Thứ ba 26/05/2026 05:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đăng ký phương tiện giao thông đường bộ ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam

Đăng ký phương tiện giao thông đường bộ ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam

1. Đăng ký phương tiện giao thông ở Singapore

Hệ thống quản lý giao thông ở Singapore là một trong những mô hình tiêu biểu trên thế giới với cơ sở hạ tầng hiện đại, quy mô và trình độ quản lý khoa học, tiên tiến. Mặc dù có diện tích tương đối nhỏ với mật độ dân cư cao và số lượng phương tiện giao thông đông đảo nhưng nhờ có chính sách xây dựng, quản lý giao thông hợp lý, khoa học, Chính phủ Singapore đã tìm ra những giải pháp hợp lý cho các vấn đề giao thông đô thị. Một số biện pháp nổi bật như thiết lập hệ thống giao thông thông minh (Intelligence Transport System - ITS), chính sách quản lý phương tiện đi lại cá nhân (ví dụ như, quy định về kiểm soát quyền sở hữu ô tô thông qua hệ thống hạn ngạch, theo đó, người mua ô tô buộc phải trả phí để mua giấy chứng nhận quyền sử dụng không gian trên đường và giá thành giấy chứng nhận được xác định bởi mật độ giao thông tại Singapore vào thời điểm đó) chính sách đăng ký số đăng ký xe thông qua cơ chế đấu giá (bidding exercises).

Theo quy định của Các quy tắc về giao thông đường bộ (xe cơ giới, đăng ký và cấp giấy phép) (Road Traffic (Motor Vehicles, Registration and Licensing) Rules) mọi phương tiện cơ giới ở Singapore đều phải thể hiện số đăng ký xe (Vehicle Registration Numbers) ở giữa biển số phía trước và phía sau phương tiện. Việc thể hiện số đăng ký xe trên biển số xe là điều kiện bắt buộc để các phương tiện được tham gia lưu thông trên đường. Hành vi không gắn số đăng ký hoặc gắn không chính xác có thể bị phạt tiền đến 2.000 SGD hoặc phạt tù đến 06 tháng[1]. Hiện nay, thẩm quyền quản lý số đăng ký xe thuộc về Cơ quan Giao thông đường bộ (Land Transport Authority). Cơ quan này được thành lập vào năm 1995 trên cơ sở sáp nhập bốn cơ quan: Cơ quan đăng ký phương tiện giao thông (the Registry of Vehicle); Tổng công ty vận tải nhanh (Mass Rapid Transit Corporation - MRTC); Bộ phận Đường bộ & Giao thông thuộc Sở Công chính (Roads & Transportation Division of the Public Works Department) và Bộ phận Giao thông đường bộ của Bộ Giao thông vận tải (Land Transportation pision of the Ministry of Communications) với sứ mệnh thúc đẩy mạng lưới giao thông công cộng của Singapore và hỗ trợ các dịch vụ giao thông khác, trong đó có quản lý đăng ký số xe.

Số đăng ký xe có thể được cấp tự động hoặc theo yêu cầu của chủ sở hữu xe và số đăng ký xe này có thể được chuyển từ xe này sang xe khác trong trường hợp chủ xe mua xe mới. Nếu có nhu cầu, chủ xe có thể chọn số đăng ký xe thông qua thủ tục đấu giá tùy theo loại phương tiện giao thông. Mỗi lần đăng ký đấu giá cho phép lựa chọn tối đa 03 tổ hợp số cho mỗi chuỗi ký tự đứng trước[2]. Nếu đấu giá thành công, chỉ 01 số đăng ký được cấp căn cứ theo thứ tự ưu tiên mà chủ xe đã đăng ký trong hồ sơ.

Quy trình đấu giá số đăng ký xe gồm các bước cơ bản sau[3]:

Bước 1: Kiểm tra tính khả dụng của dãy số đăng ký

Người nộp hồ sơ có thể kiểm tra xem dãy số mình muốn có còn khả dụng hay không bằng cách truy cập vào trang website của Cơ quan Giao thông đường bộ và tra cứu theo loại phương tiện của mình tại onemotoring.lta.gov.sg.

Bước 2: Nộp hồ sơ

Sau khi chọn được dãy số mong muốn, người đăng ký nộp hồ sơ đấu giá số đăng ký xe với số tiền tối thiểu là 1.000 SGD. Thời gian nộp cho thủ tục đấu giá chính là từ 1 giờ sáng ngày thứ 6 đến 4 giờ 30 ngày thứ tư tuần sau (trừ khoảng thời gian từ 12 giờ đêm tới 1 giờ sáng mỗi ngày).

Bước 3: Kiểm tra kết quả

Cơ quan Giao thông đường bộ sẽ thông báo kết quả đấu giá đến người đăng ký thông qua địa chỉ email mà họ đã cung cấp vào ngày thứ tư tuần sau khi thủ tục kết thúc.

Bước 4: Sử dụng số đăng ký xe

Số đăng ký xe được cấp có giá trị trong vòng 01 năm và không thể chuyển nhượng cho người khác. Việc gia hạn sử dụng số đăng ký xe có thể thực hiện với phí gia hạn là 1.000 SGD và 32.10 SGD cho 06 tháng gia hạn. Trong trường hợp đấu giá không thành công, phí đấu giá sẽ được hoàn trả lại cho người đăng ký.

2. Đăng ký phương tiện giao thông ở Vương quốc Anh

Cũng giống như Singapore, ở Anh các phương tiện cơ giới sử dụng trên đường công cộng bắt buộc phải có biển đăng ký xe[4], ngoại trừ xe của hoàng gia được sử dụng trong công việc chính thức. Hiện nay, thẩm quyền quản lý và cấp số đăng ký xe thuộc về Cơ quan cấp giấy phép lái xe và phương tiện (Driver and Vehicle Licensing Agency - DVLA). DVLA là cơ quan điều hành của Bộ Giao thông Vận tải (Department for Transport - DfT). Với trụ sở đặt tại Swansea (Wales), ban đầu cơ quan này được gọi là Trung tâm Cấp phép Lái xe và Phương tiện (Driver and Vehicle Licensing Centre - DVLC). DVLA chịu trách nhiệm duy trì cơ sở dữ liệu về người lái xe ở Anh và cơ sở dữ liệu về phương tiện giao thông của toàn Vương quốc Anh. Đối với các tài xế ở Bắc Ireland thẩm quyền quản lý dữ liệu là Cơ quan Tài xế và Phương tiện (Driver and Vehicle Agency - DVA). DVLA có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe, tổ chức thu thuế sử dụng phương tiện (còn gọi là thuế đường bộ và giấy phép quỹ đường bộ) và đăng ký cá nhân.

Việc đăng ký phương tiện giao thông áp dụng cho xe mới, xe được bán lại và cả xe đã qua sửa chữa. Tùy theo loại phương tiện mà thủ tục đăng ký sẽ khác nhau.

Đối với thủ tục đăng ký mới, người đăng ký cần nộp hồ sơ gồm mẫu phiếu đăng ký thông tin (V55/4 nếu là xe mới hoặc V55/5 nếu là xe cũ); bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân (một trong các loại giấy tờ như hộ chiếu, bằng lái xe, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh); bản sao giấy tờ chứng minh địa chỉ liên lạc (có thể là hóa đơn gas, điện trong vòng 03 tháng gần nhất, thẻ y tế…) cùng một số giấy tờ hỗ trợ như giấy chứng nhận xe mới (nếu là xe mới mua hoặc nhập khẩu), bảo hiểm, giấy xác nhận thanh toán phí đăng ký (nếu đăng ký lần đầu là 55 GBP) cũng như thuế phương tiện giao thông[5].

Một số loại phương tiện giao thông được miễn phí đăng ký bao gồm: Những trường hợp đã đăng ký và được cấp phép lần đầu trong nhóm người khuyết tật được miễn thuế, phương tiện lịch sử trước đây đã đăng ký với chính quyền địa phương cũ, phương tiện đã đăng ký trước đó ở Vương quốc Anh, phương tiện nhập khẩu đã đăng ký trước đây theo phương thức xuất khẩu cá nhân và phương tiện vận tải mới, phương tiện đăng ký theo phương thức xuất khẩu trực tiếp, phương tiện được đăng ký chỉ để sử dụng trên đường địa hình…

Sau khi nộp hồ sơ đăng ký, DVLA có thể cần phải kiểm tra xe. Nếu đơn đăng ký được chấp thuận, DVLA sẽ gửi cho bạn giấy chứng nhận đăng ký V5C (đôi khi được gọi là sổ nhật ký), trong đó hiển thị số đăng ký của xe, tên và địa chỉ của người giữ phương tiện, thông tin khác về chiếc xe (nhà sản xuất, số nhận dạng xe (VIN) và số người giữ xe trước đó). Ngoài ra, DVLA cũng sẽ gửi trả lại cho người đăng ký các giấy tờ tuỳ thân đã nộp.

3. Đăng ký phương tiện giao thông ở Liên minh châu Âu

Theo nguyên tắc chung, ở Liên minh châu Âu, người sử dụng phương tiện phải đăng ký xe ô tô của mình tại quốc gia nơi người đó cư trú bình thường để có thể tham gia giao thông. Hiện nay, không có luật chung của EU về đăng ký xe. Điều này có nghĩa là tùy theo quốc gia nơi mà hồ sơ đăng ký xe được nộp mà quy trình và thủ tục có thể khác nhau.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trong Liên minh châu Âu đã áp dụng định dạng biển số đáp ứng các yêu cầu trong Công ước Vienna về Giao thông đường bộ, trong đó quy định các phương tiện qua biên giới phải hiển thị mã phân biệt cho quốc gia đăng ký ở phía sau xe. Biển báo này có thể là một miếng dán hình bầu dục được đặt riêng biệt với biển đăng ký hoặc có thể được ghép vào biển đăng ký xe. Khi dấu hiệu phân biệt được gắn vào biển số đăng ký, dấu hiệu đó cũng phải xuất hiện trên biển số đăng ký phía trước của phương tiện và có thể được bổ sung bằng cờ hoặc quốc huy của quốc gia.

Trong lãnh thổ Liên minh châu Âu, nếu phương tiện giao thông di chuyển đến một quốc gia EU khác với quốc gia đã đăng ký xe, các quy tắc cụ thể sẽ áp dụng cho việc đăng ký tùy thuộc vào việc chủ xe muốn chuyển đến đó tạm thời hay vĩnh viễn, vào thời gian lưu trú và quốc gia mà người đó sắp chuyển đến[6].

Trong trường hợp chủ xe di chuyển lâu dài đến một quốc gia châu Âu khác và mang theo phương tiện giao thông của mình, thủ tục đăng ký và đóng thuế liên quan đến phương tiện đó cần được thực hiện theo quy định tại quốc gia mới. Cho đến thời điểm hiện tại không có quy định chung của EU về đăng ký xe và các loại thuế liên quan. Một số quốc gia có quy định miễn thuế cho đăng ký xe khi di chuyển bằng xe từ nước này sang nước khác vĩnh viễn.

Nếu chủ xe chỉ tạm thời chuyển đến một quốc gia châu Âu khác mà không thay đổi nơi cư trú bình thường của mình, người đó không phải đăng ký phương tiện giao thông hoặc trả bất kỳ khoản thuế đăng ký nào ở quốc gia di chuyển đến. Chủ xe có thể giữ xe đã được đăng ký tại quốc gia cư trú bình thường của họ. Nơi cư trú bình thường được hiểu là nơi người đó thường sống, làm việc hoặc có gia đình (với thời gian nhiều hơn 185 ngày trong một năm). Nếu người đó không làm việc, nơi ở thông thường được coi là nơi họ có những ràng buộc cá nhân, thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa họ và nơi họ đang sống. Nếu một người làm việc ở một nơi nhưng mối quan hệ cá nhân của họ ở một quốc gia EU khác, người đó thường được coi là có nơi cư trú bình thường tại quốc gia EU có quan hệ cá nhân, với điều kiện họ phải trở lại đó thường xuyên.

Các quốc gia trong Liên minh châu Âu cũng áp dụng một số quy định riêng về thủ tục đăng ký xe đối với những đối tượng đặc biệt như sinh viên hay những người làm việc xuyên biên giới (cư trú và làm việc ở hai quốc gia khác nhau trong EU).

Đối với sinh viên đang cư trú tại một quốc gia thuộc Liên minh châu Âu và chuyển đến một quốc gia EU khác với mục đích duy nhất là theo đuổi việc học của mình, người đó có thể lái xe ô tô đã đăng ký tại quốc gia của mình mà không cần phải đăng ký hoặc đóng thuế ở quốc gia mới. Để được áp dụng quy định này, sinh viên phải đăng ký vào một cơ sở giáo dục ở quốc gia chuyển đến và có thể cung cấp chứng chỉ ghi danh hợp lệ. Tuy nhiên, nếu người đó bắt đầu làm việc trong quá trình học của mình, thủ tục đăng ký xe ô tô tại quốc gia đó là bắt buộc.

Đối với những người làm việc xuyên biên giới (cross-border worker), làm việc ở một quốc gia và sống ở một quốc gia khác, họ có thể đăng ký phương tiện giao thông của mình ở một trong hai quốc gia - nơi họ sống hoặc nơi họ làm việc.

Nếu người đó lái một chiếc ô tô của công ty được đăng ký tại quốc gia nơi họ làm việc, họ cũng có thể sử dụng nó tại quốc gia nơi sinh sống mà không cần phải đăng ký. Ngược lại, nếu một người sử dụng ô tô riêng để đi làm thường xuyên từ quốc gia nơi người đó sinh sống đến quốc gia nơi làm việc, họ phải đăng ký và nộp các loại thuế liên quan tại quốc gia nơi sinh sống - nhưng không phải tại quốc gia nơi họ làm việc[7].

Nhằm tạo thuận lợi cho người đăng ký cũng như xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất giữa các quốc gia thành viên EU, hiện nay, EU đã bước đầu đưa vào sử dụng Cơ quan đăng ký xe châu Âu (European Vehicle Register - EVR)[8]. Đây là một công cụ dựa trên website được sử dụng bởi chủ xe để gửi đơn đăng ký xe và bởi các Cơ quan đăng ký (Registration Entities - RE) để quản lý việc cấp số xe, ghi lại đăng ký xe và cập nhật của chúng. Cụ thể, EVR cho phép người giữ phương tiện và các bên liên quan khác yêu cầu tài khoản EVR cho đơn vị đăng ký; người giữ phương tiện nộp đơn đăng ký phương tiện và các bản cập nhật của họ đối với cơ quan đăng ký của quốc gia thành viên có liên quan (MS); cơ quan đăng ký để quản lý tài khoản người dùng; đơn vị đăng ký cấp số xe vào hồ sơ xe do người đăng ký nộp; cơ quan đăng ký phê duyệt hoặc từ chối các đơn đăng ký xe; người chủ xe và các bên liên quan khác để tham khảo dữ liệu xe của họ[9].

4. Một số gợi mở cho Việt Nam

Thông qua việc phân tích quy định về thủ tục đăng ký phương tiện giao thông đường bộ ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ cho thấy, một điểm chung nổi bật là việc đăng ký phương tiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được các quốc gia ghi nhận là điều kiện tiên quyết để phương tiện đó có thể tham gia lưu thông. Việc đăng ký này không chỉ có ý nghĩa về mặt quản lý nhà nước, giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lý được lượng phương tiện tham gia lưu thông trên đường mà ở một mức độ nào đó còn góp phần bảo đảm chất lượng của các phương tiện này và nhờ vậy, nâng cao độ an toàn giao thông của quốc gia đó.

Từ việc phân tích quy định của các quốc gia, tác giả đề xuất một số gợi mở có thể áp dụng tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý, đăng ký phương tiện giao thông đường bộ như sau:

Thứ nhất, về cách thức cấp số xe cho phương tiện. Đối với cách thức cấp số xe cho phương tiện giao thông, chúng ta có thể học hỏi quy định của Singapore về vấn đề này. Như đã phân tích ở trên, hiện nay, Singapore áp dụng cả hai cách là cấp số xe tự động và đấu giá. Trong trường hợp chủ xe không có nhu cầu lựa chọn số xe, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lựa chọn ngẫu nhiên số đăng ký cho phương tiện giao thông. Đối với phương tiện mới hoặc khi muốn thay đổi số xe đã đăng ký, chủ xe có thể nộp hồ sơ đấu giá với dãy số mình muốn (miễn là dãy số này chưa được đăng ký trước đó) cùng với khoản tiền đấu giá để xin cấp số đăng ký xe. Cách thức này của Singapore một mặt vừa bảo đảm sự quản lý của nhà nước đối với các phương tiện tham gia lưu thông, mặt khác, tạo sự chủ động cho người dân khi có thể lựa chọn số đăng ký mà mình muốn. Ngoài ra, khoản tiền đấu giá số đăng ký xe cũng là một nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia.

Thứ hai, về các trường hợp được miễn phí đăng ký xe. Học hỏi kinh nghiệm từ pháp luật của Vương quốc Anh, chúng ta có thể bổ sung thêm các trường hợp được miễn phí đăng ký như phương tiện nhập khẩu đã đăng ký trước đây theo phương thức xuất khẩu cá nhân và phương tiện vận tải mới, phương tiện đăng ký theo phương thức xuất khẩu trực tiếp… Việc miễn phí đăng ký với các trường hợp này là hợp lý, giảm bớt các quy định phức tạp nhằm gơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng hiệu suất làm việc cho các cơ quan nhà nước có liên quan.

Thứ ba, về các quy định liên quan đến việc đăng ký phương tiện khi di chuyển giữa các quốc gia trong khối ASEAN. Về nguyên tắc, việc di chuyển giữa các quốc gia được thực hiện theo quy định của các thỏa thuận pháp lý quốc tế ký kết giữa các quốc gia. Đối với việc đăng ký phương tiện khi di chuyển giữa các nước trong khối ASEAN, chúng ta có thể học hỏi và vận dụng các quy định của Liên minh châu Âu. Chẳng hạn như, quy định về thủ tục đăng ký đối với phương tiện trong trường hợp di chuyển ngắn ngày hay ở lại lâu dài; quy định áp dụng đối với sinh viên hay những người làm việc xuyên biên giới… Những quy định này của EU là kinh nghiệm hữu ích để hoàn thiện khung pháp lý, hướng đến mục tiêu tự do đi lại giữa các quốc gia trong khối ASEAN./.

ThS. Nguyễn Mai Anh

Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: internet

[1] https://onemotoring.lta.gov.sg/content/onemotoring/home/buying/upfront-vehicle-costs/vehicle-registration-number--vrn-.html#Understanding, truy cập ngày 03/3/2023.

[2] Biển số xe ở Singapore có dạng Sxx####y, bao gồm phần ký tự đứng trước (prefix) bắt đầu với “S” - Singapore; “x”- 1 ký tự alphabet chạy từ A đến Y trừ 1 số trường hợp đặc biệt như “SH”dùng cho xe taxi, “SZ”dùng cho xe thuê cũ…; “####” - dãy số đăng ký xe; “y”- ký tự đứng sau (suffix).

[3] https://onemotoring.lta.gov.sg/content/onemotoring/home/buying/upfront-vehicle-costs/vehicle-registration-number--vrn-.html#Understanding, truy cập ngày 01/3/2023.

[4] Section 2 of the Motor Car Act 1903.

[5] https://www.gov.uk/vehicle-registration/new-registrations truy cập ngày 04/5/2022.

[6] https://europa.eu/youreurope/citizens/vehicles/registration/registration-abroad/index_en.htm, truy cập ngày 04/3/2023.

[7] https://europa.eu/youreurope/citizens/vehicles/registration/registration-abroad/index_en.htm, truy cập ngày 04/03/2023.

[8] Truy cập tại https://evr.era.europa.eu. Hiện đã có 03 quốc gia kết nối với EVR là: Ba Lan, Bồ Đào Nha và Romania.

[9] https://www.era.europa.eu/registers/evr_en, truy cập ngày 04/03/2023.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: