Thứ hai 09/03/2026 06:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá bước đầu thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tội phạm mua bán người

Tóm tắt: Tội phạm mua bán người là tội phạm nguy hiểm, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, nặng nề cho gia đình nạn nhân. Thời gian gần đây, tình hình tội phạm này ở nước ta diễn biến phức tạp, tinh vi, xảo quyệt, khó bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử. Một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đánh giá bước đầu thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tội phạm mua bán người.

Abstract: Crime of human trafficking are dangerous criminals cause more serious consequences for society burdensome for the victims' families. Recently the crime situation in our country is complicated sophisticated cunning difficult to detect the investigation prosecution trial. One of the causes of this condition are limited by shortcomings of the legal system. In this article we want to assess the initial situation Vietnam law on prevention of human trafficking crimes.


1. Những hạn chế, vướng mắc của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011[1]

Pháp luật về phòng, chống tội phạm mua bán người còn hạn chế, vướng mắc trong các quy định về tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực phòng, chống tội phạm mua bán người, cụ thể là:

Chương VI của Luật Phòng, chống mua bán người gồm 12 điều (từ Điều 41 đến Điều 52) quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tội phạm mua bán người; xác định cơ quan chủ trì, phối hợp trong phòng, chống tội phạm mua bán người và quy định về trách nhiệm của Chính phủ, của một số Bộ và địa phương trong phòng, chống tội phạm mua bán người. Theo đó, Luật giao cho Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống tội phạm mua bán người. Bộ Công an chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tội phạm mua bán người và giữ vai trò chủ trì trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người. Bộ Quốc phòng chủ trì công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người ở địa bàn khu vực biên giới, hải đảo và trên biển. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì trong công tác tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân, giúp họ hoà nhập cộng đồng (Điều 42, 43, 44 Luật Phòng, chống mua bán người). Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tội phạm mua bán người; phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người (Điều 51 Luật Phòng, chống mua bán người). Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của một số bộ, ngành và địa phương trong phòng, chống tội phạm mua bán người, đặc biệt là các Bộ quản lý nhà nước đối với những lĩnh vực nhạy cảm, dễ có nguy cơ bị lợi dụng để mua bán người như: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông... (Điều 47, 48, 49, 50 Luật Phòng, chống mua bán người).

Việc có quá nhiều cơ quan, tổ chức quản lý nhà nước cùng thực hiện chức năng liên quan đến phòng, chống tội phạm mua bán người, với nhiều chức năng quản lý khác nhau dẫn tới việc chồng chéo, thực hiện không hiệu quả; một số cơ quan, tổ chức không thực hiện hết chức trách nhiệm vụ đã ảnh hướng đến công tác triển khai thực hiện việc phòng, chống tội phạm mua bán người. Mặt khác, thời gian qua, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa thật chặt chẽ, không tạo được mối liên kết giữa các đơn vị, cơ chế phối hợp trao đổi thông tin còn hạn chế dẫn đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này không cao.

2. Những hạn chế, vướng mắc của Bộ luật Hình sự năm 1999 về phòng, chống tội phạm mua bán người[2]

Thực tế, đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người cho thấy, thủ đoạn mà tội phạm sử dụng rất xảo quyệt và thường xuyên thay đổi như: Sử dụng thủ đoạn “giả vờ yêu”, thậm chí cho người đến “xin cưới” để làm tin, sau đó rủ nạn nhân đi chơi rồi bán nạn nhân ra nước ngoài... Thực tiễn cũng cho thấy, nhiều đối tượng đã sử dụng các thủ đoạn xảo quyệt khác để che giấu hành vi mua bán người, mua bán trẻ em của mình như: Che giấu dưới hình thức môi giới cho nhận con nuôi, kết hôn với người nước ngoài, đưa người đi xuất khẩu lao động… Gần đây xuất hiện các thủ đoạn mới như: Lên mạng Internet tìm kiếm, dụ dỗ các đối tượng để bán sang nước ngoài, đưa nạn nhân ra nước ngoài trá hình bằng cách làm visa du lịch ngắn ngày... Các đường dây tội phạm có nhiều biện pháp tinh vi, hoạt động đảm bảo bí mật theo kiểu “một biết một” nên rất khó tìm ra kẻ chủ mưu. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa quy định tình tiết dùng thủ đoạn xảo quyệt trong tội mua bán người và mua bán trẻ em là tình tiết định khung tăng nặng nên chưa nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em trước những thủ đoạn phạm tội mới.

Theo Điều 3 của Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người[3], đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em bổ sung cho Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên Hợp quốc thì nạn nhân của buôn bán người là người (phụ nữ, trẻ em, nam giới) bị những người phạm tội tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận vì mục đích bóc lột, bằng phương thức đe dọa, sử dụng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác. Riêng đối với trẻ em thì không cần tính đến các phương thức thực hiện của người phạm tội. Pháp luật Việt Nam hiện nay đã có khái niệm chính thức về nạn nhân của tội phạm mua bán người. Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài trở về nước thì: Nạn nhân được hiểu là phụ nữ, trẻ em bị một hay nhóm người sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hay những hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương để mua bán (giao nhận tiền hoặc giao nhận một lợi ích vật chất khác) đưa ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng chế, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ hoặc lấy đi các bộ phận cơ thể). Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này cũng không còn phù hợp vì nạn nhân không chỉ là phụ nữ, trẻ em mà còn cả nam giới trong các vụ án mua bán người. Chính vì vậy, tại Điều 2 Luật Phòng, chống mua bán người đã đưa ra khái niệm: “Nạn nhận là người bị xâm hại bởi hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 3 của Luật này”.

Thực tế đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, mua bán trẻ em thời gian qua cho thấy, đã có nhiều trường hợp người phạm tội lừa dối hoặc cưỡng ép bán người thân thích của mình cho người khác. Hành vi phạm tội bán người thân thích của mình đã gây căm phẫn trong dư luận xã hội và đòi hỏi cần phải có sự trừng phạt nghiêm khắc, tuy nhiên tội mua bán người, tội mua bán trẻ em hiện hành chưa quy định đây là tình tiết định khung tăng nặng.

Hình thức xử phạt các đối tượng mua bán người vẫn chưa nghiêm, chưa đủ răn đe đối tượng. Trong đó quy định về khung hình phạt đối với tội mua bán người và tội mua bán trẻ em có khoảng cách quá rộng, mức tối thiểu của khung hình phạt quá thấp. Trong tội mua bán người thì khung 1 (khung cơ bản) có mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm; khung 2 (khung tăng nặng) có mức phạt tù từ 5 năm đến 20 năm. Đối với tội mua bán trẻ em thì khung 1 có mức phạt tù từ 3 đến 10 năm; khung 2 có mức phạt tù từ 5 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Những quy định này chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của loại tội phạm mua bán người, chưa phân hóa rõ ràng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đối với hình phạt bổ sung quy định đối với tội mua bán người và tội mua bán trẻ em cũng tồn tại những vấn đề bất cập, chưa góp phần nâng cao hiệu quả của hình phạt. Cụ thể, chỉ trừ phạt tiền và quản chế được quy định cho cả hai tội, còn cấm cư trú chỉ quy định đối với tội mua bán người mà không được quy định đối với tội mua bán trẻ em; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định chỉ được quy định đối với tội mua bán trẻ em mà không được quy định đối với tội mua bán người. Mức phạt tiền trong hai tội được quy định giống nhau là từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, đây là mức phạt được quy định từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, đến nay đã tỏ ra không còn phù hợp với sự thay đổi về giá trị đồng tiền. Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành đã phần nào khắc phục các điểm hạn chế này.

Khung hình phạt của tội mua bán người, mua bán trẻ em có khoảng cách quá rộng và mức tối thiểu của khung hình phạt lại quá thấp dẫn đến việc áp dụng chưa thống nhất giữa các tòa và chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này, chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với người phạm tội, chưa đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm và đòi hỏi của xã hội, bởi lẽ, hậu quả của tội mua bán người, mua bán trẻ em không chỉ đơn thuần làm cho người bị mua bán bị xâm hại về danh dự, nhân phẩm mà họ còn có thể bị xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, gây ra nỗi đau tột cùng, dai dẳng cho người thân của người bị mua bán, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

3. Những hạn chế, vướng mắc của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về phòng, chống tội phạm mua bán người[4]

Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo vệ người bị hại, nhân chứng và người tham gia tố tụng khác, quyền yêu cầu xét xử kín của một số người tham gia tố tụng trong một số trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ dừng ở mức nguyên tắc và chưa đầy đủ, chưa được hướng dẫn cụ thể, vì vậy trên thực tế việc vận dụng các quy định này của một số cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án mua bán người chưa thống nhất, điều đó đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng và hiệu quả xử lý vụ án mua bán người của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Hầu hết các trường hợp mà nạn nhân bị người phạm tội bán ra nước ngoài, thân nhân của họ phải chi phí để tìm kiếm, thậm chí còn phải trả khoản “tiền chuộc” với giá trị lớn mới đưa được người bị hại trở về Việt Nam, nhưng khi họ yêu cầu đòi bồi thường thì các Toà án cũng gặp khó khăn vì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về mức bồi thường đối với các trường hợp này.

Trong những năm qua, việc hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm mua bán người nói riêng ngày càng được tăng cường. Việt Nam đã tham gia nhiều công ước, điều ước quốc tế có liên quan, ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương; đã có nhiều hoạt động phối hợp tích cực với các nước láng giềng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới. Tuy nhiên, việc hợp tác này vẫn còn hạn chế, nhiều hoạt động mang tính nhỏ lẻ, phân tán, chưa tập trung, còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, dẫn đến chỉ giải quyết được "phần ngọn", hầu hết các vụ mua bán người có yếu tố nước ngoài thời gian qua đều không có điều kiện xác minh, bắt giữ, xử lý phần đường dây ở nước ngoài, nhiều vụ án không xử lý được triệt để mà phải tạm đình chỉ, đình chỉ phần liên quan đến nước ngoài.

Hiện nay, Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp ước song phương với một số nước lân cận về phối hợp phòng, chống tội phạm mua bán người như: Lào, Campuchia, Trung Quốc... và những Hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều quốc gia trên thế giới. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc hợp tác phòng, chống tội phạm mua bán người, hỗ trợ cho các nạn nhân bị mua bán. Tuy nhiên, so với tình hình tội phạm và sự phát triển của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì hệ thống pháp luật cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện.

4. Những hạn chế, vướng mắc của các chế tài hành chính về phòng, chống mua bán người

Tính nghiêm khắc trong các chế tài hành chính về phòng, chống mua bán người còn rất hạn chế. Một thời gian dài mức phạt cho hành vi môi giới kết hôn bất hợp pháp chỉ từ 3-5 triệu đồng nên không đủ tính răn đe. Ngày 23/7/2009, Chính phủ ban hành Nghị định 60/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp theo đó mức xử phạt đối với hành vi này đã được tăng lên từ 10-20 triệu đồng hay tại khoản 3 Điều 12 của Nghị định này quy định mức xử phạt đối với các Trung tâm hỗ trợ kết hôn chỉ từ 5-10 triệu đồng hoặc Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình quy định mức phạt cho hành vi môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật chỉ bị xử phạt từ 5-10 triệu đồng. Với các mức phạt này sẽ không đảm bảo tính răn đe vì mức thu lợi nhuận của các hành vi này là rất lớn như một số vụ án mà thời gian qua đã khám phá thì mức xử phạt hành chính này chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà hành vi vi phạm gây ra.

TS. Đỗ Đức Hồng Hà

Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khóa XIV

ThS. Nguyễn Mai Trâm





Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2013), Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

2. Liên hợp quốc (2000), Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người.

3. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự năm 1999.

4. Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự năm 2015.

5. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

6. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

7. Quốc hội (2011), Luật Phòng, chống mua bán người.

8. Tòa án nhân dân tối cao (2013), Tài liệu tập huấn nghiệp vụ năm 2013, Chuyên đề 2: Luật Phòng, chống mua bán người và thực tiễn xét xử các tội liên quan đến mua bán người.


[1] Xem thêm: Quốc hội (2011), Luật Phòng, chống mua bán người.

[2] Xem thêm: Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự năm 1999.

[3] Xem thêm: Liên Hợp quốc (2000), Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người.

[4] Xem thêm: Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: