Thứ năm 08/10/2026 13:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đăng ký phương tiện giao thông đường bộ ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam

Đăng ký phương tiện giao thông đường bộ ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam

1. Đăng ký phương tiện giao thông ở Singapore

Hệ thống quản lý giao thông ở Singapore là một trong những mô hình tiêu biểu trên thế giới với cơ sở hạ tầng hiện đại, quy mô và trình độ quản lý khoa học, tiên tiến. Mặc dù có diện tích tương đối nhỏ với mật độ dân cư cao và số lượng phương tiện giao thông đông đảo nhưng nhờ có chính sách xây dựng, quản lý giao thông hợp lý, khoa học, Chính phủ Singapore đã tìm ra những giải pháp hợp lý cho các vấn đề giao thông đô thị. Một số biện pháp nổi bật như thiết lập hệ thống giao thông thông minh (Intelligence Transport System - ITS), chính sách quản lý phương tiện đi lại cá nhân (ví dụ như, quy định về kiểm soát quyền sở hữu ô tô thông qua hệ thống hạn ngạch, theo đó, người mua ô tô buộc phải trả phí để mua giấy chứng nhận quyền sử dụng không gian trên đường và giá thành giấy chứng nhận được xác định bởi mật độ giao thông tại Singapore vào thời điểm đó) chính sách đăng ký số đăng ký xe thông qua cơ chế đấu giá (bidding exercises).

Theo quy định của Các quy tắc về giao thông đường bộ (xe cơ giới, đăng ký và cấp giấy phép) (Road Traffic (Motor Vehicles, Registration and Licensing) Rules) mọi phương tiện cơ giới ở Singapore đều phải thể hiện số đăng ký xe (Vehicle Registration Numbers) ở giữa biển số phía trước và phía sau phương tiện. Việc thể hiện số đăng ký xe trên biển số xe là điều kiện bắt buộc để các phương tiện được tham gia lưu thông trên đường. Hành vi không gắn số đăng ký hoặc gắn không chính xác có thể bị phạt tiền đến 2.000 SGD hoặc phạt tù đến 06 tháng[1]. Hiện nay, thẩm quyền quản lý số đăng ký xe thuộc về Cơ quan Giao thông đường bộ (Land Transport Authority). Cơ quan này được thành lập vào năm 1995 trên cơ sở sáp nhập bốn cơ quan: Cơ quan đăng ký phương tiện giao thông (the Registry of Vehicle); Tổng công ty vận tải nhanh (Mass Rapid Transit Corporation - MRTC); Bộ phận Đường bộ & Giao thông thuộc Sở Công chính (Roads & Transportation Division of the Public Works Department) và Bộ phận Giao thông đường bộ của Bộ Giao thông vận tải (Land Transportation pision of the Ministry of Communications) với sứ mệnh thúc đẩy mạng lưới giao thông công cộng của Singapore và hỗ trợ các dịch vụ giao thông khác, trong đó có quản lý đăng ký số xe.

Số đăng ký xe có thể được cấp tự động hoặc theo yêu cầu của chủ sở hữu xe và số đăng ký xe này có thể được chuyển từ xe này sang xe khác trong trường hợp chủ xe mua xe mới. Nếu có nhu cầu, chủ xe có thể chọn số đăng ký xe thông qua thủ tục đấu giá tùy theo loại phương tiện giao thông. Mỗi lần đăng ký đấu giá cho phép lựa chọn tối đa 03 tổ hợp số cho mỗi chuỗi ký tự đứng trước[2]. Nếu đấu giá thành công, chỉ 01 số đăng ký được cấp căn cứ theo thứ tự ưu tiên mà chủ xe đã đăng ký trong hồ sơ.

Quy trình đấu giá số đăng ký xe gồm các bước cơ bản sau[3]:

Bước 1: Kiểm tra tính khả dụng của dãy số đăng ký

Người nộp hồ sơ có thể kiểm tra xem dãy số mình muốn có còn khả dụng hay không bằng cách truy cập vào trang website của Cơ quan Giao thông đường bộ và tra cứu theo loại phương tiện của mình tại onemotoring.lta.gov.sg.

Bước 2: Nộp hồ sơ

Sau khi chọn được dãy số mong muốn, người đăng ký nộp hồ sơ đấu giá số đăng ký xe với số tiền tối thiểu là 1.000 SGD. Thời gian nộp cho thủ tục đấu giá chính là từ 1 giờ sáng ngày thứ 6 đến 4 giờ 30 ngày thứ tư tuần sau (trừ khoảng thời gian từ 12 giờ đêm tới 1 giờ sáng mỗi ngày).

Bước 3: Kiểm tra kết quả

Cơ quan Giao thông đường bộ sẽ thông báo kết quả đấu giá đến người đăng ký thông qua địa chỉ email mà họ đã cung cấp vào ngày thứ tư tuần sau khi thủ tục kết thúc.

Bước 4: Sử dụng số đăng ký xe

Số đăng ký xe được cấp có giá trị trong vòng 01 năm và không thể chuyển nhượng cho người khác. Việc gia hạn sử dụng số đăng ký xe có thể thực hiện với phí gia hạn là 1.000 SGD và 32.10 SGD cho 06 tháng gia hạn. Trong trường hợp đấu giá không thành công, phí đấu giá sẽ được hoàn trả lại cho người đăng ký.

2. Đăng ký phương tiện giao thông ở Vương quốc Anh

Cũng giống như Singapore, ở Anh các phương tiện cơ giới sử dụng trên đường công cộng bắt buộc phải có biển đăng ký xe[4], ngoại trừ xe của hoàng gia được sử dụng trong công việc chính thức. Hiện nay, thẩm quyền quản lý và cấp số đăng ký xe thuộc về Cơ quan cấp giấy phép lái xe và phương tiện (Driver and Vehicle Licensing Agency - DVLA). DVLA là cơ quan điều hành của Bộ Giao thông Vận tải (Department for Transport - DfT). Với trụ sở đặt tại Swansea (Wales), ban đầu cơ quan này được gọi là Trung tâm Cấp phép Lái xe và Phương tiện (Driver and Vehicle Licensing Centre - DVLC). DVLA chịu trách nhiệm duy trì cơ sở dữ liệu về người lái xe ở Anh và cơ sở dữ liệu về phương tiện giao thông của toàn Vương quốc Anh. Đối với các tài xế ở Bắc Ireland thẩm quyền quản lý dữ liệu là Cơ quan Tài xế và Phương tiện (Driver and Vehicle Agency - DVA). DVLA có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe, tổ chức thu thuế sử dụng phương tiện (còn gọi là thuế đường bộ và giấy phép quỹ đường bộ) và đăng ký cá nhân.

Việc đăng ký phương tiện giao thông áp dụng cho xe mới, xe được bán lại và cả xe đã qua sửa chữa. Tùy theo loại phương tiện mà thủ tục đăng ký sẽ khác nhau.

Đối với thủ tục đăng ký mới, người đăng ký cần nộp hồ sơ gồm mẫu phiếu đăng ký thông tin (V55/4 nếu là xe mới hoặc V55/5 nếu là xe cũ); bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân (một trong các loại giấy tờ như hộ chiếu, bằng lái xe, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh); bản sao giấy tờ chứng minh địa chỉ liên lạc (có thể là hóa đơn gas, điện trong vòng 03 tháng gần nhất, thẻ y tế…) cùng một số giấy tờ hỗ trợ như giấy chứng nhận xe mới (nếu là xe mới mua hoặc nhập khẩu), bảo hiểm, giấy xác nhận thanh toán phí đăng ký (nếu đăng ký lần đầu là 55 GBP) cũng như thuế phương tiện giao thông[5].

Một số loại phương tiện giao thông được miễn phí đăng ký bao gồm: Những trường hợp đã đăng ký và được cấp phép lần đầu trong nhóm người khuyết tật được miễn thuế, phương tiện lịch sử trước đây đã đăng ký với chính quyền địa phương cũ, phương tiện đã đăng ký trước đó ở Vương quốc Anh, phương tiện nhập khẩu đã đăng ký trước đây theo phương thức xuất khẩu cá nhân và phương tiện vận tải mới, phương tiện đăng ký theo phương thức xuất khẩu trực tiếp, phương tiện được đăng ký chỉ để sử dụng trên đường địa hình…

Sau khi nộp hồ sơ đăng ký, DVLA có thể cần phải kiểm tra xe. Nếu đơn đăng ký được chấp thuận, DVLA sẽ gửi cho bạn giấy chứng nhận đăng ký V5C (đôi khi được gọi là sổ nhật ký), trong đó hiển thị số đăng ký của xe, tên và địa chỉ của người giữ phương tiện, thông tin khác về chiếc xe (nhà sản xuất, số nhận dạng xe (VIN) và số người giữ xe trước đó). Ngoài ra, DVLA cũng sẽ gửi trả lại cho người đăng ký các giấy tờ tuỳ thân đã nộp.

3. Đăng ký phương tiện giao thông ở Liên minh châu Âu

Theo nguyên tắc chung, ở Liên minh châu Âu, người sử dụng phương tiện phải đăng ký xe ô tô của mình tại quốc gia nơi người đó cư trú bình thường để có thể tham gia giao thông. Hiện nay, không có luật chung của EU về đăng ký xe. Điều này có nghĩa là tùy theo quốc gia nơi mà hồ sơ đăng ký xe được nộp mà quy trình và thủ tục có thể khác nhau.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trong Liên minh châu Âu đã áp dụng định dạng biển số đáp ứng các yêu cầu trong Công ước Vienna về Giao thông đường bộ, trong đó quy định các phương tiện qua biên giới phải hiển thị mã phân biệt cho quốc gia đăng ký ở phía sau xe. Biển báo này có thể là một miếng dán hình bầu dục được đặt riêng biệt với biển đăng ký hoặc có thể được ghép vào biển đăng ký xe. Khi dấu hiệu phân biệt được gắn vào biển số đăng ký, dấu hiệu đó cũng phải xuất hiện trên biển số đăng ký phía trước của phương tiện và có thể được bổ sung bằng cờ hoặc quốc huy của quốc gia.

Trong lãnh thổ Liên minh châu Âu, nếu phương tiện giao thông di chuyển đến một quốc gia EU khác với quốc gia đã đăng ký xe, các quy tắc cụ thể sẽ áp dụng cho việc đăng ký tùy thuộc vào việc chủ xe muốn chuyển đến đó tạm thời hay vĩnh viễn, vào thời gian lưu trú và quốc gia mà người đó sắp chuyển đến[6].

Trong trường hợp chủ xe di chuyển lâu dài đến một quốc gia châu Âu khác và mang theo phương tiện giao thông của mình, thủ tục đăng ký và đóng thuế liên quan đến phương tiện đó cần được thực hiện theo quy định tại quốc gia mới. Cho đến thời điểm hiện tại không có quy định chung của EU về đăng ký xe và các loại thuế liên quan. Một số quốc gia có quy định miễn thuế cho đăng ký xe khi di chuyển bằng xe từ nước này sang nước khác vĩnh viễn.

Nếu chủ xe chỉ tạm thời chuyển đến một quốc gia châu Âu khác mà không thay đổi nơi cư trú bình thường của mình, người đó không phải đăng ký phương tiện giao thông hoặc trả bất kỳ khoản thuế đăng ký nào ở quốc gia di chuyển đến. Chủ xe có thể giữ xe đã được đăng ký tại quốc gia cư trú bình thường của họ. Nơi cư trú bình thường được hiểu là nơi người đó thường sống, làm việc hoặc có gia đình (với thời gian nhiều hơn 185 ngày trong một năm). Nếu người đó không làm việc, nơi ở thông thường được coi là nơi họ có những ràng buộc cá nhân, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa họ và nơi họ đang sống. Nếu một người làm việc ở một nơi nhưng mối quan hệ cá nhân của họ ở một quốc gia EU khác, người đó thường được coi là có nơi cư trú bình thường tại quốc gia EU có quan hệ cá nhân, với điều kiện họ phải trở lại đó thường xuyên.

Các quốc gia trong Liên minh châu Âu cũng áp dụng một số quy định riêng về thủ tục đăng ký xe đối với những đối tượng đặc biệt như sinh viên hay những người làm việc xuyên biên giới (cư trú và làm việc ở hai quốc gia khác nhau trong EU).

Đối với sinh viên đang cư trú tại một quốc gia thuộc Liên minh châu Âu và chuyển đến một quốc gia EU khác với mục đích duy nhất là theo đuổi việc học của mình, người đó có thể lái xe ô tô đã đăng ký tại quốc gia của mình mà không cần phải đăng ký hoặc đóng thuế ở quốc gia mới. Để được áp dụng quy định này, sinh viên phải đăng ký vào một cơ sở giáo dục ở quốc gia chuyển đến và có thể cung cấp chứng chỉ ghi danh hợp lệ. Tuy nhiên, nếu người đó bắt đầu làm việc trong quá trình học của mình, thủ tục đăng ký xe ô tô tại quốc gia đó là bắt buộc.

Đối với những người làm việc xuyên biên giới (cross-border worker), làm việc ở một quốc gia và sống ở một quốc gia khác, họ có thể đăng ký phương tiện giao thông của mình ở một trong hai quốc gia - nơi họ sống hoặc nơi họ làm việc.

Nếu người đó lái một chiếc ô tô của công ty được đăng ký tại quốc gia nơi họ làm việc, họ cũng có thể sử dụng nó tại quốc gia nơi sinh sống mà không cần phải đăng ký. Ngược lại, nếu một người sử dụng ô tô riêng để đi làm thường xuyên từ quốc gia nơi người đó sinh sống đến quốc gia nơi làm việc, họ phải đăng ký và nộp các loại thuế liên quan tại quốc gia nơi sinh sống - nhưng không phải tại quốc gia nơi họ làm việc[7].

Nhằm tạo thuận lợi cho người đăng ký cũng như xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất giữa các quốc gia thành viên EU, hiện nay, EU đã bước đầu đưa vào sử dụng Cơ quan đăng ký xe châu Âu (European Vehicle Register - EVR)[8]. Đây là một công cụ dựa trên website được sử dụng bởi chủ xe để gửi đơn đăng ký xe và bởi các Cơ quan đăng ký (Registration Entities - RE) để quản lý việc cấp số xe, ghi lại đăng ký xe và cập nhật của chúng. Cụ thể, EVR cho phép người giữ phương tiện và các bên liên quan khác yêu cầu tài khoản EVR cho đơn vị đăng ký; người giữ phương tiện nộp đơn đăng ký phương tiện và các bản cập nhật của họ đối với cơ quan đăng ký của quốc gia thành viên có liên quan (MS); cơ quan đăng ký để quản lý tài khoản người dùng; đơn vị đăng ký cấp số xe vào hồ sơ xe do người đăng ký nộp; cơ quan đăng ký phê duyệt hoặc từ chối các đơn đăng ký xe; người chủ xe và các bên liên quan khác để tham khảo dữ liệu xe của họ[9].

4. Một số gợi mở cho Việt Nam

Thông qua việc phân tích quy định về thủ tục đăng ký phương tiện giao thông đường bộ ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ cho thấy, một điểm chung nổi bật là việc đăng ký phương tiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được các quốc gia ghi nhận là điều kiện tiên quyết để phương tiện đó có thể tham gia lưu thông. Việc đăng ký này không chỉ có ý nghĩa về mặt quản lý nhà nước, giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lý được lượng phương tiện tham gia lưu thông trên đường mà ở một mức độ nào đó còn góp phần bảo đảm chất lượng của các phương tiện này và nhờ vậy, nâng cao độ an toàn giao thông của quốc gia đó.

Từ việc phân tích quy định của các quốc gia, tác giả đề xuất một số gợi mở có thể áp dụng tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý, đăng ký phương tiện giao thông đường bộ như sau:

Thứ nhất, về cách thức cấp số xe cho phương tiện. Đối với cách thức cấp số xe cho phương tiện giao thông, chúng ta có thể học hỏi quy định của Singapore về vấn đề này. Như đã phân tích ở trên, hiện nay, Singapore áp dụng cả hai cách là cấp số xe tự động và đấu giá. Trong trường hợp chủ xe không có nhu cầu lựa chọn số xe, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lựa chọn ngẫu nhiên số đăng ký cho phương tiện giao thông. Đối với phương tiện mới hoặc khi muốn thay đổi số xe đã đăng ký, chủ xe có thể nộp hồ sơ đấu giá với dãy số mình muốn (miễn là dãy số này chưa được đăng ký trước đó) cùng với khoản tiền đấu giá để xin cấp số đăng ký xe. Cách thức này của Singapore một mặt vừa bảo đảm sự quản lý của nhà nước đối với các phương tiện tham gia lưu thông, mặt khác, tạo sự chủ động cho người dân khi có thể lựa chọn số đăng ký mà mình muốn. Ngoài ra, khoản tiền đấu giá số đăng ký xe cũng là một nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia.

Thứ hai, về các trường hợp được miễn phí đăng ký xe. Học hỏi kinh nghiệm từ pháp luật của Vương quốc Anh, chúng ta có thể bổ sung thêm các trường hợp được miễn phí đăng ký như phương tiện nhập khẩu đã đăng ký trước đây theo phương thức xuất khẩu cá nhân và phương tiện vận tải mới, phương tiện đăng ký theo phương thức xuất khẩu trực tiếp… Việc miễn phí đăng ký với các trường hợp này là hợp lý, giảm bớt các quy định phức tạp nhằm gơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng hiệu suất làm việc cho các cơ quan nhà nước có liên quan.

Thứ ba, về các quy định liên quan đến việc đăng ký phương tiện khi di chuyển giữa các quốc gia trong khối ASEAN. Về nguyên tắc, việc di chuyển giữa các quốc gia được thực hiện theo quy định của các thỏa thuận pháp lý quốc tế ký kết giữa các quốc gia. Đối với việc đăng ký phương tiện khi di chuyển giữa các nước trong khối ASEAN, chúng ta có thể học hỏi và vận dụng các quy định của Liên minh châu Âu. Chẳng hạn như, quy định về thủ tục đăng ký đối với phương tiện trong trường hợp di chuyển ngắn ngày hay ở lại lâu dài; quy định áp dụng đối với sinh viên hay những người làm việc xuyên biên giới… Những quy định này của EU là kinh nghiệm hữu ích để hoàn thiện khung pháp lý, hướng đến mục tiêu tự do đi lại giữa các quốc gia trong khối ASEAN./.

ThS. Nguyễn Mai Anh

Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: internet

[1] https://onemotoring.lta.gov.sg/content/onemotoring/home/buying/upfront-vehicle-costs/vehicle-registration-number--vrn-.html#Understanding, truy cập ngày 03/3/2023.

[2] Biển số xe ở Singapore có dạng Sxx####y, bao gồm phần ký tự đứng trước (prefix) bắt đầu với “S” - Singapore; “x”- 1 ký tự alphabet chạy từ A đến Y trừ 1 số trường hợp đặc biệt như “SH”dùng cho xe taxi, “SZ”dùng cho xe thuê cũ…; “####” - dãy số đăng ký xe; “y”- ký tự đứng sau (suffix).

[3] https://onemotoring.lta.gov.sg/content/onemotoring/home/buying/upfront-vehicle-costs/vehicle-registration-number--vrn-.html#Understanding, truy cập ngày 01/3/2023.

[4] Section 2 of the Motor Car Act 1903.

[5] https://www.gov.uk/vehicle-registration/new-registrations truy cập ngày 04/5/2022.

[6] https://europa.eu/youreurope/citizens/vehicles/registration/registration-abroad/index_en.htm, truy cập ngày 04/3/2023.

[7] https://europa.eu/youreurope/citizens/vehicles/registration/registration-abroad/index_en.htm, truy cập ngày 04/03/2023.

[8] Truy cập tại https://evr.era.europa.eu. Hiện đã có 03 quốc gia kết nối với EVR là: Ba Lan, Bồ Đào Nha và Romania.

[9] https://www.era.europa.eu/registers/evr_en, truy cập ngày 04/03/2023.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: