Thứ tư 15/04/2026 18:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá bước đầu thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tội phạm mua bán người

Tóm tắt: Tội phạm mua bán người là tội phạm nguy hiểm, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, nặng nề cho gia đình nạn nhân. Thời gian gần đây, tình hình tội phạm này ở nước ta diễn biến phức tạp, tinh vi, xảo quyệt, khó bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử. Một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đánh giá bước đầu thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tội phạm mua bán người.

Abstract: Crime of human trafficking are dangerous criminals cause more serious consequences for society burdensome for the victims' families. Recently the crime situation in our country is complicated sophisticated cunning difficult to detect the investigation prosecution trial. One of the causes of this condition are limited by shortcomings of the legal system. In this article we want to assess the initial situation Vietnam law on prevention of human trafficking crimes.


1. Những hạn chế, vướng mắc của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011[1]

Pháp luật về phòng, chống tội phạm mua bán người còn hạn chế, vướng mắc trong các quy định về tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực phòng, chống tội phạm mua bán người, cụ thể là:

Chương VI của Luật Phòng, chống mua bán người gồm 12 điều (từ Điều 41 đến Điều 52) quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tội phạm mua bán người; xác định cơ quan chủ trì, phối hợp trong phòng, chống tội phạm mua bán người và quy định về trách nhiệm của Chính phủ, của một số Bộ và địa phương trong phòng, chống tội phạm mua bán người. Theo đó, Luật giao cho Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống tội phạm mua bán người. Bộ Công an chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tội phạm mua bán người và giữ vai trò chủ trì trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người. Bộ Quốc phòng chủ trì công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người ở địa bàn khu vực biên giới, hải đảo và trên biển. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì trong công tác tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân, giúp họ hoà nhập cộng đồng (Điều 42, 43, 44 Luật Phòng, chống mua bán người). Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tội phạm mua bán người; phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người (Điều 51 Luật Phòng, chống mua bán người). Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của một số bộ, ngành và địa phương trong phòng, chống tội phạm mua bán người, đặc biệt là các Bộ quản lý nhà nước đối với những lĩnh vực nhạy cảm, dễ có nguy cơ bị lợi dụng để mua bán người như: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông... (Điều 47, 48, 49, 50 Luật Phòng, chống mua bán người).

Việc có quá nhiều cơ quan, tổ chức quản lý nhà nước cùng thực hiện chức năng liên quan đến phòng, chống tội phạm mua bán người, với nhiều chức năng quản lý khác nhau dẫn tới việc chồng chéo, thực hiện không hiệu quả; một số cơ quan, tổ chức không thực hiện hết chức trách nhiệm vụ đã ảnh hướng đến công tác triển khai thực hiện việc phòng, chống tội phạm mua bán người. Mặt khác, thời gian qua, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa thật chặt chẽ, không tạo được mối liên kết giữa các đơn vị, cơ chế phối hợp trao đổi thông tin còn hạn chế dẫn đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này không cao.

2. Những hạn chế, vướng mắc của Bộ luật Hình sự năm 1999 về phòng, chống tội phạm mua bán người[2]

Thực tế, đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người cho thấy, thủ đoạn mà tội phạm sử dụng rất xảo quyệt và thường xuyên thay đổi như: Sử dụng thủ đoạn “giả vờ yêu”, thậm chí cho người đến “xin cưới” để làm tin, sau đó rủ nạn nhân đi chơi rồi bán nạn nhân ra nước ngoài... Thực tiễn cũng cho thấy, nhiều đối tượng đã sử dụng các thủ đoạn xảo quyệt khác để che giấu hành vi mua bán người, mua bán trẻ em của mình như: Che giấu dưới hình thức môi giới cho nhận con nuôi, kết hôn với người nước ngoài, đưa người đi xuất khẩu lao động… Gần đây xuất hiện các thủ đoạn mới như: Lên mạng Internet tìm kiếm, dụ dỗ các đối tượng để bán sang nước ngoài, đưa nạn nhân ra nước ngoài trá hình bằng cách làm visa du lịch ngắn ngày... Các đường dây tội phạm có nhiều biện pháp tinh vi, hoạt động đảm bảo bí mật theo kiểu “một biết một” nên rất khó tìm ra kẻ chủ mưu. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa quy định tình tiết dùng thủ đoạn xảo quyệt trong tội mua bán người và mua bán trẻ em là tình tiết định khung tăng nặng nên chưa nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em trước những thủ đoạn phạm tội mới.

Theo Điều 3 của Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người[3], đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em bổ sung cho Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên Hợp quốc thì nạn nhân của buôn bán người là người (phụ nữ, trẻ em, nam giới) bị những người phạm tội tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận vì mục đích bóc lột, bằng phương thức đe dọa, sử dụng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác. Riêng đối với trẻ em thì không cần tính đến các phương thức thực hiện của người phạm tội. Pháp luật Việt Nam hiện nay đã có khái niệm chính thức về nạn nhân của tội phạm mua bán người. Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài trở về nước thì: Nạn nhân được hiểu là phụ nữ, trẻ em bị một hay nhóm người sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hay những hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương để mua bán (giao nhận tiền hoặc giao nhận một lợi ích vật chất khác) đưa ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng chế, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ hoặc lấy đi các bộ phận cơ thể). Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này cũng không còn phù hợp vì nạn nhân không chỉ là phụ nữ, trẻ em mà còn cả nam giới trong các vụ án mua bán người. Chính vì vậy, tại Điều 2 Luật Phòng, chống mua bán người đã đưa ra khái niệm: “Nạn nhận là người bị xâm hại bởi hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 3 của Luật này”.

Thực tế đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em thời gian qua cho thấy, đã có nhiều trường hợp người phạm tội lừa dối hoặc cưỡng ép bán người thân thích của mình cho người khác. Hành vi phạm tội bán người thân thích của mình đã gây căm phẫn trong dư luận xã hội và đòi hỏi cần phải có sự trừng phạt nghiêm khắc, tuy nhiên tội mua bán người, tội mua bán trẻ em hiện hành chưa quy định đây là tình tiết định khung tăng nặng.

Hình thức xử phạt các đối tượng mua bán người vẫn chưa nghiêm, chưa đủ răn đe đối tượng. Trong đó quy định về khung hình phạt đối với tội mua bán người và tội mua bán trẻ em có khoảng cách quá rộng, mức tối thiểu của khung hình phạt quá thấp. Trong tội mua bán người thì khung 1 (khung cơ bản) có mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm; khung 2 (khung tăng nặng) có mức phạt tù từ 5 năm đến 20 năm. Đối với tội mua bán trẻ em thì khung 1 có mức phạt tù từ 3 đến 10 năm; khung 2 có mức phạt tù từ 5 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Những quy định này chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của loại tội phạm mua bán người, chưa phân hóa rõ ràng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đối với hình phạt bổ sung quy định đối với tội mua bán người và tội mua bán trẻ em cũng tồn tại những vấn đề bất cập, chưa góp phần nâng cao hiệu quả của hình phạt. Cụ thể, chỉ trừ phạt tiền và quản chế được quy định cho cả hai tội, còn cấm cư trú chỉ quy định đối với tội mua bán người mà không được quy định đối với tội mua bán trẻ em; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định chỉ được quy định đối với tội mua bán trẻ em mà không được quy định đối với tội mua bán người. Mức phạt tiền trong hai tội được quy định giống nhau là từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, đây là mức phạt được quy định từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, đến nay đã tỏ ra không còn phù hợp với sự thay đổi về giá trị đồng tiền. Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành đã phần nào khắc phục các điểm hạn chế này.

Khung hình phạt của tội mua bán người, mua bán trẻ em có khoảng cách quá rộng và mức tối thiểu của khung hình phạt lại quá thấp dẫn đến việc áp dụng chưa thống nhất giữa các tòa và chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này, chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với người phạm tội, chưa đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm và đòi hỏi của xã hội, bởi lẽ, hậu quả của tội mua bán người, mua bán trẻ em không chỉ đơn thuần làm cho người bị mua bán bị xâm hại về danh dự, nhân phẩm mà họ còn có thể bị xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, gây ra nỗi đau tột cùng, dai dẳng cho người thân của người bị mua bán, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

3. Những hạn chế, vướng mắc của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về phòng, chống tội phạm mua bán người[4]

Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo vệ người bị hại, nhân chứng và người tham gia tố tụng khác, quyền yêu cầu xét xử kín của một số người tham gia tố tụng trong một số trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ dừng ở mức nguyên tắc và chưa đầy đủ, chưa được hướng dẫn cụ thể, vì vậy trên thực tế việc vận dụng các quy định này của một số cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án mua bán người chưa thống nhất, điều đó đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng và hiệu quả xử lý vụ án mua bán người của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Hầu hết các trường hợp mà nạn nhân bị người phạm tội bán ra nước ngoài, thân nhân của họ phải chi phí để tìm kiếm, thậm chí còn phải trả khoản “tiền chuộc” với giá trị lớn mới đưa được người bị hại trở về Việt Nam, nhưng khi họ yêu cầu đòi bồi thường thì các Toà án cũng gặp khó khăn vì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về mức bồi thường đối với các trường hợp này.

Trong những năm qua, việc hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng ngày càng được tăng cường. Việt Nam đã tham gia nhiều công ước, điều ước quốc tế có liên quan, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương; đã có nhiều hoạt động phối hợp tích cực với các nước láng giềng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới. Tuy nhiên, việc hợp tác này vẫn còn hạn chế, nhiều hoạt động mang tính nhỏ lẻ, phân tán, chưa tập trung, còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, dẫn đến chỉ giải quyết được "phần ngọn", hầu hết các vụ mua bán người có yếu tố nước ngoài thời gian qua đều không có điều kiện xác minh, bắt giữ, xử lý phần đường dây ở nước ngoài, nhiều vụ án không xử lý được triệt để mà phải tạm đình chỉ, đình chỉ phần liên quan đến nước ngoài.

Hiện nay, Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp ước song phương với một số nước lân cận về phối hợp phòng, chống tội phạm mua bán người như: Lào, Campuchia, Trung Quốc... và những Hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều quốc gia trên thế giới. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc hợp tác phòng, chống tội phạm mua bán người, hỗ trợ cho các nạn nhân bị mua bán. Tuy nhiên, so với tình hình tội phạm và sự phát triển của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì hệ thống pháp luật cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện.

4. Những hạn chế, vướng mắc của các chế tài hành chính về phòng, chống mua bán người

Tính nghiêm khắc trong các chế tài hành chính về phòng, chống mua bán người còn rất hạn chế. Một thời gian dài mức phạt cho hành vi môi giới kết hôn bất hợp pháp chỉ từ 3-5 triệu đồng nên không đủ tính răn đe. Ngày 23/7/2009, Chính phủ ban hành Nghị định 60/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp theo đó mức xử phạt đối với hành vi này đã được tăng lên từ 10-20 triệu đồng hay tại khoản 3 Điều 12 của Nghị định này quy định mức xử phạt đối với các Trung tâm hỗ trợ kết hôn chỉ từ 5-10 triệu đồng hoặc Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình quy định mức phạt cho hành vi môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật chỉ bị xử phạt từ 5-10 triệu đồng. Với các mức phạt này sẽ không đảm bảo tính răn đe vì mức thu lợi nhuận của các hành vi này là rất lớn như một số vụ án mà thời gian qua đã khám phá thì mức xử phạt hành chính này chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà hành vi vi phạm gây ra.

TS. Đỗ Đức Hồng Hà

Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khóa XIV

ThS. Nguyễn Mai Trâm





Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2013), Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

2. Liên hợp quốc (2000), Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người.

3. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự năm 1999.

4. Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự năm 2015.

5. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

6. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

7. Quốc hội (2011), Luật Phòng, chống mua bán người.

8. Tòa án nhân dân tối cao (2013), Tài liệu tập huấn nghiệp vụ năm 2013, Chuyên đề 2: Luật Phòng, chống mua bán người và thực tiễn xét xử các tội liên quan đến mua bán người.


[1] Xem thêm: Quốc hội (2011), Luật Phòng, chống mua bán người.

[2] Xem thêm: Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự năm 1999.

[3] Xem thêm: Liên Hợp quốc (2000), Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người.

[4] Xem thêm: Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: