Thứ hai 21/09/2026 14:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng: Từ góc nhìn pháp lý đến văn hóa

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng được Nhà nước quan tâm và nhân dân đồng tình ủng hộ đã và đang đạt được những kết quả quan trọng. Nhưng để phát huy hơn nữa trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần hoàn thiện về mặt thể chế, cũng như khắc phục những yếu tố tác động đến ứng xử trong đời sống để công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt kết quả cao hơn.

1. Quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng

1.1. Về thuật ngữ

“Tham nhũng” là một khái niệm, phản ánh một nhóm tội hoặc một loạt hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.

Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định về các hành vi tham nhũng: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. Ngoài ra, Luật quy định các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện.

Qua quy định trên cho thấy, có điểm trong Luật phản ánh một hành vi, như: “Tham ô tài sản”, “nhận hối lộ”… nhưng có điểm là tổ hợp hành vi, ví dụ: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi (điểm m khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018)…

Phân tích khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng cho thấy: Luật quy định 12 điểm, thì có 08 điểm “vụ lợi”, 01 điểm “trục lợi”, 03 điểm (a, b, c) là đương nhiên có “lợi”: Tham ô, nhận hối lộ, chiếm đoạt tài sản. Như vậy, việc nhận biết “lợi” là mấu chốt trong phòng, chống tham nhũng. Theo quy luật xã hội luôn vận động, vậy “lợi” cũng biến đổi, do vậy, trong mỗi giai đoạn đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần đặt đúng cái “lợi” mà hành vi tham nhũng hướng tới.

1.2. Các yếu tố cấu thành tội phạm đối với nhóm tội tham nhũng

Theo quy định của Bộ luật Hình sự[i], tại Chương XXIII các tội phạm về chức vụ, mục 1 các tội phạm tham nhũng quy định từ Điều 353 đến Điều 359 gồm các tội danh sau: Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358); Tội giả mạo trong công tác (Điều 359).

- Khách thể: Xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và các tổ chức kinh tế. Theo quy định, bằng hình thức hành động tội phạm tham nhũng làm hoạt động của các cơ quan, tổ chức thực hiện trái với quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, cá nhân, tổ chức. Pháp luật bảo vệ ở đây là hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, trật tự quản lý nhà nước.

- Mặt khách quan cấu thành tội phạm:Trên cơ sở pháp luật, hành vi cấu thành tội phạm nhóm tội tham nhũng là “hành động” phạm tội.

- Mặt chủ quan của cấu thành tội phạm: Dấu hiệu lỗi, các tội danh trong mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015) là lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Có nghĩa là, chủ thể phạm tội xác định được hành vi khi thực hiện và mong muốn đạt kết quả như dự liệu.

- Động cơ phạm tội: Động cơ là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm trong một số tội danh trong nhóm tội tham nhũng. Ví dụ: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân…” - Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Về chủ thể: Nhóm tội tham nhũng đa số là chủ thể đặc biệt (có chức vụ). Các dấu hiệu cấu thành tội phạm trong nhóm tội tham nhũng trong Bộ luật Hình sự phản ánh phù hợp với các dấu hiệu chủ thể phạm tội quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Ví dụ, khi xét xử “Tội nhận hối lộ” (Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015) với tình tiết phạm tội có tổ chức. Về mặt hình sự các bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về vai trò khác nhau trong vụ án, nhưng bị cáo thuộc diện “tham nhũng” theo luật Luật Phòng, chống tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn.

1.3. Về quan điểm chung

Do tính chất nghiêm trọng và mức độ ảnh hưởng ngày càng lan rộng của tham nhũng trong tổ chức bộ máy nhà nước, Liên Hợp quốc xác định là tội phạm có tính toàn cầu, đã thông qua Công ước chống tham nhũng (UNCAC)[ii], Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước này.

2. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Pháp luật phản ánh đời sống xã hội, khi xây dựng hệ thông pháp luật các yếu tố: Dân tộc, văn hóa, đạo đức, điều kiện kinh tế - xã hội, quan điểm… được tích hợp vào trong pháp luật trở thành quy phạm ứng xử chung cho các chủ thể, có hiệu lực trong toàn lãnh thổ. Trong đời sống, các yếu tố trên cũng tác động đến hành vi các chủ thể, xét cho cùng thì phản ánh chiều sâu văn hóa trong mỗi quốc gia - dân tộc.

2.1. Quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật còn chưa thống nhất

Trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng có thể xem Luật Phòng, chống tham nhũng là luật cơ sở, các luật khác như Bộ luật Hình sự, các văn bản luật tố tụng, Luật Cán bộ, công chức… là những luật được viện dẫn áp dụng. Các tội danh quy định tại Mục 1 (các tội phạm tham nhũng) Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015 và “các hành vi tham nhũng” quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng chưa thống nhất.

Về viện dẫn áp dụng luật, các điểm a đến điểm g khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 áp dụng phù hợp với các tội danh quy định từ Điều 353 đến Điều 359 Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm h khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 áp dụng phù hợp với các tội danh quy định tại Điều 364, Điều 365 Mục 2 (các tội phạm khác về chức vụ) Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm i khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 áp dụng tương đương tội danh quy định Điều 177 (tội sử dụng trái phép tài sản) Chương XVI (các tội xâm phạm sở hữu) Bộ luật Hình sự hiện hành; điểm k khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 chưa thể hiện cụ thể thành điều luật trong Bộ luật Hình sự hiện hành; đối với hai điểm l và điểm m Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 áp dụng với một số tội danh cấu thành tội phạm dưới hình thức không hành động phạm tội tại Chương XXIV (các tội xâm phạm hoạt động tư pháp) Bộ luật Hình sự hiện hành; khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã được quy định thành các tội danh trong Bộ luật Hình sự hiện hành.

Phân tích dưới góc độ viện dẫn áp dụng cho thấy: Các “hành vi tham nhũng” quy định tại Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và “các tội phạm tham nhũng” tại Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015 cần có sự điều chỉnh để áp dụng thống nhất. Trong đó, nội dung “không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” tại điểm l khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 là một “quy định mở” cần nghiên cứu áp dụng trong công tác xây dựng luật.

Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, đa số các tội danh quy định “hành động phạm tội”, chỉ 08/318 tội danh quy định “không hành động” phạm tội[iii]. Ví dụ: “Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng” (Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 2015), một số tội trong nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, như: Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 369 Bộ luật Hình sự năm 2015)

Ví dụ: Pháp luật quy định nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu “Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị” (khoản 1 Điều 10 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2019); tiêu chuẩn theo ngạch công chức;… đặt trường hợp lãnh đạo “không thực hiện” thì sẽ kéo theo rất nhiều yếu tố, trước tiên đó là của cơ quan, tiếp theo là hệ thống các cơ quan liên quan. Thực tiễn hoạt động giám sát của các cơ quan quyền lực đã phản ánh việc cơ quan chủ quản chưa hoàn thiện kịp thời các văn bản để xảy ra tình trạng sai phạm liên quan đến quản lý đất đai, tài sản công…

Giả thiết đặt ra, pháp luật bổ sung một số tội danh vào nhóm tội chức vụ cấu thành tội phạm dưới hình thức “không hành động” thì chứng minh hành vi phạm tội dựa trên nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động của cơ quan tham mưu và các văn bản luật, như Luật Cán bộ, công chức;… Bên cạnh nghiên cứu, bổ sung quy định trong Bộ luật Hình sự thì xem xét việc đánh giá cán bộ, công chức lãnh đạo trong thực hiện nhiệm vụ dưới hình thức “không hành động” như ví dụ trên đã chứng minh.

Đứng trước một hiện tượng vi phạm pháp luật mỗi cơ quan chức năng có cách tiếp cận: Trong mắt nhà quản lý có thể là ý thức pháp luật, trình độ dân trí,… để có biện pháp thực hiện; nhà lập pháp có một cách tiếp cận khác đó là đặt quy phạm pháp luật trong điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa… để bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản pháp luật mới để điều chỉnh; nhà khoa học luôn nhìn vấn đề ở mọi góc độ như trình độ lập pháp, tổ chức thi hành, công tác phổ biến giáo dục pháp luật, ý thức, trình độ dân trí… để có đề xuất phù hợp.

2.2. Về công tác tổ chức cán bộ

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tham nhũng cho thấy có hiện tượng các hiện tượng cục bộ, “bè cánh”, lợi ích… chi phối công tác tổ chức cán bộ địa phương[iv]. Nhiều trường hợp khi cấp trên yêu cầu, cấp dưới “đưa bài”[v] cho cấp trên chọn. Vì trước đó cấp dưới áp dụng quy trình loại ngay từ “vòng gửi xe” đối với những nguyên tố “liên kết yếu”.

Xét về lịch sử, các triều đại phong kiến hoạt động theo nguyên tắc “trung ương tập quyền”, chính quyền trung ương bổ nhiệm các quan đi cai trị các địa phương theo phẩm, cấp, tài năng. Nhưng hiện nay, tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc “… tập trung dân chủ” (khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013), pháp luật quy định quy trình chặt chẽ, nhưng việc thực hiện đôi khi không được như mong muốn, vẫn bị chi phối nhiều bởi ý chí của người có chức vụ, quyền hạn. Đây là một nội dung cần xem xét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

2.3. Về yếu tố văn hóa

Bằng chính cuộc sống người dân cũng đã nghiệm ra giá trị của lao động, tài sản công và Nhà nước luôn có chế tài bảo vệ giá trị lao động, tài sản công[vi]. Bên cạnh các quy định pháp luật, trong đời sống có các câu ca mang tính răn đe để bảo vệ tài sản công, việc nhũng nhiễu, lấy của đền, đình, chùa, miếu... đều bị báo ứng, như “của thiên trả địa”, “của trời trời lại lấy đi”... Đề cao các giá trị lao động “người sao của chiêm bao là vậy”, “có làm thì mới có ăn”…, để nhắc nhở mọi người về công sức, thành quả lao động hợp pháp.

Về văn hóa, mọi quan hệ trong đời sống người Việt Nam đều được đưa vào quan hệ gia đình, chào hỏi trong cơ quan (bác, chú, cô, gì, anh, chị, em, cháu, con…); đến các hiện tượng thiên nhiên thần bí “ông Trời”, “ông Địa”… bất cứ thứ gì “quá lớn” đều thể hiện trong quan hệ ngôn ngữ gia đình. Các ngôn ngữ khác, trong nước (ngôn ngữ các dân tộc) và nước ngoài (ngôn ngữ các quốc gia) thể hiện quan hệ xã hội theo ngôi, thứ, định vị rõ ràng. Thử đặt địa vị một người học tiếng Việt rất khó hình dung trong giao tiếp trong cơ quan nhà nước ở Việt Nam. Xét theo ngôn ngữ, Việt Nam là “gia đình”. Nét đẹp văn hóa trong giao tiếp cần duy trì, nhưng là điều cần cân nhắc trong áp dụng pháp luật.

Về mặt giao tiếp cho thấy, chính quan hệ đan xen giữa tình cảm và hành chính trong các quan hệ đời sống sẽ tác động rất nhiều trong hành xử của mỗi người. Mọi quan hệ trong đời sống xã hội đến công quyền tính “vị nể” rất cao. Thực tiễn tố tụng, nhiều bị can không nhận thức được hành vi đối với tội danh liên quan đến tham nhũng, do bị chi phối nhiều yếu tố, trong đó có đặt sự tin tưởng vào quan hệ “gia đình”. Ví dụ, vụ án Việt Á (đang trong quá trình tố tụng) cho thấy về mọi mặt từ phạm vi (địa phương, trung ương); trình độ (học hàm, học vị); cấp độ (lãnh đạo, đến nhân viên), tính chất… trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

2.4. Vai trò của các cơ quan áp dụng pháp luật

Ở góc độ nguyên nhân - kết quả, áp dụng pháp luật là mang tính “nhân quả”, có hành vi phạm tội thì sẽ chịu chế tài pháp luật. Nhưng trong trường hợp cụ thể, khi áp dụng cần xem xét thận trọng các yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi phạm tội, động cơ “vụ lợi”, mối quan hệ giữa các cá nhân… và các yếu tố khác tác động đến hành vi. Điều này liên quan trực tiếp đến áp dụng pháp luật trong công tác tư pháp.

Hoạt động tư pháp từ thủ tục hành chính, như: Đăng ký kết hôn, đăng ký khai sinh… đến hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân… đều liên quan đến trực tiếp đến quyền công dân, quyền con người mà các bản Hiến pháp Việt Nam đã ghi nhận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn những người làm công tác tư pháp: “Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác, là vấn đề ở đời và làm người”. Một cách hiểu đa chiều là ở đó có luân thường, đạo lý, tình cảm... và rất nhiều cung bậc cảm xúc. Về lý luận, khi truyền giảng về luật hình sự, giảng viên đề cập đến “niềm tin nội tâm của người thẩm phán”, điều này thể hiện phẩm chất của người áp dụng pháp luật, chứng minh bằng năng lực, trình độ, kinh nghiệm thực tiễn.

Theo các nhà lý luận thì tội phạm xảy ra trong những điều kiện nhất định, điều này dễ dàng thấy dưới góc độ triết học, nhà nước ban hành pháp luật là để duy trì trật tự xã hội, giáo dục mọi người, răn đe tội phạm; nhà quản lý giảm thiểu thiệt hại ít nhất về khách thể do bộ luật hình sự bảo vệ thì được coi là thành công lớn. Khác với tội phạm khác, tội tham nhũng thường xuất hiện vào giai đoạn phát triển của đất nước, do vậy cần có giải pháp đấu tranh tội phạm cho phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển.

3. Một số giải pháp trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Thứ nhất, tuân thủ triệt để các giải pháp mà Đảng đã đề ra. Công tác phòng, chống tham nhũng liên quan đến sự vững mạnh của bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy, các thiết chế của Đảng, Nhà nước liên quan đến việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần được củng cố và tăng cường. Trong thực hiện phải quán triệt đến đảng viên, lãnh đạo các cấp cho đến người thực thi công vụ đều phải tuyệt đối tuân thủ các giải pháp phòng, chống tham nhũng mà Đảng đã đề ra, áp dụng đúng các quy định và nguyên tắc pháp luật.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Về mặt khái niệm cần có sự điều chỉnh giữa các văn bản luật để đảm bảo sự thống nhất trong quy định và thực hiện, như: Thống nhất nội hàm khái niệm “tham nhũng” trong các văn bản luật quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 với quy định tại Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015. Vấn đề này cần thực hiện một số nội dung sau:

(i) Xem xét mở rộng nội hàm khái niệm “tham nhũng” quy định tại Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự hiện hành cho thống nhất với “các hành vi tham nhũng” quy định tại Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, như các hành vi liên quan đến chức vụ “đưa hối lộ, môi giới hối lộ…” (điểm h khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018); “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi” (điểm m khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018); “lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi” (điểm i khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018)…

(ii) Nghiên cứu, bổ sung quy định pháp luật theo hướng “không hành động”. Về lý luận, để bảo đảm áp dụng thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật cần có quy định “không hành động” đối với cấu thành tội phạm một số tội danh thuộc nhóm tội chức vụ, cũng như trong việc đánh giá thực hiện nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức lãnh đạo để phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Đây là hướng cần nghiên cứu, mở rộng đối với các quy định liên quan đến thực hiện đối với cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, tùy vào tính chất hành vi mà bổ sung vào nhóm tội chức vụ tại Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015; đồng thời xem xét, bổ sung đánh giá thực hiện nhiệm vụ theo hướng không hành động cho thống nhất với quy định “không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” (điểm l khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018).

(iii) Phổ biến, giáo dục pháp luật, đề cao đạo đức công vụ, các giá trị văn hóa trong đời sống. Nội dung này cần tiến hành thường xuyên, thực tiễn cho thấy để làm được điều này thì mỗi người cần tự nhận thức một phần, nhưng cần gắn với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong gia đình, cộng đồng cũng như cơ quan công tác. Đối với mỗi cơ quan cần xây dựng được hình ảnh lãnh đạo tạo hiệu ứng trong công tác đấu tranh phòng, phòng chống tham nhũng. Trong chính sách phổ biến giáo dục pháp luật thì cần có sự kết hợp với văn hóa truyền thống trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng là rất cần thiết.

(iv) Tránh hiện tượng cục bộ trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm. Công tác tổ chức bộ máy nhà nước phải nói là gần như hoàn thiện về pháp luật, quy trình và chỉ đạo thực hiện, nhưng thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng những năm gần đây cho thấy công tác cán bộ địa phương cần xem xét, nhất là trong khâu thực hiện ở địa phương, tránh hiện tượng “đưa bài” cho trung ương chọn trong các con bài địa phương, khi phát hiện vấn đề thì giải quyết theo hướng “sự đã rồi”.

(v) Minh bạch thu nhập. Vấn đề này được soi chiếu nhiều góc độ, như lương cho đội ngũ công chức nhà nước, thưởng cho đội ngũ cán bộ chuyên trách trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng… Ví dụ: Chuyển lương cho đội ngũ công chức địa phương có cần áp dụng kế toán của từng cơ quan, hay áp dụng chế độ hành chính quản trị chung cho địa phương… cũng là một vấn đề cần xem xét thực hiện trong minh bạch thu nhập.

Đề cao các giá trị lao động hợp pháp; hoàn thiện quy trình ban hành chính sách, trong đó chú trọng khâu đánh giá chính sách (phản biện trước ban hành và đánh giá, điều chỉnh kịp thời khi áp dụng).

Đấu tranh phòng, chống tội phạm là một nhiệm vụ phức tạp xét ở nhiều góc độ. Trong đó, đấu tranh phòng, chống tham nhũng yêu cầu ở mức độ cao hơn rất nhiều, xuất phát từ lợi ích, chủ thể phạm tội, trình độ, sự cấu kết, vị trí... Trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng để đạt kết quả cao hơn, cần thường xuyên rà soát, hoàn thiện pháp luật; áp dụng giải pháp đúng thời điểm; đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật… để phục vụ việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

ThS. Trần Đức Thú

Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai


[i] Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[ii] Công ước Liên Hợp quốc phòng chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption; viết tắt: UNCAC) đã được thông qua tại quốc ngày 31/10/2003 (Nghị quyết 58/4). Công ước có hiệu lực kể từ ngày 14/12/2005. Việt Nam phê chuẩn Công ước này ngày 03/7/2009.

[iii] Bộ luật Hình sự hiện hành quy định 426 điều: Trong đó 108 điều quy định chung và hiệu lực; 318 điều quy định tội danh (sửa đổi, bổ sung năm 2017: Bổ sung điều 217a, bãi bỏ Điều 292). Ngoài hai tội danh đã trích dẫn trên, một số tội danh không hành động phạm tội, như: Điều 333 - Tội không chấp hành lệnh gội quân nhân dự bị nhập ngũ; Điều 379 - Tội không thi hành án; Điều 380 - Tội không chấp hành án; Điều 390 - Tội không tố giác tội phạm; Điều 394 - Tội chống mệnh lệnh; Điều 417 - Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh.

[iv] Gia Lai: 4/5 Chủ tịch và Phó Chủ tịch cho thôi chức trong năm 2022.https://vietnamnet.vn/cuu-chu-tich-ubnd-tinh-gia-lai-vo-ngoc-thanh-nghi-huu-truoc-tuoi-2075767.html; https://vietnamnet.vn/cho-thoi-chuc-3-pho-chu-tich-tinh-gia-lai-2092417.html.

[v] Nguyên tắc 31, 48 Nguyên tắc chủ chốt của quyền lực, Nxb. Trẻ.

[vi] Quốc triều Hình luật, Viện Sử học Việt Nam, Nxb. Pháp lý năm 1991 (quy định trong các chương: Danh lệ, cấm vệ, quân chính, nhưng thể hiện nhiều trong chương Vi chế).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: