Thứ ba 22/09/2026 10:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đặt tên cho con - Dễ mà khó!

Lựa chọn tên và đặt tên cho con không chỉ là niềm vui, niềm hạnh phúc của những bậc làm cha, làm mẹ mà còn là việc thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ pháp lý của công dân. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế đã có những tác động tích cực lẫn tiêu cực vào cách suy nghĩ, lối sống của một bộ phận người Việt. Điều này đã dẫn đến việc các bậc làm cha làm mẹ đã lựa chọn những cái tên rất độc đáo, rất lạ thậm chí là “tây hóa” để con mình trở nên khác biệt so với phần còn lại.

Có thể lấy ví dụ về những cái tên thu hút sự chú ý của dư luận trong thời gian qua như[1]:

- Gia đình 3 chị em ở TP. Hồ Chí Minh: Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân; Lê Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhàn; Lê Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Linh Phượng.

- Chị Đào Thị Long Lanh Kim Ánh Dương (trú tại xóm 6, xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) là người có tên dài nhất tỉnh Thái Nguyên.

- Tháng 9/2018, cư dân mạng được phen “cười ra nước mắt” khi nghe chàng trai Mai Văn Cơn (23 tuổi, Bắc Giang) kể về “nguồn gốc” cái tên của chính mình. Cậu cho biết tên mình không quá đặc biệt cũng không lạ. Nhưng câu chuyện đằng sau nó lại khiến bao người không thể ngờ. Theo đó, bố Cơn đã chống lại cả dòng họ, bất chấp dư luận để đặt tên con trai ruột là Mai Văn Cơn vì ông hâm mộ ngôi sao Michael Jackson. Ông thích cái tên này đến mức chấp nhận để con mang họ “Mai” dù ông họ “Nguyễn”. Hồi nhỏ, Cơn nhiều lần cảm thấy lạc lõng và tủi thân khi mang cái tên quá lạ. Đặc biệt, nó còn không có mối liên hệ gì đến những người thân trong gia đình. Nhưng càng lớn, chàng trai càng yêu thích và muốn “khoe” bởi đó chính là một phần tạo nên sự khác biệt của con người anh!

Việc đặt tên cho con như trên trong suy nghĩ của nhiều người đặc biệt là các bậc làm cha, làm mẹ cho rằng đó là một việc làm hết sức bình thường bởi đó là quyền của công dân là việc riêng của mỗi gia đình. Tuy nhiên, về bản chất việc đặt tên cho trẻ em không hề đơn giản bởi tên riêng cũng có những sự tác động, ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của trẻ cả về nhân cách, suy nghĩ và cuộc sống sau này. Đồng thời, việc đặt tên cũng có những sự ràng buộc về mặt pháp lý. Cụ thể, ngày 28/5/2020, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch (Thông tư số 04/2020/TT-BTP). Theo đó, nội dung khai sinh cho con được hướng dẫn cụ thể như sau:

- Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng.

- Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ.

Qua đó có thể thấy rằng, việc đặt tên cho trẻ chứa đựng những nguyên tắc pháp lý và văn hóa người Việt hết sức sâu sắc:

Đặt tên cho con phải tôn trọng thuần phong, mỹ tục của dân tộc và tôn trọng quy định của pháp luật

Việc đặt tên cho con gồm quá nhiều ký tự hoặc dùng chữ số, ký hiệu hay mang ý nghĩa tiêu cực không chỉ liên quan đến văn hóa, phong tục truyền thống của người Việt mà còn liên quan đến luật pháp của quốc gia. Các bậc làm cha, làm mẹ cần nhớ rằng không phải “đây là con tôi, nên tôi có quyền thích đặt tên cho con là gì thì tôi đặt”. Việc đặt tên cho con không chỉ là chuyện riêng của mỗi gia đình mà còn liên quan đến luật pháp, trình tự quản lý đăng ký tên. Cha mẹ đặt tên cho con, đồng thời, phải thực hiện việc khai sinh cho con tại các cơ quan chức năng thì khi đó tên con mới có hiệu lực về mặt pháp luật. Do đó, quan hệ pháp luật phát sinh qua việc đặt tên cho con chính là mối quan hệ giữa con, bố mẹ và cơ quan quản lý nhà nước. Điều 26, 27, 28 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có); có quyền thay đổi họ, tên của mình theo quy định. Tuy nhiên, việc đặt tên chỉ bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng.

Quan điểm xuyên suốt về việc đặt tên cho con được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014; Thông tư số 04/2020/TT-BTP đó là ngăn chặn sự nhầm lẫn về danh tính cá nhân, do đó quyền này được xếp vào quyền nhân thân (quyền cá nhân, quyền nhận dạng cá nhân). Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường, chức năng xác định cụ thể của tên gọi đã thể hiện đầy đủ rằng nó có thể có giá trị thương mại rất lớn. Ví dụ: Thương hiệu CR7 của cầu thủ Cristiano Ronaldo; thương hiệu Beckham của cầu thủ David Beckham… Trong thực tế, các trường hợp xâm phạm quyền nhận dạng cá nhân này đã xảy ra, điển hình là sự việc siêu sao bóng rổ Mỹ Michael Jordan đã kiện một nhãn hiệu thể thao tên là Qiaodan Sports về hành vi xâm phạm nhãn hiệu quyền tên của anh trong vụ án gây sự chú ý của dư luận. Sau 08 năm, Tòa án Tối cao Trung Quốc đã đưa ra phán quyết cuối cùng là cấm thương hiệu thể thao Qiaodan có trụ sở tại Phúc Kiến sử dụng bản dịch tiếng Trung của tên Michael Jordan là Qiao Dan[2].

Tên của con chính là mốc khởi đầu của phẩm giá con người

Nhìn vào quy định của pháp luật nước ta điều chỉnh về đặt tên cho con khó có thể thấy được mối quan hệ phức tạp phát sinh từ tên gọi nếu họ không thật sự để tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Tên của con cái trước hết xuất phát từ bố mẹ, ông bà và đại gia đình, đồng thời, tên gọi cũng là phương tiện để duy trì các mối quan hệ xã hội; bao hàm nhiều mối quan hệ pháp lý như: Bố, mẹ - con cái; quan hệ hôn nhân và gia đình; quốc tịch; dân tộc… Xuất phát từ những nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong việc đặt tên cho con và quy định của pháp luật. Việc đặt tên cho con còn mang hàm ý sâu xa là mốc khởi đầu của phẩm giá con người bởi:

Thứ nhất, gia đình là nền tảng then chốt cho sự trưởng thành của mỗi cá nhân và sợi dây vô hình liên kết những cá nhân này lại với nhau chính là họ vì đây là sự thể hiện không chỉ về mặt huyết thống của gia đình mà còn là truyền thống, nề nếp, gia phong của một dòng họ. Ở hầu hết các quốc gia hiện nay, với tư cách là một phần quan trọng của gia đình, họ cũng là một hệ thống pháp luật. Họ của con cái không phải do cha mẹ tự do lựa chọn mà do Hiến pháp và pháp luật quy định. Chính sợi dây vô hình đó sẽ định hình cho bố mẹ, con cái tiếp nối những giá trị tốt đẹp mà các đời ông cha đi trước gìn giữ lưu truyền cho các thế hệ sau.

Thứ hai, trẻ sơ sinh không chỉ cần sự che chở, chăm sóc đến từ bố mẹ, gia đình mà còn cần sự bảo vệ hợp pháp về phẩm giá cá nhân của mình. Tên riêng của mỗi người là một phần của tính cách, là phương tiện đại diện cho người đó tham gia vào các quan hệ xã hội do đó điểm then chốt ở đây không phải nằm ở cái tên đó hay ra sao, độc đáo gây sự chú ý như thế nào mà nằm ở sự ổn định, Nghĩa là tên đó phải được theo họ cha hoặc mẹ đăng ký vào giấy khai sinh ở các cơ quan chức năng và trở thành thành viên hợp pháp của gia đình. Một đứa trẻ khi sinh ra cần có một xuất phát điểm ổn định và vững chắc để có thể phát triển trở thành một con người có đức - có tài. Đây là trách nhiệm của các bậc làm cha làm mẹ và xuất phát điểm đầu tiền chính là đặt tên cho con.

Thay đổi tên vừa là quyền tự do cá nhân, vừa phải tuân thủ quy định của pháp luật

Trong cuộc sống của xã hội hiện đại, không ít trường hợp người dân có nhu cầu đổi tên của mình với nhiều lý do khác nhau như: Sở thích cá nhân; thuận tiện hơn trong các giao dịch điện tử; phục vụ công việc học tập… Hoạt động này được pháp luật bảo vệ. Bởi suy cho cùng, tên của mỗi người không chỉ thuộc về bố mẹ, ông bà và gia đình mà còn thuộc về chính bản thân mỗi người.

Với sự trưởng thành của mỗi cá nhân, một người sẽ tiếp tục có những mối quan hệ khác ngoài xã hội. Khi đó, tên của họ không chỉ đơn thuần là tên gọi mà có thể còn là một biểu tượng cá nhân, một thương hiệu riêng có thể được nhiều người biết đến. Tại thời điểm này, quy định của pháp luật thể hiện sự tôn trọng quyền riêng tư của mỗi người trong việc tự nguyện thay đổi tên khai sinh. Tuy nhiên, chúng ta cần phải biết rằng, việc đổi tên cũng phải quy định những quy định của pháp luật như không đặt tên quá dài; sử dụng các ký hiệu số, vi phạm thuần phong, mỹ tục…

Đặt tên cho con là một việc làm hết sức quan trọng, tên gọi đó chính là điểm khởi đầu cho phẩm giá cá nhân của trẻ đồng thời nó cũng là yếu tố giúp người lớn định hình lại nhân cách của mình cho phù hợp. Đây cũng chính là điểm khởi đầu để một công dân mới phát sinh quan hệ pháp luật với đất nước. Các cơ quan chức năng, các bậc cha mẹ cần nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về việc đăng ký tên, giới hạn phù hợp số lần được đổi tên nhằm tạo cơ sở pháp lý tốt hơn cho việc bảo vệ quyền đặt tên và nhân phẩm cá nhân.

Lại Kim Khánh

Học viện An ninh nhân dân


[1] https://kienthuc.net.vn/xa-hoi/bi-hai-nhung-cai-ten-dai-doc-la-nhat-viet-nam-1406140.html.

[2] https://thanhnien.vn/the-thao/toan-canh-the-thao/huyen-thoai-bong-ro-michael-jordan-thang-kien-hang-nhai-trung-quoc-113842.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: