a view to ensure the right of business freedom in market entery in Vietnam.

1. Quyền tự do gia nhập thị trường theo quy định của pháp luật

1.1. Thủ tục chuẩn bị đăng ký gia nhập thị trường

a. Xây dựng điều lệ công ty

Ở Hoa Kỳ, các bang khác nhau có quy định khác nhau về điều lệ công ty (chứng chỉ thành lập công ty). Pháp luật doanh nghiệp của Bang Delaware không quy định về điều lệ công ty mà có quy định về chứng chỉ thành lập công ty cổ phần với các nội dung như: Tên công ty, địa chỉ công ty, mục đích kinh doanh, tên và địa chỉ thành viên sáng lập[1]. Pháp luật không can thiệp vào nội dung chi tiết của điều lệ công ty. Các chủ thể tham gia có quyền tự do quyết định nội dung điều lệ công ty. Theo pháp luật Nhật Bản, công ty cổ phần khi thành lập phải có điều lệ công ty. Điều lệ công ty cần phải ghi rõ các mục sau: Mục đích, tên thương mại, địa điểm trụ sở chính[2]... Những nội dung khác của điều lệ công ty các chủ thể kinh doanh hoàn toàn có quyền quyết định.

Pháp luật Trung Quốc cũng có quy định các công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn (TNHH) phải có điều lệ công ty khi thành lập. Ví dụ, điều kiện để thành lập công ty TNHH là các thành viên cùng nhau xây dựng điều lệ công ty[3]. Điều lệ của công ty TNHH phải ghi rõ các nội dung như: Tên và nơi đặt trụ sở; phạm vi kinh doanh; vốn đăng ký...[4]. Luật Công ty của Trung Quốc tuy có yêu cầu ghi nhận rất nhiều mục trong điều lệ nhưng cũng không can thiệp vào quyền tự do quyết định nội dung điều lệ công ty của các chủ thể kinh doanh. Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam cũng như pháp luật của các nước, quy định khi thành lập công ty cổ phần, TNHH và hợp danh phải có điều lệ công ty. Pháp luật tôn trọng quyền tự do của chủ thể kinh doanh khi xây dựng điều lệ công ty. Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định khá chi tiết các mục trong điều lệ công ty, nhưng ở mỗi mục, các chủ thể hoàn toàn tự do quyết định những nội dung bên trong. Luật Doanh nghiệp năm 2014 tương đồng với pháp luật của các nước trên thế giới.

b. Chuẩn bị hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hoặc đăng ký đầu tư

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp rất đơn giản, gồm có: Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, điều lệ công ty, danh sách thành viên, bản sao giấy tờ liên quan của thành viên[5]. Quyền tự do gia nhập thị trường của chủ thể mở rộng, biểu hiện: Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, hồ sơ đăng ký được gọi là “đăng ký doanh nghiệp” thay vì “đăng ký kinh doanh” như các Luật Doanh nghiệp trước đó. Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp (Nghị định số 78/2015/NĐ-CP) đã bỏ giấy tờ xác định vốn pháp định và chứng chỉ hành nghề và các loại giấy phép khác trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.

So với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Luật Công ty của Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng như yêu cầu khai rõ mục đích, tên thương mại, trụ sở, thành viên, người đại diện[6]... Riêng đối với hai loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần và công ty TNHH, Luật Công ty Nhật Bản yêu cầu khi đăng ký phải khai thông tin về vốn điều lệ[7]. Các loại hình doanh nghiệp khác không phải khai thông tin về vốn điều lệ. Điều này cho thấy, hồ sơ thành lập công ty tại Nhật Bản đơn giản hơn so với thành lập theo pháp luật Việt Nam. Luật Công ty Trung Quốc quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phức tạp hơn so với pháp luật của Việt Nam và Nhật Bản. Ví dụ, theo quy định về thành lập công ty cổ phần, Hội đồng quản trị phải nộp các tài liệu và đăng ký thành lập công ty gồm: Giấy đề nghị thành lập công ty; biên bản cuộc họp khai mạc; điều lệ công ty[8]...

Đối với thủ tục đầu tư, hồ sơ đăng ký đầu tư được ghi nhận tại khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2014 khá rõ ràng, chi tiết và tương đối đơn giản. Tuy vậy, hồ sơ đối với dự án có chủ trương đầu tư khá phức tạp khi yêu cầu có thêm một số tài liệu về phương án giải phóng mặt bằng và di dân (nếu có); đánh giá tác động môi trường và giải pháp về môi trường; đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù (nếu có)[9]. Quy định về tài liệu giải phóng mặt bằng, di dân, đánh giá tác động môi trường… nhằm hài hòa quyền lợi của nhà đầu tư và cộng đồng dân cư. Do đó, quy định này không làm hạn chế quyền tự do kinh doanh, mà là quy định ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư đối với quyền lợi của chủ thể khác, đảm bảo phát triển kinh tế một cách bền vững.

So với Luật Đầu tư của Việt Nam, pháp luật Nhật Bản có quy định khác về hồ sơ đăng ký đầu tư. Các nhà đầu tư vào Nhật Bản đăng ký đầu tư bằng cách đăng ký doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hồ sơ gồm: Đơn đề nghị thành lập doanh nghiệp; tài liệu chứng minh sự tồn tại của trụ sở chính; tài liệu chứng minh năng lực của người đại diện tại Nhật Bản[10]... Với quy định về hồ sơ này sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư dễ dàng gia nhập thị trường. Tuy vậy, trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp chưa có những yêu cầu sơ khởi thể hiện trách nhiệm của nhà đầu tư đối với cộng đồng.

Theo pháp luật đầu tư Trung Quốc, hồ sơ đăng ký đầu tư có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam như: Đơn xin thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; báo cáo nghiên cứu khả thi; các điều lệ doanh nghiệp; văn bản trả lời của chính quyền địa phương liên quan ở cấp quận nơi thành lập doanh nghiệp nước ngoài[11]... Với yêu cầu phải có văn bản trả lời của địa phương trong hồ sơ là một trong những quy định làm hạn chế quyền tự do của chủ thể khi gia nhập thị trường. Quy định về hồ sơ đăng ký đầu tư của Trung Quốc cũng chưa có sự phân loại theo các lĩnh vực đầu tư, nhà đầu tư để có những yêu cầu ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư đối với cộng đồng.

1.2. Thủ tục đăng ký gia nhập thị trường

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, thủ tục đăng ký doanh nghiệp được quy định khá đơn giản. Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định: Chủ thể kinh doanh tiến hành gửi hồ sơ hợp lệ và nhập vào hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thêm vào đó, với dữ liệu được chuẩn hóa, doanh nghiệp không cần phải đi đăng ký thuế mà được cơ quan thuế cung cấp cùng với mã số doanh nghiệp. Hiện nay, lệ phí đăng ký doanh nghiệp[12] là 200.000 VNĐ cho một doanh nghiệp. Đây là mức lệ phí không cao và các chủ thể kinh doanh dễ dàng chi trả khi thành lập doanh nghiệp.

Đối với thủ tục đăng ký đầu tư, theo Luật Đầu tư năm 2014, thủ tục đã rút ngắn thời gian đáng kể so với giai đoạn trước đây. Trường hợp đầu tư dưới dạng góp vốn thì thủ tục đăng ký tối đa là 15 ngày[13]. Trường hợp dự án phải đăng ký đầu tư thì thời gian có kết quả không quá 15 ngày[14]. Trường hợp dự án đầu tư có chủ trương thì thời gian để xử lý hồ sơ và ra quyết định là khác nhau[15]: (i) Chủ trương của UBND cấp tỉnh: Tổng thời gian có thể kéo dài hơn 01 tháng; (ii) Chủ trương của Chính phủ: Thời gian có thể kéo dài trên 02 tháng; (iii) Chủ trương của Quốc hội: Tổng thời gian có thể kéo dài nhiều tháng.

Tại Singapore, “đăng ký doanh nghiệp được thực hiện thông qua Bizfile và toàn bộ quy trình sẽ được hoàn tất trong vòng một giờ. Phí đăng ký là 300 SGD. Thời gian hoàn thành thủ tục đăng ký doanh nghiệp không đến 01 ngày với thủ tục đăng ký online”[16]. So với Việt Nam, thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại Singapore đơn giản hơn, thời gian xử lý nhanh hơn đã tạo cho chủ thể dễ dàng gia nhập thị trường hơn. Ở Trung Quốc, tổng thời gian xin giấy phép kinh doanh, xin cấp mã doanh nghiệp và mã số thuế thì thủ tục lên tới 11 ngày. Kể từ ngày 01/01/2015, phí đăng ký kinh doanh được hủy bỏ[17]. Thủ tục đăng ký doanh nghiệp của Trung Quốc dài hơn so với Việt Nam. Tuy vậy, quy định bỏ lệ phí đăng ký doanh nghiệp tại Trung Quốc ưu việt hơn so với Việt Nam. Nam Phi đưa ra 04 cách khác nhau để đăng ký doanh nghiệp nhưng cách phổ biến nhất là đăng ký thông qua website của Ủy ban doanh nghiệp và sở hữu trí tuệ. Thời gian xử lý và trả lời khoảng 10 ngày với mức phí là 125 ZAR[18]. So với thủ tục đăng ký doanh nghiệp của Nam Phi, thủ tục đăng ký theo pháp luật Việt Nam ngắn hơn. Điều này tạo điều kiện rất lớn để chủ thể kinh doanh của Việt Nam dễ dàng gia nhập thị trường.

Đánh giá cả quá trình phát triển từ những năm 1990 đến nay và so sánh với các quốc gia khác trên thế giới, pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam đã và đang đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường. Điều này được minh chứng thông qua đánh giá xếp hạng về cơ hội gia nhập thị trường của chủ thể (Starting a Business) ở Việt Nam từ năm 2004 - 2017 so với một số nước trên thế giới:

Dựa vào số liệu DTF - Starting a business[19] từ cơ sở dữ liệu của World Bank từ năm 2004 đến nay, chỉ số DTF - Starting a business của Việt Nam có sự thay đổi ngoạn mục từ 66,10 của năm 2004 lên 81,76 của năm 2017. Tuy vậy, so với Singapore thì chỉ số DTF của Việt Nam còn thấp. Để quyền tự do gia nhập thị trường của các chủ thể trở nên phổ quát, thì Việt Nam cần có một số thay đổi để tháo gỡ những “rào cản” tới quyền này.

2. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền tự do nhập thị trường của chủ thể kinh doanh ở Việt Nam

Thứ nhất, về thủ tục thông báo con dấu

Khoản 2 Điều 34 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định, trước khi sử dụng con dấu phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Theo đó, doanh nghiệp trước khi sử dụng con dấu phải tiến hành một loạt các thủ tục về đăng ký con dấu theo Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu mà sau đó vẫn phải đến phòng đăng ký kinh doanh để làm thủ tục thông báo trước khi sử dụng. Theo chúng tôi, nên bỏ quy định về thông báo sử dụng con dấu trước khi sử dụng; có sự liên kết dữ liệu giữa cơ quan đăng ký kinh doanh với cơ quan đăng ký mẫu con dấu; chủ thể kinh doanh phải đăng ký chữ ký số khi thành lập doanh nghiệp.

Thứ hai, về mối quan hệ giữa chứng nhận đầu tư và thành lập doanh nghiệp

Theo khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư năm 2014: “… trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư…”. Thiết nghĩ, quy định trên là không hợp lý và làm hạn chế quyền gia nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Chúng tôi kiến nghị hủy bỏ quy định trên. Ngoài ra, để Nhà nước quản lý được dòng tiền, dự án đầu tư nhưng không làm hạn chế quyền tự do gia nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài, nên quan tâm: (i) Quy định danh mục dự án không cần đăng ký đầu tư và dự án phải đăng ký đầu tư dựa vào các tiêu chí sau: Chủ thể đầu tư; quy mô đầu tư; tính chất của dự án đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào dự án quy mô nhỏ, thông thường không phải tiến hành thủ tục đăng ký đầu tư trước khi thành lập tổ chức kinh tế; (ii) Khi thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cần bổ sung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp nội dung mục đích kinh doanh để cơ quan quản lý nắm được mục đích của các nhà đầu tư hướng tới khi đầu tư vào Việt Nam với hình thức thành lập tổ chức kinh tế; (iii) Nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam cần phải đăng ký tài khoản ngân hàng tại ngân hàng Việt Nam hoặc các chi nhánh của ngân hàng Việt Nam trên thế giới và nộp tiền vào tài khoản đó theo quy định.

Thứ ba, về thời gian và lệ phí đăng ký doanh nghiệp

So với Singapore, thời gian đăng ký và cấp chứng nhận doanh nghiệp của Việt Nam còn khá dài. Vì vậy, với sự hỗ trợ và phát triển của công nghệ thông tin, chúng tôi kiến nghị trong thời gian tới rút ngắn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận xuống còn 01 ngày làm việc. Thêm vào đó, từng bước Việt Nam giảm lệ phí và tiến tới miễn phí đối với thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Nếu thời gian và lệ phí đăng ký giảm sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp sớm gia nhập thị trường và quyền tự do kinh doanh được bảo đảm.

Thứ tư, rút ngắn thời gian hoàn tất thủ tục đầu tư

Singapore - quốc gia được đánh giá xếp hạng thứ hai và Nhật Bản - quốc gia được đánh giá xếp hạng thứ 34 trong 190 quốc gia về chỉ số “dễ dàng kinh doanh”[20] đều tích hợp thủ tục cấp chứng nhận đầu tư và chứng nhận doanh nghiệp. Vì vậy, để các nhà đầu tư dễ dàng gia nhập thị trường thì Việt Nam nên tích hợp thủ tục trên để rút ngắn thời gian cấp chứng nhận đầu tư. Thiết nghĩ trong Luật Đầu tư không nên quy định số ngày tuyệt đối để hoàn tất thủ tục cấp chứng nhận đầu tư. Nên chăng, thời gian hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư sẽ được công bố hàng năm theo quy định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Điều này sẽ tạo nên sự ổn định của Luật và những quy định mới về thời gian đăng ký đầu tư phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ năm, hài hòa quyền lợi của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng

Nghiên cứu pháp lý về mối quan hệ giữa luật đầu tư quốc tế và luật nhân quyền quốc tế cho đến nay là nghiên cứu về hai lĩnh vực pháp lý mâu thuẫn nhau[21]. Các nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư có khả năng làm cản trở các quốc gia thực hiện nghĩa vụ bảo vệ quyền con ngườ[i22]. Tuy vậy, luật đầu tư quốc tế và luật nhân quyền quốc tế vẫn có thể tồn tại song song và tương đồng[23]. Vì vậy, trên tinh thần tôn trọng quyền tự do gia nhập thị trường của các nhà đầu tư nhưng vẫn phải dung hòa với quyền của cộng đồng, thiết nghĩ Luật Đầu tư cần ghi nhận như sau: (i) Dự án cần phải di dân: Có phương án giải phóng mặt bằng, đền bù và di dân; (ii) Dự án ảnh hưởng tới môi trường: Có đánh giá sơ bộ tác động môi trường và giải pháp bảo vệ môi trường; (iii) Dự án ảnh hưởng tới dân sinh: Có đánh giá sơ bộ tác động tới dân sinh và phương án sử dụng lao động tại địa phương hoặc tạo điều kiện cư dân tiếp cận được công việc mới.

Thứ sáu, cải cách hành chính

Việt Nam cần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin và liên kết dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp cho thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư trở nên dễ dàng và nhanh hơn. Đồng thời, nên thành lập “Trung tâm dịch vụ hành chính” thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đặt ba trung tâm ở ba thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh để các chủ thể kinh doanh dễ dàng liên hệ. Trung tâm này thực hiện chức năng: Tư vấn và hỗ trợ lập hồ sơ thành lập doanh nghiệp hoặc đầu tư; ứng dụng công nghệ thông tin để đăng ký doanh nghiệp và đăng ký đầu tư. Mô hình này đã được thực hiện ở Nhật Bản và hỗ trợ tốt cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Nhật Bản. Bên cạnh đó, Chính phủ cần thành lập một Hội đồng tư vấn về đầu tư gồm các nhà quản lý, các nhà khoa học và nhà đầu tư để đánh giá hoạt động đầu tư hàng năm; ra báo cáo về những yếu tố làm cản trở hoạt động đầu tư và đưa ra các giải pháp để thu hút đầu tư và giải quyết vướng mắc trong thủ tục đầu tư; đề xuất thời gian hợp lý cho thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư cho năm tới.

ThS. Nguyễn Thị Thu Trang

Đại học Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem 8 DE Code § 102 (2016).

[2]. Article 27 Japan Company Act (Act No.86 of July 26, 2005).

[3]. Article 23(IV) Company Law of the People’s Republic of China (Revised in Dec 28, 2013).

[4]. Article 25 Company Law of the People’s Republic of China (Revised in Dec 28, 2013).

[5]. Xem Điều 20 - 23, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều 21 - 23 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 về đăng ký doanh nghiệp.

[6]. Xem Article 911 - 914, Japan Company Act (Act No.86 of July 26, 2005).

[7]. Xem Article 911(3(V)) & 914(V), Japan Company Act (Act No.86 of July 26, 2005).

[8]. Xem Article 92, Company Law of the People’s Republic of China (Revised in Dec 28, 2013).

[9]. Xem khoản 1 Điều 34 và khoản 1 Điều 35 Luật Đầu tư Việt Nam năm 2014.

[10]. Xem Article 129 (1) Commercial Registration Act of Japan (Act No. 125 of 1963, Amendment Act No. 87 of 2005) & Article 933 (1), 939 (2) Company Act of Japan (Act No. 86 of 2005).

[11]. Article 10, Law of the People’s Republic of China on Foreign-funded Enterprises 2005.

[12]. Xem Biểu phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo Thông tư số 215/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 10 tháng 11 năm 2016 về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp.

[13]. Xem điểm b, khoản 3, Điều 26 Luật Đầu tư năm 2014.

[14]. Xem điểm b, khoản 2, Điều 37 Luật Đầu tư năm 2014.

[15]. Xem Điều 33 - 35, Luật Đầu tư năm 2014.

[16]. Xem World Bank (2017), Doing business: Equal opportunity for all 2017 (Economic profile of ) 14th Edition, Washington, p.21.

[17]. World Bank (2017), Doing business: Equal opportunity for all 2017 (Economic profile of China) 14th Edition, Washington, p.23 - 24.

[18]. World Bank (2017), Doing business: Equal opportunity for all 2017 (Economic profile of South Africa) 14th Edition, Washington, p.22 - 23.

[19]. DTF-Starting a Business (Starting a business Distance to Frontier) là khoảng cách của một nền kinh tế đến giới hạn (biên giới) được phản ánh trên thang điểm từ 0 đến 100. Trong đó 0 thể hiện hiệu suất thấp nhất và 100 là giới hạn. Ví dụ, một điểm số 75 trong năm 2016 có nghĩa là một nền kinh tế là 25 điểm xa biên giới được xây dựng từ những điểm tốt nhất trên tất cả các nền kinh tế trong thời điểm đó. Một điểm số 80 trong năm 2017 sẽ cho biết nền kinh tế đang được cải thiện.

[20]. Xem World Bank (2017), Doing business: Equal opportunity for all 2017 (14th Edition), Washington, p.7.

[21]. J. D. Fry (2008), “International Human Rights Law in Investment Arbitration: Evidence of International Law’s Unity”, Duke Journal of Comparative & International Law, (18), pp. 1, 77, 148 and 149.

[22]. B. Simma (2011), “Foreign Investment Arbitration: A Place for Human Rights?”, International and Comparative Law Quarterly, (3), pp. 580.

[23]. Nicolas Klein (2012), “Human Rights and International Investment Law: Investment Protection as Human Right?”, Goettingen Journal of International Law, (4), pp. 215.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: