Thứ hai 21/09/2026 07:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong gia nhập thị trường

Tóm tắt: Quyền tự do gia nhập thị trường là một thành tố của quyền tự do kinh doanh, vì vậy, thủ tục gia nhập thị trường càng đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, công bằng và tiết kiệm thì quyền tự do kinh doanh của công dân càng được đảm bảo. Bài viết so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này, qua đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong thủ tục gia nhập thị trường tại Việt Nam.

Abstract: The right of market entry freedom is a component of the right of business freedom. The more market entry procedures are simple, favourable, quickly, fair and sparing, the better the right of business freedom is ensured. The article makes comparison between Vietnamese law and laws of some countries in the world regarding this issue and then makes some proposals with a view to ensure the right of business freedom in market entery in Vietnam.

1. Quyền tự do gia nhập thị trường theo quy định của pháp luật

1.1. Thủ tục chuẩn bị đăng ký gia nhập thị trường

a. Xây dựng điều lệ công ty

Ở Hoa Kỳ, các bang khác nhau có quy định khác nhau về điều lệ công ty (chứng chỉ thành lập công ty). Pháp luật doanh nghiệp của Bang Delaware không quy định về điều lệ công ty mà có quy định về chứng chỉ thành lập công ty cổ phần với các nội dung như: Tên công ty, địa chỉ công ty, mục đích kinh doanh, tên và địa chỉ thành viên sáng lập[1]. Pháp luật không can thiệp vào nội dung chi tiết của điều lệ công ty. Các chủ thể tham gia có quyền tự do quyết định nội dung điều lệ công ty. Theo pháp luật Nhật Bản, công ty cổ phần khi thành lập phải có điều lệ công ty. Điều lệ công ty cần phải ghi rõ các mục sau: Mục đích, tên thương mại, địa điểm trụ sở chính[2]... Những nội dung khác của điều lệ công ty các chủ thể kinh doanh hoàn toàn có quyền quyết định.

Pháp luật Trung Quốc cũng có quy định các công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn (TNHH) phải có điều lệ công ty khi thành lập. Ví dụ, điều kiện để thành lập công ty TNHH là các thành viên cùng nhau xây dựng điều lệ công ty[3]. Điều lệ của công ty TNHH phải ghi rõ các nội dung như: Tên và nơi đặt trụ sở; phạm vi kinh doanh; vốn đăng ký...[4]. Luật Công ty của Trung Quốc tuy có yêu cầu ghi nhận rất nhiều mục trong điều lệ nhưng cũng không can thiệp vào quyền tự do quyết định nội dung điều lệ công ty của các chủ thể kinh doanh. Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam cũng như pháp luật của các nước, quy định khi thành lập công ty cổ phần, TNHH và hợp danh phải có điều lệ công ty. Pháp luật tôn trọng quyền tự do của chủ thể kinh doanh khi xây dựng điều lệ công ty. Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định khá chi tiết các mục trong điều lệ công ty, nhưng ở mỗi mục, các chủ thể hoàn toàn tự do quyết định những nội dung bên trong. Luật Doanh nghiệp năm 2014 tương đồng với pháp luật của các nước trên thế giới.

b. Chuẩn bị hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hoặc đăng ký đầu tư

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp rất đơn giản, gồm có: Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, điều lệ công ty, danh sách thành viên, bản sao giấy tờ liên quan của thành viên[5]. Quyền tự do gia nhập thị trường của chủ thể mở rộng, biểu hiện: Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, hồ sơ đăng ký được gọi là “đăng ký doanh nghiệp” thay vì “đăng ký kinh doanh” như các Luật Doanh nghiệp trước đó. Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp (Nghị định số 78/2015/NĐ-CP) đã bỏ giấy tờ xác định vốn pháp định và chứng chỉ hành nghề và các loại giấy phép khác trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.

So với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Luật Công ty của Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng như yêu cầu khai rõ mục đích, tên thương mại, trụ sở, thành viên, người đại diện[6]... Riêng đối với hai loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần và công ty TNHH, Luật Công ty Nhật Bản yêu cầu khi đăng ký phải khai thông tin về vốn điều lệ[7]. Các loại hình doanh nghiệp khác không phải khai thông tin về vốn điều lệ. Điều này cho thấy, hồ sơ thành lập công ty tại Nhật Bản đơn giản hơn so với thành lập theo pháp luật Việt Nam. Luật Công ty Trung Quốc quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phức tạp hơn so với pháp luật của Việt Nam và Nhật Bản. Ví dụ, theo quy định về thành lập công ty cổ phần, Hội đồng quản trị phải nộp các tài liệu và đăng ký thành lập công ty gồm: Giấy đề nghị thành lập công ty; biên bản cuộc họp khai mạc; điều lệ công ty[8]...

Đối với thủ tục đầu tư, hồ sơ đăng ký đầu tư được ghi nhận tại khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2014 khá rõ ràng, chi tiết và tương đối đơn giản. Tuy vậy, hồ sơ đối với dự án có chủ trương đầu tư khá phức tạp khi yêu cầu có thêm một số tài liệu về phương án giải phóng mặt bằng và di dân (nếu có); đánh giá tác động môi trường và giải pháp về môi trường; đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù (nếu có)[9]. Quy định về tài liệu giải phóng mặt bằng, di dân, đánh giá tác động môi trường… nhằm hài hòa quyền lợi của nhà đầu tư và cộng đồng dân cư. Do đó, quy định này không làm hạn chế quyền tự do kinh doanh, mà là quy định ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư đối với quyền lợi của chủ thể khác, đảm bảo phát triển kinh tế một cách bền vững.

So với Luật Đầu tư của Việt Nam, pháp luật Nhật Bản có quy định khác về hồ sơ đăng ký đầu tư. Các nhà đầu tư vào Nhật Bản đăng ký đầu tư bằng cách đăng ký doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hồ sơ gồm: Đơn đề nghị thành lập doanh nghiệp; tài liệu chứng minh sự tồn tại của trụ sở chính; tài liệu chứng minh năng lực của người đại diện tại Nhật Bản[10]... Với quy định về hồ sơ này sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư dễ dàng gia nhập thị trường. Tuy vậy, trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp chưa có những yêu cầu sơ khởi thể hiện trách nhiệm của nhà đầu tư đối với cộng đồng.

Theo pháp luật đầu tư Trung Quốc, hồ sơ đăng ký đầu tư có nhiều điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam như: Đơn xin thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; báo cáo nghiên cứu khả thi; các điều lệ doanh nghiệp; văn bản trả lời của chính quyền địa phương liên quan ở cấp quận nơi thành lập doanh nghiệp nước ngoài[11]... Với yêu cầu phải có văn bản trả lời của địa phương trong hồ sơ là một trong những quy định làm hạn chế quyền tự do của chủ thể khi gia nhập thị trường. Quy định về hồ sơ đăng ký đầu tư của Trung Quốc cũng chưa có sự phân loại theo các lĩnh vực đầu tư, nhà đầu tư để có những yêu cầu ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư đối với cộng đồng.

1.2. Thủ tục đăng ký gia nhập thị trường

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, thủ tục đăng ký doanh nghiệp được quy định khá đơn giản. Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định: Chủ thể kinh doanh tiến hành gửi hồ sơ hợp lệ và nhập vào hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thêm vào đó, với dữ liệu được chuẩn hóa, doanh nghiệp không cần phải đi đăng ký thuế mà được cơ quan thuế cung cấp cùng với mã số doanh nghiệp. Hiện nay, lệ phí đăng ký doanh nghiệp[12] là 200.000 VNĐ cho một doanh nghiệp. Đây là mức lệ phí không cao và các chủ thể kinh doanh dễ dàng chi trả khi thành lập doanh nghiệp.

Đối với thủ tục đăng ký đầu tư, theo Luật Đầu tư năm 2014, thủ tục đã rút ngắn thời gian đáng kể so với giai đoạn trước đây. Trường hợp đầu tư dưới dạng góp vốn thì thủ tục đăng ký tối đa là 15 ngày[13]. Trường hợp dự án phải đăng ký đầu tư thì thời gian có kết quả không quá 15 ngày[14]. Trường hợp dự án đầu tư có chủ trương thì thời gian để xử lý hồ sơ và ra quyết định là khác nhau[15]: (i) Chủ trương của UBND cấp tỉnh: Tổng thời gian có thể kéo dài hơn 01 tháng; (ii) Chủ trương của Chính phủ: Thời gian có thể kéo dài trên 02 tháng; (iii) Chủ trương của Quốc hội: Tổng thời gian có thể kéo dài nhiều tháng.

Tại Singapore, “đăng ký doanh nghiệp được thực hiện thông qua Bizfile và toàn bộ quy trình sẽ được hoàn tất trong vòng một giờ. Phí đăng ký là 300 SGD. Thời gian hoàn thành thủ tục đăng ký doanh nghiệp không đến 01 ngày với thủ tục đăng ký online”[16]. So với Việt Nam, thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại Singapore đơn giản hơn, thời gian xử lý nhanh hơn đã tạo cho chủ thể dễ dàng gia nhập thị trường hơn. Ở Trung Quốc, tổng thời gian xin giấy phép kinh doanh, xin cấp mã doanh nghiệp và mã số thuế thì thủ tục lên tới 11 ngày. Kể từ ngày 01/01/2015, phí đăng ký kinh doanh được hủy bỏ[17]. Thủ tục đăng ký doanh nghiệp của Trung Quốc dài hơn so với Việt Nam. Tuy vậy, quy định bỏ lệ phí đăng ký doanh nghiệp tại Trung Quốc ưu việt hơn so với Việt Nam. Nam Phi đưa ra 04 cách khác nhau để đăng ký doanh nghiệp nhưng cách phổ biến nhất là đăng ký thông qua website của Ủy ban doanh nghiệp và sở hữu trí tuệ. Thời gian xử lý và trả lời khoảng 10 ngày với mức phí là 125 ZAR[18]. So với thủ tục đăng ký doanh nghiệp của Nam Phi, thủ tục đăng ký theo pháp luật Việt Nam ngắn hơn. Điều này tạo điều kiện rất lớn để chủ thể kinh doanh của Việt Nam dễ dàng gia nhập thị trường.

Đánh giá cả quá trình phát triển từ những năm 1990 đến nay và so sánh với các quốc gia khác trên thế giới, pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam đã và đang đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường. Điều này được minh chứng thông qua đánh giá xếp hạng về cơ hội gia nhập thị trường của chủ thể (Starting a Business) ở Việt Nam từ năm 2004 - 2017 so với một số nước trên thế giới:

Dựa vào số liệu DTF - Starting a business[19] từ cơ sở dữ liệu của World Bank từ năm 2004 đến nay, chỉ số DTF - Starting a business của Việt Nam có sự thay đổi ngoạn mục từ 66,10 của năm 2004 lên 81,76 của năm 2017. Tuy vậy, so với Singapore thì chỉ số DTF của Việt Nam còn thấp. Để quyền tự do gia nhập thị trường của các chủ thể trở nên phổ quát, thì Việt Nam cần có một số thay đổi để tháo gỡ những “rào cản” tới quyền này.

2. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền tự do nhập thị trường của chủ thể kinh doanh ở Việt Nam

Thứ nhất, về thủ tục thông báo con dấu

Khoản 2 Điều 34 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định, trước khi sử dụng con dấu phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Theo đó, doanh nghiệp trước khi sử dụng con dấu phải tiến hành một loạt các thủ tục về đăng ký con dấu theo Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu mà sau đó vẫn phải đến phòng đăng ký kinh doanh để làm thủ tục thông báo trước khi sử dụng. Theo chúng tôi, nên bỏ quy định về thông báo sử dụng con dấu trước khi sử dụng; có sự liên kết dữ liệu giữa cơ quan đăng ký kinh doanh với cơ quan đăng ký mẫu con dấu; chủ thể kinh doanh phải đăng ký chữ ký số khi thành lập doanh nghiệp.

Thứ hai, về mối quan hệ giữa chứng nhận đầu tư và thành lập doanh nghiệp

Theo khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư năm 2014: “… trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư…”. Thiết nghĩ, quy định trên là không hợp lý và làm hạn chế quyền gia nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Chúng tôi kiến nghị hủy bỏ quy định trên. Ngoài ra, để Nhà nước quản lý được dòng tiền, dự án đầu tư nhưng không làm hạn chế quyền tự do gia nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài, nên quan tâm: (i) Quy định danh mục dự án không cần đăng ký đầu tư và dự án phải đăng ký đầu tư dựa vào các tiêu chí sau: Chủ thể đầu tư; quy mô đầu tư; tính chất của dự án đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào dự án quy mô nhỏ, thông thường không phải tiến hành thủ tục đăng ký đầu tư trước khi thành lập tổ chức kinh tế; (ii) Khi thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cần bổ sung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp nội dung mục đích kinh doanh để cơ quan quản lý nắm được mục đích của các nhà đầu tư hướng tới khi đầu tư vào Việt Nam với hình thức thành lập tổ chức kinh tế; (iii) Nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam cần phải đăng ký tài khoản ngân hàng tại ngân hàng Việt Nam hoặc các chi nhánh của ngân hàng Việt Nam trên thế giới và nộp tiền vào tài khoản đó theo quy định.

Thứ ba, về thời gian và lệ phí đăng ký doanh nghiệp

So với Singapore, thời gian đăng ký và cấp chứng nhận doanh nghiệp của Việt Nam còn khá dài. Vì vậy, với sự hỗ trợ và phát triển của công nghệ thông tin, chúng tôi kiến nghị trong thời gian tới rút ngắn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận xuống còn 01 ngày làm việc. Thêm vào đó, từng bước Việt Nam giảm lệ phí và tiến tới miễn phí đối với thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Nếu thời gian và lệ phí đăng ký giảm sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp sớm gia nhập thị trường và quyền tự do kinh doanh được bảo đảm.

Thứ tư, rút ngắn thời gian hoàn tất thủ tục đầu tư

Singapore - quốc gia được đánh giá xếp hạng thứ hai và Nhật Bản - quốc gia được đánh giá xếp hạng thứ 34 trong 190 quốc gia về chỉ số “dễ dàng kinh doanh”[20] đều tích hợp thủ tục cấp chứng nhận đầu tư và chứng nhận doanh nghiệp. Vì vậy, để các nhà đầu tư dễ dàng gia nhập thị trường thì Việt Nam nên tích hợp thủ tục trên để rút ngắn thời gian cấp chứng nhận đầu tư. Thiết nghĩ trong Luật Đầu tư không nên quy định số ngày tuyệt đối để hoàn tất thủ tục cấp chứng nhận đầu tư. Nên chăng, thời gian hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư sẽ được công bố hàng năm theo quy định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Điều này sẽ tạo nên sự ổn định của Luật và những quy định mới về thời gian đăng ký đầu tư phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ năm, hài hòa quyền lợi của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng

Nghiên cứu pháp lý về mối quan hệ giữa luật đầu tư quốc tế và luật nhân quyền quốc tế cho đến nay là nghiên cứu về hai lĩnh vực pháp lý mâu thuẫn nhau[21]. Các nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư có khả năng làm cản trở các quốc gia thực hiện nghĩa vụ bảo vệ quyền con ngườ[i22]. Tuy vậy, luật đầu tư quốc tế và luật nhân quyền quốc tế vẫn có thể tồn tại song song và tương đồng[23]. Vì vậy, trên tinh thần tôn trọng quyền tự do gia nhập thị trường của các nhà đầu tư nhưng vẫn phải dung hòa với quyền của cộng đồng, thiết nghĩ Luật Đầu tư cần ghi nhận như sau: (i) Dự án cần phải di dân: Có phương án giải phóng mặt bằng, đền bù và di dân; (ii) Dự án ảnh hưởng tới môi trường: Có đánh giá sơ bộ tác động môi trường và giải pháp bảo vệ môi trường; (iii) Dự án ảnh hưởng tới dân sinh: Có đánh giá sơ bộ tác động tới dân sinh và phương án sử dụng lao động tại địa phương hoặc tạo điều kiện cư dân tiếp cận được công việc mới.

Thứ sáu, cải cách hành chính

Việt Nam cần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin và liên kết dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp cho thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư trở nên dễ dàng và nhanh hơn. Đồng thời, nên thành lập “Trung tâm dịch vụ hành chính” thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đặt ba trung tâm ở ba thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh để các chủ thể kinh doanh dễ dàng liên hệ. Trung tâm này thực hiện chức năng: Tư vấn và hỗ trợ lập hồ sơ thành lập doanh nghiệp hoặc đầu tư; ứng dụng công nghệ thông tin để đăng ký doanh nghiệp và đăng ký đầu tư. Mô hình này đã được thực hiện ở Nhật Bản và hỗ trợ tốt cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Nhật Bản. Bên cạnh đó, Chính phủ cần thành lập một Hội đồng tư vấn về đầu tư gồm các nhà quản lý, các nhà khoa học và nhà đầu tư để đánh giá hoạt động đầu tư hàng năm; ra báo cáo về những yếu tố làm cản trở hoạt động đầu tư và đưa ra các giải pháp để thu hút đầu tư và giải quyết vướng mắc trong thủ tục đầu tư; đề xuất thời gian hợp lý cho thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư cho năm tới.

ThS. Nguyễn Thị Thu Trang

Đại học Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem 8 DE Code § 102 (2016).

[2]. Article 27 Japan Company Act (Act No.86 of July 26, 2005).

[3]. Article 23(IV) Company Law of the People’s Republic of China (Revised in Dec 28, 2013).

[4]. Article 25 Company Law of the People’s Republic of China (Revised in Dec 28, 2013).

[5]. Xem Điều 20 - 23, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều 21 - 23 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 về đăng ký doanh nghiệp.

[6]. Xem Article 911 - 914, Japan Company Act (Act No.86 of July 26, 2005).

[7]. Xem Article 911(3(V)) & 914(V), Japan Company Act (Act No.86 of July 26, 2005).

[8]. Xem Article 92, Company Law of the People’s Republic of China (Revised in Dec 28, 2013).

[9]. Xem khoản 1 Điều 34 và khoản 1 Điều 35 Luật Đầu tư Việt Nam năm 2014.

[10]. Xem Article 129 (1) Commercial Registration Act of Japan (Act No. 125 of 1963, Amendment Act No. 87 of 2005) & Article 933 (1), 939 (2) Company Act of Japan (Act No. 86 of 2005).

[11]. Article 10, Law of the People’s Republic of China on Foreign-funded Enterprises 2005.

[12]. Xem Biểu phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo Thông tư số 215/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 10 tháng 11 năm 2016 về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp.

[13]. Xem điểm b, khoản 3, Điều 26 Luật Đầu tư năm 2014.

[14]. Xem điểm b, khoản 2, Điều 37 Luật Đầu tư năm 2014.

[15]. Xem Điều 33 - 35, Luật Đầu tư năm 2014.

[16]. Xem World Bank (2017), Doing business: Equal opportunity for all 2017 (Economic profile of ) 14th Edition, Washington, p.21.

[17]. World Bank (2017), Doing business: Equal opportunity for all 2017 (Economic profile of China) 14th Edition, Washington, p.23 - 24.

[18]. World Bank (2017), Doing business: Equal opportunity for all 2017 (Economic profile of South Africa) 14th Edition, Washington, p.22 - 23.

[19]. DTF-Starting a Business (Starting a business Distance to Frontier) là khoảng cách của một nền kinh tế đến giới hạn (biên giới) được phản ánh trên thang điểm từ 0 đến 100. Trong đó 0 thể hiện hiệu suất thấp nhất và 100 là giới hạn. Ví dụ, một điểm số 75 trong năm 2016 có nghĩa là một nền kinh tế là 25 điểm xa biên giới được xây dựng từ những điểm tốt nhất trên tất cả các nền kinh tế trong thời điểm đó. Một điểm số 80 trong năm 2017 sẽ cho biết nền kinh tế đang được cải thiện.

[20]. Xem World Bank (2017), Doing business: Equal opportunity for all 2017 (14th Edition), Washington, p.7.

[21]. J. D. Fry (2008), “International Human Rights Law in Investment Arbitration: Evidence of International Law’s Unity”, Duke Journal of Comparative & International Law, (18), pp. 1, 77, 148 and 149.

[22]. B. Simma (2011), “Foreign Investment Arbitration: A Place for Human Rights?”, International and Comparative Law Quarterly, (3), pp. 580.

[23]. Nicolas Klein (2012), “Human Rights and International Investment Law: Investment Protection as Human Right?”, Goettingen Journal of International Law, (4), pp. 215.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: